Hà Nội: 31°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 35°C Thừa Thiên Huế

500 năm định danh gốm cổ Thanh Hà

LNV - Không sở hữu vẻ đẹp sang trọng, tinh xảo về đường nét, kiểu dáng cùng với những gam màu đầy lung linh, quyến rũ như các dòng gốm danh tiếng xứ Bắc như Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng... gốm Thanh Hà suốt 500 năm qua luôn giữ cho mình nét duyên thầm riêng có. Bằng chất gốm dày, giản đơn, thô mộc và gần gũi như chính cái tình của đất và chất quê hồn hậu, nôm na, dễ gần của người xứ Quảng, để từ đó định danh nên một dòng gốm cổ nổi tiếng nhất miền Trung.


Gốm Thanh Hà trong ứng dụng trang trí kiến trúc.


Từ giấc mơ được chén của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng

Truyền thuyết kể rằng, sau khi lập Dinh trấn Thanh Chiêm (năm 1602) ở Điện Bàn, Quảng Nam, vào một đêm nằm ngủ, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mộng thấy có người đàn bà đẹp xưng là nữ thần hiện lên dâng cho mình một chiếc chén rất đẹp và dặn rằng, Chúa hãy đi tới đất Nam Diêu (tức làng Thanh Hà ngày nay), cách 3 dặm về phía Bắc, sẽ tìm thấy nơi lập làng nghề mới cho dân đặng làm kế ổn định mà xây dựng cơ nghiệp về sau.

Sáng hôm sau, Chúa Tiên theo lời dặn vượt qua con sông đi về phía Bắc chừng 3 dặm thì thấy một ngôi miếu nhỏ có tên là miếu Nam Diêu. Kỳ lạ thay, trong miếu có bày chiếc chén đất nung giống y như chiếc chén mà nữ thần đã tặng Chúa trong giấc mộng. Thấy giấc mộng ứng với điềm lành, chúa âm thầm sai người ra Bắc chiêu mộ thợ giỏi vào làm nghề, từ đó hình thành nên làng gốm Thanh Hà.

Cá chép đất chưa qua nung.


Chuyện ấy thực hư không rõ thế nào, nhưng cứ chiếu theo sử sách và các tài liệu gia phả cổ của các dòng họ ở làng Thanh Hà hiện có thì thấy rằng, sau chiến thắng Trà Bàn (1471), vua Lê Thánh Tông đặt nơi đây làm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đánh dấu cho sự ra đời của danh xưng Quảng Nam, điều đó cũng đồng nghĩa với việc làng Thanh Hà cũng ra đời vào khoảng thời gian này. Bên cạnh đó, theo các nhà nghiên cứu, đình làng Thanh Hà được lập muộn nhất vào đầu thế kỷ thứ 16. Và theo lẽ tự nhiên, để có đình thì trước đó một thời gian lâu dài nơi đây đã có cư dân sinh sống và lập làng, lập ấp. Vì vậy có thể khẳng định rằng làng Thanh Hà được lập vào khoảng thế kỷ 15.

Đáng chú ý, trong các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ thực hiện vào năm 1941-1943 cho biết, làng Thanh Hà có 8 vị tiền hiền của 8 tộc gọi là “bát tôn”, gồm tiền hiền tộc Nguyễn Văn, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Nguyễn Kim, Ngụy Như, Bùi Phước, Võ Đình, Võ Văn. Cư dân trong làng ngoài nghề làm nông còn có nghề làm gạch, ngói, đồ gốm. Riêng trong gia phả của hầu hết các dòng họ này còn ghi rõ thủy tổ của họ là người Thanh Hóa di cư vào khai khẩn đất Thanh Hà. Cũng theo các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ, thời nhà Nguyễn, nghề làm gạch, ngói của làng Thanh Hà rất phát triển, một số thợ giỏi được vời ra kinh đô Huế làm tại tượng cục, tức quan xưởng chuyên lo việc chế tác đồ ngự dụng, tàu thuyền, súng ống, đúc tiền và vật liệu xây dựng. Thậm chí có ông Bùi Phước Thạnh giỏi nghề nung ngói và gạch lưu ly còn được vua Minh Mạng phong trật Chánh Cửu phẩm, hay như ông Bùi Phước Châu được vua Thiệu Trị phong trật Tòng Cửu phẩm.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín tranh thủ lúc nông nhàn làm thêm sản phẩm ông Táo đất.


Lại nói về cái sự độc đáo của nghề gốm Thanh Hà. Thuở xưa, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi danh gốm Thanh Hà là thổ sản của xứ Quảng Nam. Người Thanh Hà làm gốm không chuộng lấy cái hình thức tinh xảo, óng chuốt như gốm Chu Đậu, Bát Tràng ở ngoài Bắc mà chú trọng vào cái sự chắc khỏe có phần thô mộc, giản dị và gần gũi của mỗi món đồ làm ra. Vì lẽ đó, gốm Thanh Hà đa phần là đồ gốm nung, không tráng men, ít trang trí và cốt gốm dày dặn. Sản phẩm làm ra chủ yếu theo cách chuốt nặn bằng tay trên bàn xoay đạp chân và đem nung trong lò đốt củi. Người thợ giỏi có thể nhìn sắc màu ngọn khói tỏa ra từ lò nung mà đoán được gốm chín hay chưa. Sản phẩm khá phong phú, đa dạng từ các loại chum, hũ, lọ, om, bình, nồi, bình vôi, tò he, bùng binh, ngói các loại...

Ông Táo đất vừa mới ra lò, sản phẩm quen thuộc của làng gốm Thanh Hà.


Kể từ chuyện Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nằm mộng được tặng chén tiên rồi hình thành nên nghề gốm đến nay, đã trải mấy trăm năm dâu bể, nghề gốm Thanh Hà cùng với đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng không chỉ được định danh mà còn tạo thành bộ ba chân kiềng nghề thủ công lừng danh xứ Quảng, để cho câu hát “Thanh Hà vẫn gạch bát nồi / Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh” còn truyền tụng đến muôn đời sau.

Đến làng nghề di sản nổi danh thời hậu thế

500 làng gốm cổ Thanh Hà có lẽ cũng sẽ đi vào quên lãng nếu như không có sự giữ gìn và phát triển của lớp lớp hậu bối về sau. Ngày nay, tuy công nghệ làm gốm đã phát triển vượt bậc so với trước nhưng người Thanh Hà chủ yếu vẫn giữ cách làm gốm theo lối thủ công như cha ông họ từ hàng trăm năm về trước. Đó là lối làm gốm bằng bằng xoay đạp chân, nung củi, không tráng men và ít trang trí.

Bàn xoay đạp chân, một kỹ thuật làm gốm cổ của người Thanh Hà.


Để theo kịp với xu thế mới, một số nghệ nhân trẻ của làng cũng ra sức tìm tòi những phương thức mới, chủ yếu để sản xuất các dòng sản phẩm gốm trang trí có tính mĩ thuật cao và cũng đã gặp hái được không ít thành công, nhưng đa phần vẫn thích phong cách làm gốm cũ bởi có lẽ nó thể hiện được cái hồn và bản sắc riêng của gốm Thanh Hà mà không nơi nào có được. Vì vậy sản phẩm làm ra tuy có mang dáng dấp thời thượng nhưng người ta vẫn thấy ở đó phảng phất sự dung dị, khỏe khoắn vốn có của chất gốm xứ này.

Trong xu thế đời sống hiện nay người làm gốm Thanh Hà cũng có cái lo chung trong chuyện cơm áo gạo tiền. Đó là làm sao vừa bảo tồn được nghề xưa nhưng đồng thời cũng phải tìm cách sống được với nghề, bởi suy cho cùng gốm không phải là nghề dễ làm giàu như bao nghề khác. Vì thế, ngoài những sản phẩm truyền thống đang có đầu ra tạm ổn như nồi, niêu, om, bùng binh... nhiều người cũng bắt đầu tìm cách chuyển hướng sang sản xuất những mặt gốm trang trí có tính ứng dụng cao như tranh, tượng, phù điêu, chân đèn, chậu hoa... Thậm chí có người còn tranh thủ lúc nông nhàn giữa năm làm thêm ông Táo đất để phục vụ thị trường cúng ông Công ông Táo vào dịp cuối năm.

Chữ bằng gốm trang trí ở một homestay.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín của làng gốm Thanh Hà cho biết, giờ cũng ít người theo nghề làm Táo đất, ngay trong nhà ông cũng chỉ có ông và vợ cặm cụi làm cho vui chứ hai đứa con cũng không ham. “Làm Táo đất thu nhập không nhiều nhưng nếu chịu khó cũng đủ lo được một cái Tết tươm tất cho gia đình, với lại được cái vui và giữ được nghề xưa để làm du lịch”, ông Chín nói.

Một tín hiệu khả quan cho làng nghề gốm Thanh Hà đó là kể từ khi Hội An trở thành trung tâm du lịch của miền Trung thì làng cũng trở thành điểm thu hút khách tham quan. Ngoại trừ sự ảnh hưởng của đợt dịch COVID-19 lần này, còn như mọi năm lượng du khách đến làng khá đông, vừa giúp người dân có điều kiện tăng thêm thu nhập từ việc bán đồ gốm lưu niệm và các dịch vụ khác vừa tạo thêm không khí sôi động của làng nghề. Nắm bắt được cơ hội này, chính quyền địa phương và người dân cũng nhanh nhạy và năng động mở thêm nhiều hoạt động quảng bá du lịch như tổ chức lễ hội làng nghề, làm homestay, mở hiệu buôn bán đồ gốm mĩ nghệ, mở tour khám phá cho du khách tự tay trải nghiệm làm gốm...

Bùng binh đất (hay còn gọi đồng binh, một dạng heo đất đựng tiền tiết kiệm), sản phẩm truyền thống của làng gốm Thanh Hà.


Theo thông tin từ Cục Di sản Văn hóa của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, làng Thanh Hà hiện có 32 hộ làm gốm với 134 lao động trên tổng số 320 hộ, trong đó có 5 hộ làm gốm truyền thống, 13 hộ làm con thổi, số còn lại là hộ làm gốm mỹ nghệ và có ít nhất là 3 người buôn gốm chuyên nghiệp. Cả làng hiện có 4 lò gốm truyền thống (lò úp, lò bầu), 4 lò ngửa để nung gốm mĩ nghệ, 5 lò ngửa để nung con thổi. Đội ngũ thợ gốm ở Thanh Hà hiện nay đều là hậu duệ của các dòng họ làm gốm nổi tiếng như họ: Nguyễn Viết, Nguyễn Văn, Ngụy, Bùi, Phạm, Lê... nối mạch cao quý một trong những dòng gốm lâu đời nhất Việt Nam.

Làng gốm Thanh Hà thuộc phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Làng nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, cách phố cổ Hội An chừng 3km về hướng Tây. Hằng năm, vào ngày mùng 10 tháng Bảy (âm lịch) lễ giỗ tổ làng nghề diễn ra rất long trọng tại khu miếu cổ Nam Diêu với nhiều hoạt động văn hóa, tâm linh rất đặc sắc. Ngay giữa làng gốm Thanh Hà hiện có Công viên đất nung rộng hơn 5.000m2, là nơi trưng bày nhiều sản phẩm gốm đặc sắc của Thanh Hà, là bảo tàng và địa chỉ tham quan gốm độc đáo của Việt Nam.

Theo Thái Hoàng

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.

Tin khác

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Lạng Sơn: Ươm mùa vàng từ giống mới

Lạng Sơn: Ươm mùa vàng từ giống mới

Xã Yên Bình, tỉnh Lạng Sơn tích cực tuyên truyền, vận động người dân đưa các giống lúa mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng
Quãng Ngãi công nhận sản phẩm công  nông thôn tiêu biểu

Quãng Ngãi công nhận sản phẩm công nông thôn tiêu biểu

UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa ban hành quyết định công nhận 14 sản phẩm
Mùa vừng ở xã Đức Quang

Mùa vừng ở xã Đức Quang

Xã Đức Quang, tỉnh Hà Tĩnh bước vào những ngày bận rộn và rộn ràng nhất năm: mùa thu hoạch vừng (mè).
Pure Cocoa Powder của Đồng Nai vinh dự là sản phẩm công nghiệp nông thôn Quốc gia

Pure Cocoa Powder của Đồng Nai vinh dự là sản phẩm công nghiệp nông thôn Quốc gia

Pure Cocoa Powder trở thành biểu tượng chất lượng, nhờ công nghệ hiện đại, nguồn nguyên liệu tự nhiên
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ

LNV - Chiều ngày 17/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và thăm động viên lực lượng thực hiện nhiệm
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động