Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 31°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 0°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 0°C Thừa Thiên Huế

Cách mạng 4.0 trong làng nghề: Từ nhận thức đến ứng dụng

LNV - Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát huy tác dụng tích cực như một xu thế tất yếu đến đời sống kinh tế-xã hội toàn cầu, trong đó có nước ta. Làng nghề chúng ta cần nắm bắt cơ hội này, ứng dụng có hiệu quả trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển làng nghề.
Thời gian qua, trên Tạp chí Làng nghề Việt Nam, đã có một số bài đề cập vấn đề ứng dụng Cách mạng 4.0 trong làng nghề. Những bài viết này cung cấp thêm một số kiến thức cơ bản để bạn đọc có thể hiểu vấn đề sâu và toàn diện hơn; Đồng thời, tập trung bàn về những biện pháp mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh và làng nghề chúng ta cần quan tâm trong ứng dụng.

CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA

Như chúng ta đã biết, Cách mạng 4.0 ứng dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… trong đó, “Chuyển đổi số” là một trong ba trụ cột chính (vật lý, công nghệ sinh học và kỹ thuật số), bảo đảm cho Cách mạng 4.0 phát huy tác dụng. Như vậy, “Chuyển đổi số” đã trở thành một xu thế tất yếu; Việc ứng dụng Cách mạng 4.0 phải bắt đầu từ chuyến đổi số. Đại hội XIII của Đảng đã quyết định: “Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”....”Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ”... “Chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số” (trích Báo cáo Chính trị Đại hội XIII).


Theo các nhà nghiên cứu, “Chuyển đổi số” là sự tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của một doanh nghiệp, tận dụng các công nghệ để thay đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho khách hàng. Cụ thể hơn, khái niệm “Chuyển đổi số” thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty. Trong thực tế, “Chuyển đổi số” không chỉ có vai trò quan trọng tại các doanh nghiệp mà chuyển đổi số còn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước.

Để thực hiện “Chuyển đổi số”, trước hết, phải “Số hóa”, tức là chuyển đổi các hệ thống giải pháp thông thường sang hệ thống kỹ thuật số (như chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính, số hóa truyền hình chuyển từ phát sóng analog sang phát sóng kỹ thuật số...). “Chuyển đổi số” là khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới hơn.

Có thể thấy ý nghĩa và tác dụng của chuyển đổi số. (i) Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích trong việc nâng cao sức cạnh tranh, như: Cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời, tối ưu hóa được năng suất làm việc của nhân viên... (ii) Đối với người dân, chuyển đổi số làm thay đổi cách sống, làm việc và giao dịch với nhau. (iii) Đối với nhà nước, chuyển đổi số dùng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi trải nghiệm người dùng với các dịch vụ do nhà nước cung cấp, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Ngày 6/1/2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phê duyệt Quyết định 06/QĐ-TTg về Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Một trong những nội dung quan trọng của Đề án là tới giai đoạn 2023-2025, 100% người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được định danh và xác thực điện tử thông suốt, hợp nhất trên tất các các hệ thống thông tin của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.


Chuyển đổi số được thực hiện trong các ngành kinh tế sẽ tạo điều kiện hình thành nền “Kinh tế số” của đất nước. Kinh tế số được hiểu là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; Sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng, …) mà công nghệ số được áp dụng. Kinh tế số cũng có những đóng góp có ý nghĩa trong sự hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi công nghệ toàn cầu..
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã sớm có nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi sang nền kinh tế số.
Ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tháng 8/2018, Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử được thành lập do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban. Tiếp theo là Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Đặc biệt là Quyết định số 749/2020/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định đến năm 2030, Việt Nam trở thành “Quốc gia số”; Đồng thời, đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; Năm 2030 chiếm 30% GDP.

Do ý nghĩa và tầm quan trọng của chuyển đổi số, ngày 22/4/2022, tại Quyết định số 505/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ngày 10/10 hàng năm là “Ngày Chuyển đổi số quốc gia” với 3 mục tiêu chính là: (i) Đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ về chuyển đổi số quốc gia; (ii) Nâng cao nhận thức của người dân toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của chuyển đổi số; (iii) Thúc đẩy sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp và sự tham gia của toàn dân bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số.

Theo các chuyên gia, cùng với kinh tế số, xã hội số cùng với Chính phủ số tạo thành ba trụ cột của một quốc gia số. Dưới đây, xin giới thiệu thêm một số nội dung của xã hội số, công dân số và Chính phủ số.

Xã hội số: Chuyển đổi số trong xã hội là nhằm hình thành xã hội số. Xã hội số, xét theo nghĩa rộng, bao trùm lên mọi hoạt động của con người. Động lực chính của xã hội số là công nghệ số, dựa trên sự tăng trưởng thông tin, dữ liệu một cách nhanh chóng, làm thay đổi mọi hoạt động của toàn xã hội, từ chính phủ, kinh tế cho tới người dân (công dân số): Triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, từng bước hình thành hệ sinh thái công dân số, gắn chip điện tử trên thẻ Căn cước công dân, v.v...;


Công dân số: Công dân số là người có kỹ năng, kiến thức, có thể truy cập Internet thông qua máy tính, điện thoại di động và các thiết bị kỹ thuật số khác để tương tác với cá nhân, tổ chức và cộng đồng, tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội trên nền tảng kỹ thuật số. Công dân số là một thành phần của công dân toàn cầu, có trách nhiệm, đạo đức với hành vi của mình trên nền tảng kỹ thuật số để thúc đẩy kết nối cộng đồng trên toàn cầu và cùng nhau chia sẻ thông tin, giúp mọi người trên toàn thế giới đều có thể tham gia với tư cách là một công dân trong xã hội.

Chính phủ số: Chính phủ thực hiện đúng chức năng của “Chính phủ kiến tạo”, chuyển mọi quyết định về cơ chế, chính sách của Chính phủ lên môi trường số, hình thành “Chính phủ số” hoạt động dựa trên dữ liệu và cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp. Chính phủ số dùng công nghệ số, sử dụng dữ liệu để ra quyết định, coi dữ liệu là một loại tài nguyên mới, cũng tức là chuyển đổi về cách thức ra quyết định của cơ quan chính quyền dựa trên báo cáo bằng giấy tờ sang dữ liệu phân tích định lượng và tổng hợp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau thông qua chuyển đổi số.

ỨNG DỤNG 4.0 TRONG LÀNG NGHỀ

Trong làng nghề chúng ta, hiện có nhiều loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh với quy mô rất khác nhau (doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ sản xuất, hộ kinh doanh) trong đó hộ kinh doanh với quy mô nhỏ và vừa chiếm phần rất lớn. Vì vậy, việc ứng dụng những thành tựu của Cuộc Cách mạng 4.0 phải sát hợp với trình độ, khả năng của từng loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh, không thể máy móc, rập khuôn.

Dưới đây, xin đề cập việc ứng dụng 4.0 trong một số lĩnh vực hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề.

Trong quản trị cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề hiện nay, do có nhiều cơ sở quy mô nhỏ bé, vốn liếng chưa nhiều, văn phòng cần gọn nhẹ, cho nên thiết thực nhất là ứng dụng chuyển đổi số từng bước trong các hoạt động trước đây dùng phương pháp thủ công. Ví dụ như: Quản lý, lưu giữ tài liệu; Quản trị công việc, nhân sự, lập báo cáo; Trao đổi thông tin, hội thảo trực tuyến; Đào tạo nhân lực; thu thập dữ liệu về khách hàng; Khảo sát tình hình làng nghề, v.v... Trong đó, việc số hóa các thông tin tài liệu có tác dụng thiết thực giúp doanh nghiệp lưu giữ tài liệu lâu dài, dễ tìm kiếm, tiết kiệm chi phí, tránh rủi ro, thất thoát.

Trong lĩnh vực thiết kế sản phẩm. Theo các chuyên gia thiết kế, trong thời dại 4.0, các công cụ được sử dụng hiện nay không chỉ là giấy vẽ, bút vẽ, màu vẽ mà còn là những phần mềm giúp cho nhà thiết kế mang lại những tác phẩm không chỉ được phác họa theo phương pháp truyền thống mà còn có thể là một sản phẩm được tạo ra bởi sự kết hợp giữa tính thẩm mỹ, sức sáng tạo của con người và đặc biệt là sự hỗ trợ của công nghệ số. Việc sử dụng công nghệ hiện đại trong thiết kế không chỉ tiết kiệm thời gian và chi phí mà còn tạo nên sự khác biệt của sản phẩm được tạo ra so với phương pháp truyền thống. giúp cho nhà thiết kế có những tiếp cận mới, làm nảy nở những kiểu dáng mới cho sản phẩm làng nghề.

Trong xúc tiến thương mại: Thực tiễn cho thấy trong làng nghề, các hoạt động xúc tiến thương mại đều có thể ứng dụng các công cụ hiện đại của cách mạng 4.0 nhất là trong quảng bá sản phẩm và giới thiệu các sự kiện xúc tiến thương mại. Việc giới thiệu sản phẩm có thể thực hiện bằng hình ảnh, băng hình, kỹ thuật 3D, giúp cho khách hàng nhận biết giá trị của sản phẩm, nhất là giá trị văn hóa của sản phẩm làng nghề truyền thống. Việc giới thiệu các sự kiện (như hội chợ, triển lãm ...) cũng có thể ứng dụng các công cụ hiện đại, để qua thực tế ảo, khách hàng cũng có thể nhận biết những đặc sắc của từng sự kiện để tham dự, cũng như những sản phẩm hàng hóa mới để tìm mua.

Xúc tiến hơn nữa “thương mại điện tử”, thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hoặc các mạng máy tính, không dùng tiền mặt. Thương mại điện tử cũng bao gồm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và vận chuyển hàng hoặc dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công.

Trong hoạt động du lịch. Theo các chuyên gia du lịch, có thể gọi thời kỳ hiện nay là thời kỳ “Du lịch 4.0” ra đời cùng với cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Các ứng dụng kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, công nghệ thực tế ảo, dữ liệu lớn…được ứng dụng sẽ tạo động lực mới cho ngành du lịch để ngành này thực sự trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” của đất nước.

Có thể thấy các lợi ích như sau. (i) Đối với khách du lịch, công nghệ 4.0 góp phần thúc đẩy nhu cầu du lịch của người dân thông qua những thông tin hấp dẫn về điểm du lịch, sản phẩm du lịch của các địa phương mà họ tiếp cận được qua môi trường Internet, thông qua các hình ảnh, các thước phim 3D, 4D tái dựng các sự kiện, di tích lịch sử, văn hóa, các di sản thiên nhiên. (ii) Đối với các nhà quản lý, việc số hóa cơ sở dữ liệu du lịch như tài nguyên du lịch; Hệ thống các nhà hàng, khách sạn; Hệ thống giao thông… của mỗi địa phương sẽ giúp họ quản lý hoạt động du lịch một cách dễ dàng, thuận tiện hơn trước. (iii) Đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch, công nghệ 4.0 giúp họ mở rộng thị trường du lịch nhờ Internet kết nối vạn vật, qua đó, có thể giảm các chi phí quảng bá và tiếp thị sản phẩm, dịch vụ du lịch, nâng cao sức cạnh tranh và tăng thêm lợi nhuận của đơn vị.

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LÀNG NGHỀ

Trong xây dựng làng nghề. Đối với các làng nghề, cần thực hiện Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 2/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021 – 2025” (dưới đây, gọi tắt là “Chương trình”). Theo Quyết định này, chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới là giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh và chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

“Chuyển đổi số” trong xây dựng nông thôn mới sẽ từng bước hình thành nông thôn mới thông minh, nâng cao hiệu quả hoạt động của cộng đồng, góp phần xây dựng nông thôn mới. Việc ứng dụng công nghệ số trong xây dựng nông thôn mới cũng nhằm đẩy mạnh xây dựng chính quyền số trong xây dựng nông thôn mới; Thúc đẩy kinh tế số trong phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng đời sống người dân, thu hẹp dần khoảng cách về chất lượng dịch vụ giữa nông thôn - thành thị, từng bước hướng tới nông thôn mới thông minh. “Chương trình” gồm ba trụ cột: (i) Phát triển chính quyền số ở nông thôn; (ii) Phát triển các chủ thể kinh tế số ở nông thôn; (iii) Phát triển xã hội số cho cộng đồng dân cư ở nông thôn.

Đây là một cơ hội mới rất quan trọng để chúng ta có thêm căn cứ và nguồn lực trong nhiệm vụ xây dựng làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống thành “Làng nghề văn hóa”. Việc thực hiện Chương trình này có thể dựa theo những nội dung các phần đã trình bày trên đây về Chính phủ số, xã hội số, công dân số.

Trong bảo tồn di sản văn hóa làng nghề. Có thể thực hiện một số việc cụ thể như: (i) Ứng dụng phần mềm thuyết minh tự động gồm nhiều ngôn ngữ khác nhau để phục vụ khách tham quan hội chợ, triển lãm sản phẩm làng nghề; (ii) Thực hiện số hóa di sản văn hóa làng nghề để thuận tiện trong việc lưu giữ, phục vụ nghiên cứu và quảng bá những giá trị của di sản văn hóa; (iii) Ứng dụng công nghệ 3D trong việc bảo tồn, phục dựng di sản văn hóa vật thể, các di vật, cổ vật hoặc những công trình kiến trúc nghệ thuật của di tích đã bị xuống cấp, hoặc bị hủy hoại bởi khí hậu và thời gian.

Đối với nghề, làng nghề có nguy cơ mai một. Cả nước ta hiện có tới 171 làng nghề có giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Nhưng hoạt động cầm chừng, không ổn định, có nguy cơ mai một; Một số nghề có nguy cơ thất truyền. Có thể ứng dụng công nghệ 4.0 trong các việc như: Phục dựng các quy trình công nghệ của các nghề đang có nguy cơ mai một, dựng thành phim, ảnh, băng hình ... kèm theo thuyết minh, có hình ảnh nghệ nhân, thể hiện truyền thống nghề thủ công của làng, lưu giữ làm tài liệu nghiên cứu sau này.

Tóm lại, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc chưa từng có, thúc đẩy công cuộc phát triển đất nước ta trên cơ sở chuyển đổi số với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Văn bản của Đảng, Nhà nước đã ban hành khá đầy đủ. Làng nghề chúng ta cần nắm vững và có biện pháp ứng dụng phù hợp, đem lại những hiệu quả thiết thực cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cho các làng nghề, đưa làng nghề cùng tiến lên theo xu hướng chung của khoa học, kỹ thuật hiện đại.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Gốm cổ Quảng Đức di sản văn hóa tiêu biểu

Gốm cổ Quảng Đức di sản văn hóa tiêu biểu

LNV - Gốm cổ Quảng Đức là một trong những di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh Phú Yên. Trong suốt hơn 400 năm chiều dài lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Phú Yên thì gốm cổ Quảng Đức đã có tuổi gốm trên 300 năm, xứng đáng được gọi là “báu vật” của miền đất Phú Yên.
Tìm giải pháp phát triển làng nghề gắn với văn hóa, du lịch

Tìm giải pháp phát triển làng nghề gắn với văn hóa, du lịch

LNV - Mỗi làng nghề có một nét đặc trưng, không chỉ mang tới cho du khách những sản phẩm thủ công hấp dẫn mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa. Do vậy, phát triển làng nghề bền vững gắn với văn hóa, du lịch đang là hướng đi được kỳ vọng sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế nông thôn, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Cuốn sách của tư duy, tầm nhìn và sự tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam

Cuốn sách của tư duy, tầm nhìn và sự tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam

LNV - Ðại hội XIII của Ðảng xác định rõ: Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn
Nghề dát vàng bạc quì làng Kiêu Kỵ

Nghề dát vàng bạc quì làng Kiêu Kỵ

LNV - Làng Kiêu Kỵ huyện Gia Lâm (Hà Nội) có hai nghề truyền thống là dát vàng bạc quì và may đồ da đã có từ lâu đời. Làm vàng bạc quì là một nghề truyền thống, chế biến vàng thật, bạc thật thành bột vàng, bạc (gọi là quì) bằng phương pháp sản xuất thủ công lâu đời, độc đáo.
Khai thác nguồn lực phát triển kinh tế làng nghề tại Thủ đô

Khai thác nguồn lực phát triển kinh tế làng nghề tại Thủ đô

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình số 04-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khóa XVII về "Đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân giai đoạn 2021-2025".
Cần nâng tầm các sản phẩm làng nghề, lưu giữ giá trị văn hóa - lịch sử

Cần nâng tầm các sản phẩm làng nghề, lưu giữ giá trị văn hóa - lịch sử

LNV - Theo ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Bộ NN-PTNT, Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ nhiều năm, tuy nhiên có thời điểm chúng ta sản xuất đại trà, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Vì vậy, thời gian tới phải nâng tầm hơn nữa cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Tin khác

Marketing bán hàng online cho sản phẩm gốm bát tràng

Marketing bán hàng online cho sản phẩm gốm bát tràng

LNV - Đẩy mạnh việc tuyên truyền làm cho doanh nghiệp, hộ sản xuất, hộ kinh doanh dịch vụ hiểu và quan tâm về maketing và bán hàng online
Nghề và Làng nghề truyền thống

Nghề và Làng nghề truyền thống

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn không thể bỏ qua vai trò của các làng nghề, nhất là làng nghề, làng có nghề truyền thống. Thực tế cho thấy, làng nghề đã và đang tạo ra nhiều việc làm, không chỉ cho người trong độ tuổi lao động mà còn cho cả người già, người khuyết tật, trẻ em; giúp tăng thu nhập và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo tại nông thôn.
Vai trò, vị thế của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam

Vai trò, vị thế của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Nhiệm kỳ 2018 – 2023 vừa qua, Hiệp hội và các tổ chức, hội viên đã triển khai Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường do tác động tiêu cực lâu dài của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, các cuộc xung đột vũ trang Nga – Ukraina; Israel – Hamas; Israel – Houthi, Israel – Iran…làm đứt gãy chuỗi cung ứng vật tư, nguyên, nhiên liệu toàn cầu, đặc biệt là xăng, dầu. Ảnh hưởng đến đến sức mua và làm suy giảm các thị trường xuất, nhập khẩu truyền thống. Tình hình trên làm cho sản xuất kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế và làng nghề trong cả nước bị đình đốn, việc làm và đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn.
Hướng đi bền vững để bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống

Hướng đi bền vững để bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn không thể bỏ qua vai trò của các làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống. Thực tế cho thấy, làng nghề đã và đang tạo nhiều cơ hội việc làm, không chỉ cho người trong độ tuổi lao động mà còn cho cả người già, người khuyết tật, trẻ em, giúp tăng thu nhập và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo tại nông thôn. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát triển làng nghề, cần có những hướng đi bền vững.
Văn hóa làng nghề trong văn hóa xứ Nghệ

Văn hóa làng nghề trong văn hóa xứ Nghệ

LNV - Làng nghề truyền thống là một nhân tố quan trọng trong văn hóa vùng miền. Với một vùng văn hóa độc đáo như xứ Nghệ, làng nghề có vai trò to lớn, là bông hoa đẹp trong bức tranh văn hóa chung. Làng nghề thể hiện sự đa dạng của văn hóa, thể hiện tính đặc sắc của địa phương. Và trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển làng nghề hợp lý là hướng đi đúng đắn để gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế.
Phát triển bền vững du lịch làng nghề Thừa Thiên Huế

Phát triển bền vững du lịch làng nghề Thừa Thiên Huế

LNV - Du lịch lễ hội văn hoá, du lịch làng nghề truyền thống là một thế mạnh và nét đặc trưng vốn có của du lịch Thừa Thiên Huế hiện tại và trong tương lai. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần khai thác và phát huy các làng nghề truyền thống như một chiến lược phát triển du lịch bền vững gắn với cộng đồng dân cư địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Gìn giữ tinh hoa làng nghề thời 4.0

Gìn giữ tinh hoa làng nghề thời 4.0

LNV - Người Việt Nam tự hào có những làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm, vang danh xứ người. Thế nhưng, theo năm tháng, các làng nghề truyền thống đang ngày càng mai một. Bên cạnh đó, thời đại công nghệ 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức cho các làng nghề, đòi hỏi công tác duy trì, bảo tồn và phát triển làng nghề cần sự chung tay của nhiều thế hệ và chính quyền các cấp.
Lợi ích của việc bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Lợi ích của việc bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Nhiều năm qua, việc bán hàng online đã khá phổ biến với nhiều lĩnh vực và đã quen thuộc với nhiều khách hàng, nhưng trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ rất ít cơ sở tham gia bán hàng online. Cho đến nay, chủ yếu là các cơ sở sản xuất đồ gốm và điêu khắc gỗ bắt đầu thực hiện bán hàng online.
Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

LNV - Bên cạnh cơ hội, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang phải đối mặt với những thách thức lớn từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong doanh nghiệp được xác định là giải pháp quan trọng, là xu hướng tất yếu để các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực, lợi thế cạnh tranh, tăng tốc và phát triển.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội tại Việt Nam

LNV - Công nghệ 4.0 phát triển mạnh mẽ giúp cho việc mua bán hàng hóa trực tuyến thuận tiện và phổ biến hơn bao giờ hết. Hơn nữa, khi dịch Covid-19 bùng nổ trên nhiều quốc gia với tốc độ lây lan nhanh chóng thì mua bán trực tuyến là giải pháp tối ưu thay thế cho phương thức mua bán truyền thống.
Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

LNV - Thành phố Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề truyền thống với 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 305 làng nghề truyền thống đã được công nhận thuộc 23 quận, huyện và thị xã. Đây là nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Nhiều năm qua, việc bán hàng online đã khá phổ biến với nhiều lĩnh vực và quen thuộc với khách hàng, nhưng trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ rất ít cơ sở tham gia bán hàng online. Cho đến nay, chủ yếu là các cơ sở sản xuất đồ gốm và điêu khắc gỗ bắt đầu thực hiện bán hàng online.
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

LNV - Nghề dệt lụa ở Vạn Phúc (quận Hà Đông, TP. Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng bởi nét tài hoa của những nghệ nhân làng nghề. Với những ai yêu lụa Vạn Phúc khi về nơi đây như được trở lại cội nguồn với nhiều nét xưa cũ. Bao đời nay, lụa Vạn Phúc chỉ sử dụng chất liệu tơ tằm truyền thống, do bàn tay của người lao động tạo nên. Điều đáng quý là các sản phẩm ở đây được làm từ nguyên liệu tự nhiên, có nhiều ưu điểm khác hẳn với các sản phẩm trôi nổi trên thị trường.
Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

LNV - Quyết định số: 801/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt nam giai đoạn 2021 – 2030” đã đặt mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN lên 4 tỷ USD vào năm 2025 và 6 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, hàng loạt khó khăn lớn nhỏ cần được tháo gỡ ở mọi khu vực, từ trung ương đến địa phương. Chúng ta có thể điểm qua một số khó khăn cần được ưu tiên tháo gỡ như sau:
Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

LNV - Làng nghề có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, sự phát triển của các làng nghề cũng gây ra hệ lụy về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước thải làng nghề, Việt Nam cần thiết phải có các biện pháp đồng bộ từ chính sách tới giải pháp như quy hoạch lại không gian sản xuất, tổ chức tốt quy trình sản xuất, vệ sinh môi trường, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường... đặc biệt là các giải pháp về kỹ thuật xử lý nước thải với mức đầu tư thấp, dễ vận hành, phù hợp với yêu cầu của làng nghề.
Xem thêm
qc-vinamilk-100-thanh-trung
Mới nhất Đọc nhiều
Lai Châu: Nhiều giải pháp hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp

Lai Châu: Nhiều giải pháp hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp

LNV - Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Tỉnh đoàn Lai Châu nhằm tập hợp, đoàn kết thanh niên trong tỉnh. Tỉnh đoàn triển khai nhiều chương trình nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của thanh niên.
Ấn tượng nông thôn mới Thái Nguyên

Ấn tượng nông thôn mới Thái Nguyên

LNV - Cùng với phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ, quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có những bước tiến mới, ấn tượng, số xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới ngày càng nhiều; đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hạ tần
Khi sản phẩm OCOP giúp giữ chân du khách

Khi sản phẩm OCOP giúp giữ chân du khách

OVN - Thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) cho thấy, lượng du khách tham gia các hình thức du lịch nông thôn, sinh thái chiếm khoảng 10%, với doanh thu khoảng 30 tỷ USD/năm. Trung bình mỗi năm, tỷ lệ khách đi du lịch nông thôn tăng 10 - 30%...
Tuy Phong: Thêm 2 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao

Tuy Phong: Thêm 2 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao

OVN - Mới đây, ông Nguyễn Trung Trực – Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong đã ban hành quyết định công nhận kết quả đánh giá, phân hạng sản phẩm tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) huyện Tuy Phong năm 2024 (đợt 1).
TPHCM: Phấn đấu có ít nhất 50% số xã đạt chuẩn nông thôn kiểu mẫu

TPHCM: Phấn đấu có ít nhất 50% số xã đạt chuẩn nông thôn kiểu mẫu

LNV - UBND TP.HCM vừa ban hành kế hoạch thực hiện xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn vùng nông thôn TP.HCM với mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2025, có ít nhất 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu gắn với đô thị hóa trên địa bàn vùng nông thôn Thành phố giai đoạn 2021 – 2025.
qc-vinamilk-dinh-duong-vang
ct-tnhh-pt-xuan-thanh
ctcp-xd-tan-loc
nong-nghiep-xanh
minh-hieu
nhu-thanh
an-phat
thanh-chau
thuan-duc
ha-tinh
binh-dinh
Giao diện di động