Đà Nẵng: Làng nghề truyền thống Non Nước - Tự hào là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

LNV - Làng đá Non Nước nằm dưới chân núi Ngũ Hành Sơn là làng nghề truyền thống nổi tiếng và lâu đời nhất của TP Đà Nẵng với các sản phẩm đá mỹ nghệ.
Theo người dân sinh sống lâu đời ở đây cho biết, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ ở Non Nước có cách đây gần bốn thế kỷ. Ông tổ của nghề này là một người quê gốc Thanh Hóa, tên là Huỳnh Bá Quát, người đã có công đem nghề đá ở xứ Thanh vào Đà Nẵng. Ban đầu, số người biết nghề làm đá không nhiều. Sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, như các loại cối giã gạo, cối xay ngũ cốc hoặc các bia mộ được khắc bằng đá. Rồi dần dần những sản phẩm mỹ nghệ bằng cẩm thạch từ chân núi Non Nước cứ chu du khắp nơi, làng đá mỹ nghệ Non Nước cũng từ đó mà nổi tiếng không ngừng.


Ngoài ra, cũng có một người thợ giỏi trong làng là ông Huỳnh Bá Triêm đã từng ra kinh đô Huế trang trí các lăng tẩm, cung đình. Ông đã học được cách làm bộ ấm chén trà bằng đá cẩm thạch đỏ – sản phẩm được xem là độc đáo, tinh xảo nhất của nghề đá mỹ nghệ Non Nước hồi đó. Nhưng nói về người đầu tiên dùng đá quý tạc tượng là phải nhắc đến nghệ nhân Nguyễn Chất, ông đã tạo tác hai pho tượng thờ ở động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn, đến nay vẫn ngày ngày được khách hành hương chiêm ngưỡng.


Thời chống Mỹ, gia đình ông Huỳnh Phước Thảo đã bí mật tổ chức cưa, xẻ, vận chuyển gần 200 phiến đá trắng, đỏ, cẩm thạch quý hiếm đưa ra xây Lăng Hồ Chủ tịch. Màu đỏ của cờ đỏ sao vàng ghép bằng đá trang trí trên lăng đến nay vẫn còn thắm tươi niềm tự hào của người làng đá Non Nước.

Sau ngày thống nhất đất nước, những người làm nghề điêu khắc đá tập hợp lại thành lập HTX Đá mỹ nghệ Non Nước, hoạt động trong suốt thập niên 80 thế kỷ trước. HTX lúc đó chỉ có 130 xã viên; trong đó thợ điêu khắc có 35 người, còn hầu hết là lao động phổ thông. Nguyên liệu được khai thác tại chỗ, sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống.


Sản phẩm mỹ nghệ lúc đó có kích thước nhỏ gọn, nghệ thuật điêu khắc độc đáo, nhưng số lượng chưa nhiều, chủ yếu là hàng gia dụng và vật lưu niệm phục vụ cho du khách trong nước và quốc tế mỗi khi tới Đà Nẵng. Nhưng giờ đây sản phẩm này có mặt khắp nơi trong nước mà còn xuất ra thế giới, chủ yếu qua một số thương nhân nước ngoài.

Ban đầu các vị tiền hiền khai sáng làng nghề còn dùng cái vồ như vồ ép dầu – nghề đá gọi là cái cui – làm bằng gỗ đồi mồi để đập đá. Còn bây giờ, thời buổi khoa học kỹ thuật hiện đại, tất cả các hộ đều sử dụng các loại máy cầm tay, năng suất lao động cứ thế mà vụt lên như tên lửa. Nhiều công đoạn, kỹ thuật chế tác như chạm lộng chẳng hạn, ngày trước thủ công gần như không làm được thì giờ đây, với trợ thủ đắc lực là máy cơ giới, tất cả đều được giải quyết tất tần tật.


Tuy nhiên, hệ quả tất yếu từ sự phát triển nhanh của làng nghề là vấn nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước uống do các hộ đều dùng a-xít để tẩy rửa và tạo độ bóng cho đá. Ngoài ra, bụi đá và tiếng ồn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Vì vậy, quận Ngũ Hành Sơn đã lập phương án di dời toàn bộ làng nghề tập trung tại tổ 17 khu vực Đông Trà, phường Hòa Hải, với quy mô 35,5ha.

Nghệ nhân chế tác đá đã truyền nghề qua nhiều thế hệ con cháu của họ. Dần dần nghề chế tác đá mỹ nghệ tại phường Hòa Hải đã trở thành nghề truyền thống. Nghề vừa mang ý nghĩa kinh tế, tham gia xóa đói giảm nghèo, đồng thời cũng có ý nghĩa về đời sống tinh thần, phản ánh bản sắc văn hóa truyền thống địa phương.

Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước ẩn chứa các lớp lịch sử, văn hóa trong từng công đoạn của nghề, trên từng sản phẩm, là bảo tàng sống về sinh hoạt văn hóa, đời sống tinh thần của người dân địa phương. Hiện nay, nghề này còn có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế – xã hội của cộng đồng, đã góp phần quan trọng vào sự dịch chuyển cơ cấu nông thôn, chuyển từ lao động giản đơn, năng suất thấp sang lao động có kỹ năng, năng suất cao. Nghề đã tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân…

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc sắc của nghề điêu khắc đá Non Nước, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa di sản văn hóa phi vật thể này vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghề thủ công truyền thống.

Theo Lê Gia Lộc

Sản phẩm điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước đa dạng về loại hình, phong phú về màu sắc, kích cỡ, chủng loại. Những sản phẩm có truyền thống lâu đời, gắn liền với sự phát triển của nghề chủ yếu có các loại sau:

– Sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt, như ấm chén, bát đĩa, bình cắm hoa, chân cột…

– Sản phẩm phục vụ đời sống tín ngưỡng, như bia mộ, tượng… Thợ điêu khắc đá Non Nước có tài làm hai loại tượng: tượng tròn và phù điêu, song phổ biến và sở trường vẫn là tượng tròn. Dạng tượng tròn gồm các nhóm sau:

+ Nhóm tượng tâm linh: tượng Phật, tượng La Hán, tượng Đức Mẹ và Chúa hài đồng…

+ Nhóm tượng Chăm: nghệ nhân điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước phục chế và chế tác tượng Chăm dưới dạng tượng tròn và phù điêu. Các tác phẩm này rất đa dạng, như: tượng chim thần, bò thần, rắn thần, tượng thần Siva, tượng Genesa, tượng vũ nữ, tượng makara hai đầu, các lá nhĩ phù điêu vũ nữ, biểu tượng linga, yoni…

+ Nhóm tượng trang trí: có hàng trăm mẫu mã và sản phẩm đủ kích cỡ nhưng chủ yếu là tượng động vật, trong đó có một số tượng gắn với đời sống tâm linh của người Việt, như: sư tử, cá chép trông trăng, rồng phun lửa, trâu, hổ… Bên cạnh đó, tượng tròn mang đề tài hiện đại được khai thác phục vụ nhu cầu của du khách, như: tượng chân dung thiếu nữ Việt Nam và phương Tây, tượng phỏng theo tượng của nước ngoài, tượng các nhà cách mạng, lãnh tụ…

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hàng vạn khán giả xếp hàng chờ “Tổ quốc trong tim” tại TP. HCM

Hàng vạn khán giả xếp hàng chờ “Tổ quốc trong tim” tại TP. HCM

Hàng vạn khán giả đã xếp hàng từ chiều 23/8 tại Khu đô thị Vạn Phúc, TP. HCM, để chờ vào sân khấu chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim”, diễn ra lúc 20 giờ cùng ngày.
Hội nhà báo Việt Nam tổ chức tọa đàm: Nhận diện rủi ro, bảo vệ đạo đức nghề báo

Hội nhà báo Việt Nam tổ chức tọa đàm: Nhận diện rủi ro, bảo vệ đạo đức nghề báo

(LNV )- Ngày 24/8, tại thành phố Hải Phòng, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí (Hội Nhà báo Việt Nam) tổ chức tọa đàm “Những điểm mới của Luật Báo chí và chế tài pháp lý:
Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

LNV -Sáng 22/8, tại Chùa Đại Bi, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc, xã Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, Nhân dân và du khách thập phương tham dự.
Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

LNV - Trường THPT Bạch Đằng (Hải Phòng) luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Nhà trường đã đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thành tích tại các k
Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng thành công tốt đẹp

Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng thành công tốt đẹp

LNV - Trong 02 ngày 21-22/8/2026, được sự nhất trí của Trung ương Hiệp hội Làng nghề Việt Nam; sự nhất trí của Đảng ủy, HĐND - UBND xã Sơn Đồng, Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng - Thành phố Hà Nội long trọng tổ chức Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động