Hà Nội: 23°C Hà Nội
Đà Nẵng: 24°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 23°C Thừa Thiên Huế

500 năm định danh gốm cổ Thanh Hà

LNV - Không sở hữu vẻ đẹp sang trọng, tinh xảo về đường nét, kiểu dáng cùng với những gam màu đầy lung linh, quyến rũ như các dòng gốm danh tiếng xứ Bắc như Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng... gốm Thanh Hà suốt 500 năm qua luôn giữ cho mình nét duyên thầm riêng có. Bằng chất gốm dày, giản đơn, thô mộc và gần gũi như chính cái tình của đất và chất quê hồn hậu, nôm na, dễ gần của người xứ Quảng, để từ đó định danh nên một dòng gốm cổ nổi tiếng nhất miền Trung.


Gốm Thanh Hà trong ứng dụng trang trí kiến trúc.


Từ giấc mơ được chén của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng

Truyền thuyết kể rằng, sau khi lập Dinh trấn Thanh Chiêm (năm 1602) ở Điện Bàn, Quảng Nam, vào một đêm nằm ngủ, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mộng thấy có người đàn bà đẹp xưng là nữ thần hiện lên dâng cho mình một chiếc chén rất đẹp và dặn rằng, Chúa hãy đi tới đất Nam Diêu (tức làng Thanh Hà ngày nay), cách 3 dặm về phía Bắc, sẽ tìm thấy nơi lập làng nghề mới cho dân đặng làm kế ổn định mà xây dựng cơ nghiệp về sau.

Sáng hôm sau, Chúa Tiên theo lời dặn vượt qua con sông đi về phía Bắc chừng 3 dặm thì thấy một ngôi miếu nhỏ có tên là miếu Nam Diêu. Kỳ lạ thay, trong miếu có bày chiếc chén đất nung giống y như chiếc chén mà nữ thần đã tặng Chúa trong giấc mộng. Thấy giấc mộng ứng với điềm lành, chúa âm thầm sai người ra Bắc chiêu mộ thợ giỏi vào làm nghề, từ đó hình thành nên làng gốm Thanh Hà.

Cá chép đất chưa qua nung.


Chuyện ấy thực hư không rõ thế nào, nhưng cứ chiếu theo sử sách và các tài liệu gia phả cổ của các dòng họ ở làng Thanh Hà hiện có thì thấy rằng, sau chiến thắng Trà Bàn (1471), vua Lê Thánh Tông đặt nơi đây làm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đánh dấu cho sự ra đời của danh xưng Quảng Nam, điều đó cũng đồng nghĩa với việc làng Thanh Hà cũng ra đời vào khoảng thời gian này. Bên cạnh đó, theo các nhà nghiên cứu, đình làng Thanh Hà được lập muộn nhất vào đầu thế kỷ thứ 16. Và theo lẽ tự nhiên, để có đình thì trước đó một thời gian lâu dài nơi đây đã có cư dân sinh sống và lập làng, lập ấp. Vì vậy có thể khẳng định rằng làng Thanh Hà được lập vào khoảng thế kỷ 15.

Đáng chú ý, trong các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ thực hiện vào năm 1941-1943 cho biết, làng Thanh Hà có 8 vị tiền hiền của 8 tộc gọi là “bát tôn”, gồm tiền hiền tộc Nguyễn Văn, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Nguyễn Kim, Ngụy Như, Bùi Phước, Võ Đình, Võ Văn. Cư dân trong làng ngoài nghề làm nông còn có nghề làm gạch, ngói, đồ gốm. Riêng trong gia phả của hầu hết các dòng họ này còn ghi rõ thủy tổ của họ là người Thanh Hóa di cư vào khai khẩn đất Thanh Hà. Cũng theo các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ, thời nhà Nguyễn, nghề làm gạch, ngói của làng Thanh Hà rất phát triển, một số thợ giỏi được vời ra kinh đô Huế làm tại tượng cục, tức quan xưởng chuyên lo việc chế tác đồ ngự dụng, tàu thuyền, súng ống, đúc tiền và vật liệu xây dựng. Thậm chí có ông Bùi Phước Thạnh giỏi nghề nung ngói và gạch lưu ly còn được vua Minh Mạng phong trật Chánh Cửu phẩm, hay như ông Bùi Phước Châu được vua Thiệu Trị phong trật Tòng Cửu phẩm.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín tranh thủ lúc nông nhàn làm thêm sản phẩm ông Táo đất.


Lại nói về cái sự độc đáo của nghề gốm Thanh Hà. Thuở xưa, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi danh gốm Thanh Hà là thổ sản của xứ Quảng Nam. Người Thanh Hà làm gốm không chuộng lấy cái hình thức tinh xảo, óng chuốt như gốm Chu Đậu, Bát Tràng ở ngoài Bắc mà chú trọng vào cái sự chắc khỏe có phần thô mộc, giản dị và gần gũi của mỗi món đồ làm ra. Vì lẽ đó, gốm Thanh Hà đa phần là đồ gốm nung, không tráng men, ít trang trí và cốt gốm dày dặn. Sản phẩm làm ra chủ yếu theo cách chuốt nặn bằng tay trên bàn xoay đạp chân và đem nung trong lò đốt củi. Người thợ giỏi có thể nhìn sắc màu ngọn khói tỏa ra từ lò nung mà đoán được gốm chín hay chưa. Sản phẩm khá phong phú, đa dạng từ các loại chum, hũ, lọ, om, bình, nồi, bình vôi, tò he, bùng binh, ngói các loại...

Ông Táo đất vừa mới ra lò, sản phẩm quen thuộc của làng gốm Thanh Hà.


Kể từ chuyện Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nằm mộng được tặng chén tiên rồi hình thành nên nghề gốm đến nay, đã trải mấy trăm năm dâu bể, nghề gốm Thanh Hà cùng với đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng không chỉ được định danh mà còn tạo thành bộ ba chân kiềng nghề thủ công lừng danh xứ Quảng, để cho câu hát “Thanh Hà vẫn gạch bát nồi / Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh” còn truyền tụng đến muôn đời sau.

Đến làng nghề di sản nổi danh thời hậu thế

500 làng gốm cổ Thanh Hà có lẽ cũng sẽ đi vào quên lãng nếu như không có sự giữ gìn và phát triển của lớp lớp hậu bối về sau. Ngày nay, tuy công nghệ làm gốm đã phát triển vượt bậc so với trước nhưng người Thanh Hà chủ yếu vẫn giữ cách làm gốm theo lối thủ công như cha ông họ từ hàng trăm năm về trước. Đó là lối làm gốm bằng bằng xoay đạp chân, nung củi, không tráng men và ít trang trí.

Bàn xoay đạp chân, một kỹ thuật làm gốm cổ của người Thanh Hà.


Để theo kịp với xu thế mới, một số nghệ nhân trẻ của làng cũng ra sức tìm tòi những phương thức mới, chủ yếu để sản xuất các dòng sản phẩm gốm trang trí có tính mĩ thuật cao và cũng đã gặp hái được không ít thành công, nhưng đa phần vẫn thích phong cách làm gốm cũ bởi có lẽ nó thể hiện được cái hồn và bản sắc riêng của gốm Thanh Hà mà không nơi nào có được. Vì vậy sản phẩm làm ra tuy có mang dáng dấp thời thượng nhưng người ta vẫn thấy ở đó phảng phất sự dung dị, khỏe khoắn vốn có của chất gốm xứ này.

Trong xu thế đời sống hiện nay người làm gốm Thanh Hà cũng có cái lo chung trong chuyện cơm áo gạo tiền. Đó là làm sao vừa bảo tồn được nghề xưa nhưng đồng thời cũng phải tìm cách sống được với nghề, bởi suy cho cùng gốm không phải là nghề dễ làm giàu như bao nghề khác. Vì thế, ngoài những sản phẩm truyền thống đang có đầu ra tạm ổn như nồi, niêu, om, bùng binh... nhiều người cũng bắt đầu tìm cách chuyển hướng sang sản xuất những mặt gốm trang trí có tính ứng dụng cao như tranh, tượng, phù điêu, chân đèn, chậu hoa... Thậm chí có người còn tranh thủ lúc nông nhàn giữa năm làm thêm ông Táo đất để phục vụ thị trường cúng ông Công ông Táo vào dịp cuối năm.

Chữ bằng gốm trang trí ở một homestay.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín của làng gốm Thanh Hà cho biết, giờ cũng ít người theo nghề làm Táo đất, ngay trong nhà ông cũng chỉ có ông và vợ cặm cụi làm cho vui chứ hai đứa con cũng không ham. “Làm Táo đất thu nhập không nhiều nhưng nếu chịu khó cũng đủ lo được một cái Tết tươm tất cho gia đình, với lại được cái vui và giữ được nghề xưa để làm du lịch”, ông Chín nói.

Một tín hiệu khả quan cho làng nghề gốm Thanh Hà đó là kể từ khi Hội An trở thành trung tâm du lịch của miền Trung thì làng cũng trở thành điểm thu hút khách tham quan. Ngoại trừ sự ảnh hưởng của đợt dịch COVID-19 lần này, còn như mọi năm lượng du khách đến làng khá đông, vừa giúp người dân có điều kiện tăng thêm thu nhập từ việc bán đồ gốm lưu niệm và các dịch vụ khác vừa tạo thêm không khí sôi động của làng nghề. Nắm bắt được cơ hội này, chính quyền địa phương và người dân cũng nhanh nhạy và năng động mở thêm nhiều hoạt động quảng bá du lịch như tổ chức lễ hội làng nghề, làm homestay, mở hiệu buôn bán đồ gốm mĩ nghệ, mở tour khám phá cho du khách tự tay trải nghiệm làm gốm...

Bùng binh đất (hay còn gọi đồng binh, một dạng heo đất đựng tiền tiết kiệm), sản phẩm truyền thống của làng gốm Thanh Hà.


Theo thông tin từ Cục Di sản Văn hóa của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, làng Thanh Hà hiện có 32 hộ làm gốm với 134 lao động trên tổng số 320 hộ, trong đó có 5 hộ làm gốm truyền thống, 13 hộ làm con thổi, số còn lại là hộ làm gốm mỹ nghệ và có ít nhất là 3 người buôn gốm chuyên nghiệp. Cả làng hiện có 4 lò gốm truyền thống (lò úp, lò bầu), 4 lò ngửa để nung gốm mĩ nghệ, 5 lò ngửa để nung con thổi. Đội ngũ thợ gốm ở Thanh Hà hiện nay đều là hậu duệ của các dòng họ làm gốm nổi tiếng như họ: Nguyễn Viết, Nguyễn Văn, Ngụy, Bùi, Phạm, Lê... nối mạch cao quý một trong những dòng gốm lâu đời nhất Việt Nam.

Làng gốm Thanh Hà thuộc phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Làng nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, cách phố cổ Hội An chừng 3km về hướng Tây. Hằng năm, vào ngày mùng 10 tháng Bảy (âm lịch) lễ giỗ tổ làng nghề diễn ra rất long trọng tại khu miếu cổ Nam Diêu với nhiều hoạt động văn hóa, tâm linh rất đặc sắc. Ngay giữa làng gốm Thanh Hà hiện có Công viên đất nung rộng hơn 5.000m2, là nơi trưng bày nhiều sản phẩm gốm đặc sắc của Thanh Hà, là bảo tàng và địa chỉ tham quan gốm độc đáo của Việt Nam.

Theo Thái Hoàng

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống ở làng nghề Yên Bái

Sức sống ở làng nghề Yên Bái

LNV - Mang trong mình những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt của người dân mỗi địa phương, mỗi vùng đất; thế nên không ít nghề truyền thống và các sản phẩm của làng nghề ở Yên Bái không những không bị mai một mà ngày càng khẳng định giá trị nhờ đổi mới sáng tạo, kết hợp du lịch, thương mại điện tử và xu hướng tiêu dùng xanh.
Đồng Tháp: Bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

Đồng Tháp: Bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

LNV - Tỉnh Đồng Tháp quan tâm bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, truyền thống, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.
Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng

Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng

LNV - Tạp chí Làng Nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết: “Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng” của đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư BCH T.W Đảng cộng sản Việt Nam.
Bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc làng nghề truyền thống

Bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc làng nghề truyền thống

LNV - Trải qua hàng trăm năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Nâng cao năng lực marketing xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề Việt nam

Nâng cao năng lực marketing xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề Việt nam

LNV - Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ lâu đã được biết đến với những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa, nghệ thuật truyền thống, thể hiện tài hoa của những nghệ nhân làng nghề. Tuy nhiên, khi bước vào thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, để giữ vững được thị trường trong nước và cạnh tranh với các sản phẩm quốc tế, các doanh nghiệp và làng nghề phải tìm ra cách tiếp cận hiệu quả hơn thông qua chiến lược marketing xuất khẩu.
Bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề truyền thống tích hợp văn hóa đa giá trị

Bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề truyền thống tích hợp văn hóa đa giá trị

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn không thể bỏ qua vai trò của các làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống. Thực tế cho thấy, làng nghề đã và đang tạo nhiều việc làm, không chỉ cho người trong độ tuổi lao động mà còn cho cả người già, người khuyết tật, trẻ em, giúp tăng thu nhập và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo tại nông thôn. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát triển làng nghề, cần có những hướng đi bền vững.

Tin khác

Bao bì và thương hiệu sản phẩm làng nghề

Bao bì và thương hiệu sản phẩm làng nghề

LNV - Vượt ra khỏi vai trò vỏ bọc bên ngoài, bao bì sản phẩm còn là câu chuyện thương hiệu và thông điệp mà nhà sản xuất muốn gửi gắm. Vì vậy, thiết kế bao bì không chỉ đòi hỏi sự sáng tạo, mà còn cần sự hiểu biết sâu sắc về sản phẩm, thị trường và khách hàng.
Giải bài toán bảo vệ môi trường làng nghề

Giải bài toán bảo vệ môi trường làng nghề

LNV - Dù đã đưa ra nhiều biện pháp, giải pháp, quy định đối với các cơ sở sản xuất tại làng nghề nhưng việc bảo vệ môi trường vẫn đang gây nhiều khó khăn cho các cấp chính quyền quản lý. Bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề cũng đặt ra nhiều thách thức. Trong đó, việc gia tăng phát triển cả về số lượng làng nghề và loại ngành nghề đã khiến ô nhiễm môi trường cũng ngày càng cao, nhiều nơi vượt quá tầm kiểm soát của các cấp chính quyền quản lý.
Kết nối nhà thiết kế - doanh nghiệp Tăng giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Kết nối nhà thiết kế - doanh nghiệp Tăng giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Với những giá trị của hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) trên mọi phương diện từ những giá trị của văn hóa dân tộc, mỹ thuật, sáng tạo, trí tuệ, tri thức và kinh tế… có thể thấy đây là một hàng hóa có nhiều giá trị lớn đối với cuộc sống con người và tiềm năng góp phần làm giàu mạnh đất nước.
Gian nan hành trình vươn tầm đặc sản OCOP 5 sao

Gian nan hành trình vươn tầm đặc sản OCOP 5 sao

LNV - Nhân dịp Tết Ất Tỵ 2025, ông Đặng Khánh Duy, Tổng giám đốc điều hành (CEO) Công ty TNHH Tân Nhiên - Chủ thể đầu tiên của tỉnh Tây Ninh có sản phẩm đạt OCOP 5 sao đã có những chia sẻ với Tạp chí Làng nghề Việt Nam.
Kết nối nhà thiết kế - doanh nghiệp Tăng giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Kết nối nhà thiết kế - doanh nghiệp Tăng giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Với những giá trị của hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) trên mọi phương diện từ những giá trị của văn hóa dân tộc, mỹ thuật, sáng tạo, trí tuệ, tri thức và kinh tế… có thể thấy đây là một hàng hóa có nhiều giá trị lớn đối với cuộc sống con người và tiềm năng góp phần làm giàu mạnh đất nước.
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chủ trì họp hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu nghệ nhân thủ công mỹ nghệ

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chủ trì họp hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu nghệ nhân thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng 6/12, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đã chủ trì cuộc họp Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu nghệ nhân trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ lần thứ 5.
Giải pháp phát triển thủ công mỹ nghệ bền vững

Giải pháp phát triển thủ công mỹ nghệ bền vững

LNV - Dù đối mặt với nhiều khó khăn nhưng ngành thủ công, mỹ nghệ Việt Nam vẫn có thể vươn lên khi thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt mục tiêu xuất khẩu 4 tỉ đô la vào năm 2025 và 6 tỉ đô la vào năm 2030 theo Quyết định đã Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình

Một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình

LNV - Nghề thủ công truyền thống của các tộc người là một trong những vấn đề rất quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc, qua việc nghiên cứu cũng chính là sự bảo lưu và phát triển bản sắc văn hóa của họ trong cuộc sống hiện đại, đồng thời cũng là sự thể hiện sâu sắc và đầy đủ nhất những giá trị nhân văn cùng những tinh hoa của văn hóa tộc người, đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa các dân tộc ở Việt Nam. Trong đó có các nghề thủ công truyền thống của người Mường Tân Lạc - Hòa Bình.
Cần đa dạng mẫu mã sản phẩm làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu

Cần đa dạng mẫu mã sản phẩm làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu

LNV - Ngay từ năm 1958, sản phẩm thủ công của các làng nghề đã được chọn làm mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Trong suốt thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, thị trường xuất khẩu của sản phẩm thủ công chỉ bó hẹp trong các nước Xã hội chủ nghĩa. Đến thời kỳ đổi mới và gỡ bỏ cấm vận, các sản phẩm thủ công mới có cơ hội mở rộng thị trường, tiếp cận với các nước Âu, Mỹ, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công tăng lên nhanh chóng, và nhiều chủng loại mặt hàng mới cũng xuất hiện ngày càng nhiều.
Thực trạng xuất khẩu hàng Thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

Thực trạng xuất khẩu hàng Thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

LNV - Thị trường thủ công mỹ nghệ toàn cầu được định giá 1,007 tỷ USD vào năm 2023, và hướng đến con số 1,107 tỷ USD vào năm 2024 và 2,394 tỷ USD vào năm 2032. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nhờ sự đa dạng ngành nghề và giàu tài nguyên.
Cần sự gắn kết giữa nhà sản xuất, nhà thiết kế mẫu mã sản phẩm, mẫu bao bì và xây dựng thương hiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Cần sự gắn kết giữa nhà sản xuất, nhà thiết kế mẫu mã sản phẩm, mẫu bao bì và xây dựng thương hiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có hơn 5.000 làng nghề và làng có nghề, thu hút gần 10 triệu lao động, mang lại giá trị xuất khẩu hơn 1,7 tỷ USD/năm. Những con số trên cho thấy sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề đã mang lại nhiều lợi nhuận, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng đất nước, an sinh xã hội và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Vì sao ô nhiễm môi trường làng nghề chưa được giải quyết triệt để?

Vì sao ô nhiễm môi trường làng nghề chưa được giải quyết triệt để?

LNV - Dù chính sách về bảo vệ môi trường làng nghề cơ bản đầy đủ song tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu vực này vẫn chưa được giải quyết, gây ra nhiều hệ lụy.
Làng nghề Bát Tràng là thành viên mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo toàn cầu

Làng nghề Bát Tràng là thành viên mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo toàn cầu

LNV - Ngày 21/10, Hội đồng giám khảo quốc tế của Hội đồng Thủ công Thế giới đã có dịp gặp gỡ nhiều nghệ nhân nổi tiếng và thăm quan các di chỉ gốm tại làng Bát Tràng. Qua những trải nghiệm ấy, Hội đồng giám khảo quốc tế, Hội đồng Thủ công Thế giới đã xem xét công nhận làng nghề Bát Tràng, huyện Gia Lâm (Hà Nội) trở thành thành viên của Mạng lưới các thành phố Thủ công sáng tạo toàn cầu.
Thực trạng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

Thực trạng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam

LNV - Thị trường thủ công mỹ nghệ toàn cầu được định giá 1,007 tỷ USD vào năm 2023, và hướng đến con số 1,107 tỷ USD vào năm 2024 và 2,394 tỷ USD vào năm 2032. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN), nhờ sự đa dạng ngành nghề và giàu tài nguyên.
Marketing, xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề

Marketing, xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề

LNV - Sáng 9/10, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Cục Công thương Địa phương phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hưng Yên tổ chức Hội thảo: "Tư vấn nâng cao năng lực marketing xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề Việt Nam". Đây là đề án thuộc Chương trình Khuyến công quốc gia năm 2024 của Bộ Công Thương.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Phú Yên đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Phú Yên đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

LNV - Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng tỉnh Phú Yên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc trao tặng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Phú Yên Huân chương Lao động hạng Nhất vì những đóng góp x
Giữ “lửa” cho nghề rèn Đa Sỹ

Giữ “lửa” cho nghề rèn Đa Sỹ

LNV - Mỗi năm, doanh thu đến từ các làng nghề trên địa bàn TP. Hà Nội đạt hơn 1 tỷ USD, đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế của Thủ đô. Tuy nhiên, trong bối cảnh sức cạnh tranh thị trường ngày càng tăng cao với sự góp mặt của hàng hóa ngoại nhập thì việc tìm hướng đi mới phù hợp xu thế hiện đại là hành động cấp thiết để bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống của Thành phố, trong đó có nghề rèn tại làng Đa Sỹ.
Sức sống ở làng nghề Yên Bái

Sức sống ở làng nghề Yên Bái

LNV - Mang trong mình những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt của người dân mỗi địa phương, mỗi vùng đất; thế nên không ít nghề truyền thống và các sản phẩm của làng nghề ở Yên Bái không những không bị mai một mà ngày càng khẳng định giá trị nhờ đổi mới sáng tạo, kết hợp du lịch, thương mại điện tử và xu hướng tiêu dùng xanh.
Làng nghề đúc đồng nghìn năm tuổi ở xứ Thanh

Làng nghề đúc đồng nghìn năm tuổi ở xứ Thanh

LNV - Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nghề đúc đồng ở làng Trà Đông (Thanh Hóa) vẫn giữ được nét độc đáo, đặc trưng, tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay.
Làng nghề nuôi cá triệu đô

Làng nghề nuôi cá triệu đô

LNV - Huyện Bình Chánh đang triển khai kế hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề cá kiểng tại xã Bình Lợi, nơi có tổng diện tích nuôi cá cảnh trên địa bàn khoảng 60ha. Riêng xã Bình Lợi, diện tích nuôi cá koi, chép Nam Dương và chép Nhật đã đạt khoảng 20ha. Đây được xem là mô hình kinh tế nông nghiệp đô thị hiệu quả, thu hút nhiều hộ dân tham gia sản xuất. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nước dồi dào và kinh nghiệm nuôi cá kiểng lâu năm của người dân, Bình Lợi đang từng bước trở thành trung tâm sản xuất cá cảnh quy mô lớn của TP. Hồ Chí Minh.
Giao diện di động