Hà Nội: 21°C Hà Nội
Đà Nẵng: 25°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

500 năm định danh gốm cổ Thanh Hà

LNV - Không sở hữu vẻ đẹp sang trọng, tinh xảo về đường nét, kiểu dáng cùng với những gam màu đầy lung linh, quyến rũ như các dòng gốm danh tiếng xứ Bắc như Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng... gốm Thanh Hà suốt 500 năm qua luôn giữ cho mình nét duyên thầm riêng có. Bằng chất gốm dày, giản đơn, thô mộc và gần gũi như chính cái tình của đất và chất quê hồn hậu, nôm na, dễ gần của người xứ Quảng, để từ đó định danh nên một dòng gốm cổ nổi tiếng nhất miền Trung.


Gốm Thanh Hà trong ứng dụng trang trí kiến trúc.


Từ giấc mơ được chén của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng

Truyền thuyết kể rằng, sau khi lập Dinh trấn Thanh Chiêm (năm 1602) ở Điện Bàn, Quảng Nam, vào một đêm nằm ngủ, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mộng thấy có người đàn bà đẹp xưng là nữ thần hiện lên dâng cho mình một chiếc chén rất đẹp và dặn rằng, Chúa hãy đi tới đất Nam Diêu (tức làng Thanh Hà ngày nay), cách 3 dặm về phía Bắc, sẽ tìm thấy nơi lập làng nghề mới cho dân đặng làm kế ổn định mà xây dựng cơ nghiệp về sau.

Sáng hôm sau, Chúa Tiên theo lời dặn vượt qua con sông đi về phía Bắc chừng 3 dặm thì thấy một ngôi miếu nhỏ có tên là miếu Nam Diêu. Kỳ lạ thay, trong miếu có bày chiếc chén đất nung giống y như chiếc chén mà nữ thần đã tặng Chúa trong giấc mộng. Thấy giấc mộng ứng với điềm lành, chúa âm thầm sai người ra Bắc chiêu mộ thợ giỏi vào làm nghề, từ đó hình thành nên làng gốm Thanh Hà.

Cá chép đất chưa qua nung.


Chuyện ấy thực hư không rõ thế nào, nhưng cứ chiếu theo sử sách và các tài liệu gia phả cổ của các dòng họ ở làng Thanh Hà hiện có thì thấy rằng, sau chiến thắng Trà Bàn (1471), vua Lê Thánh Tông đặt nơi đây làm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đánh dấu cho sự ra đời của danh xưng Quảng Nam, điều đó cũng đồng nghĩa với việc làng Thanh Hà cũng ra đời vào khoảng thời gian này. Bên cạnh đó, theo các nhà nghiên cứu, đình làng Thanh Hà được lập muộn nhất vào đầu thế kỷ thứ 16. Và theo lẽ tự nhiên, để có đình thì trước đó một thời gian lâu dài nơi đây đã có cư dân sinh sống và lập làng, lập ấp. Vì vậy có thể khẳng định rằng làng Thanh Hà được lập vào khoảng thế kỷ 15.

Đáng chú ý, trong các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ thực hiện vào năm 1941-1943 cho biết, làng Thanh Hà có 8 vị tiền hiền của 8 tộc gọi là “bát tôn”, gồm tiền hiền tộc Nguyễn Văn, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Nguyễn Kim, Ngụy Như, Bùi Phước, Võ Đình, Võ Văn. Cư dân trong làng ngoài nghề làm nông còn có nghề làm gạch, ngói, đồ gốm. Riêng trong gia phả của hầu hết các dòng họ này còn ghi rõ thủy tổ của họ là người Thanh Hóa di cư vào khai khẩn đất Thanh Hà. Cũng theo các tài liệu của Viện Viễn Đông bác cổ, thời nhà Nguyễn, nghề làm gạch, ngói của làng Thanh Hà rất phát triển, một số thợ giỏi được vời ra kinh đô Huế làm tại tượng cục, tức quan xưởng chuyên lo việc chế tác đồ ngự dụng, tàu thuyền, súng ống, đúc tiền và vật liệu xây dựng. Thậm chí có ông Bùi Phước Thạnh giỏi nghề nung ngói và gạch lưu ly còn được vua Minh Mạng phong trật Chánh Cửu phẩm, hay như ông Bùi Phước Châu được vua Thiệu Trị phong trật Tòng Cửu phẩm.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín tranh thủ lúc nông nhàn làm thêm sản phẩm ông Táo đất.


Lại nói về cái sự độc đáo của nghề gốm Thanh Hà. Thuở xưa, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi danh gốm Thanh Hà là thổ sản của xứ Quảng Nam. Người Thanh Hà làm gốm không chuộng lấy cái hình thức tinh xảo, óng chuốt như gốm Chu Đậu, Bát Tràng ở ngoài Bắc mà chú trọng vào cái sự chắc khỏe có phần thô mộc, giản dị và gần gũi của mỗi món đồ làm ra. Vì lẽ đó, gốm Thanh Hà đa phần là đồ gốm nung, không tráng men, ít trang trí và cốt gốm dày dặn. Sản phẩm làm ra chủ yếu theo cách chuốt nặn bằng tay trên bàn xoay đạp chân và đem nung trong lò đốt củi. Người thợ giỏi có thể nhìn sắc màu ngọn khói tỏa ra từ lò nung mà đoán được gốm chín hay chưa. Sản phẩm khá phong phú, đa dạng từ các loại chum, hũ, lọ, om, bình, nồi, bình vôi, tò he, bùng binh, ngói các loại...

Ông Táo đất vừa mới ra lò, sản phẩm quen thuộc của làng gốm Thanh Hà.


Kể từ chuyện Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nằm mộng được tặng chén tiên rồi hình thành nên nghề gốm đến nay, đã trải mấy trăm năm dâu bể, nghề gốm Thanh Hà cùng với đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng không chỉ được định danh mà còn tạo thành bộ ba chân kiềng nghề thủ công lừng danh xứ Quảng, để cho câu hát “Thanh Hà vẫn gạch bát nồi / Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh” còn truyền tụng đến muôn đời sau.

Đến làng nghề di sản nổi danh thời hậu thế

500 làng gốm cổ Thanh Hà có lẽ cũng sẽ đi vào quên lãng nếu như không có sự giữ gìn và phát triển của lớp lớp hậu bối về sau. Ngày nay, tuy công nghệ làm gốm đã phát triển vượt bậc so với trước nhưng người Thanh Hà chủ yếu vẫn giữ cách làm gốm theo lối thủ công như cha ông họ từ hàng trăm năm về trước. Đó là lối làm gốm bằng bằng xoay đạp chân, nung củi, không tráng men và ít trang trí.

Bàn xoay đạp chân, một kỹ thuật làm gốm cổ của người Thanh Hà.


Để theo kịp với xu thế mới, một số nghệ nhân trẻ của làng cũng ra sức tìm tòi những phương thức mới, chủ yếu để sản xuất các dòng sản phẩm gốm trang trí có tính mĩ thuật cao và cũng đã gặp hái được không ít thành công, nhưng đa phần vẫn thích phong cách làm gốm cũ bởi có lẽ nó thể hiện được cái hồn và bản sắc riêng của gốm Thanh Hà mà không nơi nào có được. Vì vậy sản phẩm làm ra tuy có mang dáng dấp thời thượng nhưng người ta vẫn thấy ở đó phảng phất sự dung dị, khỏe khoắn vốn có của chất gốm xứ này.

Trong xu thế đời sống hiện nay người làm gốm Thanh Hà cũng có cái lo chung trong chuyện cơm áo gạo tiền. Đó là làm sao vừa bảo tồn được nghề xưa nhưng đồng thời cũng phải tìm cách sống được với nghề, bởi suy cho cùng gốm không phải là nghề dễ làm giàu như bao nghề khác. Vì thế, ngoài những sản phẩm truyền thống đang có đầu ra tạm ổn như nồi, niêu, om, bùng binh... nhiều người cũng bắt đầu tìm cách chuyển hướng sang sản xuất những mặt gốm trang trí có tính ứng dụng cao như tranh, tượng, phù điêu, chân đèn, chậu hoa... Thậm chí có người còn tranh thủ lúc nông nhàn giữa năm làm thêm ông Táo đất để phục vụ thị trường cúng ông Công ông Táo vào dịp cuối năm.

Chữ bằng gốm trang trí ở một homestay.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín của làng gốm Thanh Hà cho biết, giờ cũng ít người theo nghề làm Táo đất, ngay trong nhà ông cũng chỉ có ông và vợ cặm cụi làm cho vui chứ hai đứa con cũng không ham. “Làm Táo đất thu nhập không nhiều nhưng nếu chịu khó cũng đủ lo được một cái Tết tươm tất cho gia đình, với lại được cái vui và giữ được nghề xưa để làm du lịch”, ông Chín nói.

Một tín hiệu khả quan cho làng nghề gốm Thanh Hà đó là kể từ khi Hội An trở thành trung tâm du lịch của miền Trung thì làng cũng trở thành điểm thu hút khách tham quan. Ngoại trừ sự ảnh hưởng của đợt dịch COVID-19 lần này, còn như mọi năm lượng du khách đến làng khá đông, vừa giúp người dân có điều kiện tăng thêm thu nhập từ việc bán đồ gốm lưu niệm và các dịch vụ khác vừa tạo thêm không khí sôi động của làng nghề. Nắm bắt được cơ hội này, chính quyền địa phương và người dân cũng nhanh nhạy và năng động mở thêm nhiều hoạt động quảng bá du lịch như tổ chức lễ hội làng nghề, làm homestay, mở hiệu buôn bán đồ gốm mĩ nghệ, mở tour khám phá cho du khách tự tay trải nghiệm làm gốm...

Bùng binh đất (hay còn gọi đồng binh, một dạng heo đất đựng tiền tiết kiệm), sản phẩm truyền thống của làng gốm Thanh Hà.


Theo thông tin từ Cục Di sản Văn hóa của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, làng Thanh Hà hiện có 32 hộ làm gốm với 134 lao động trên tổng số 320 hộ, trong đó có 5 hộ làm gốm truyền thống, 13 hộ làm con thổi, số còn lại là hộ làm gốm mỹ nghệ và có ít nhất là 3 người buôn gốm chuyên nghiệp. Cả làng hiện có 4 lò gốm truyền thống (lò úp, lò bầu), 4 lò ngửa để nung gốm mĩ nghệ, 5 lò ngửa để nung con thổi. Đội ngũ thợ gốm ở Thanh Hà hiện nay đều là hậu duệ của các dòng họ làm gốm nổi tiếng như họ: Nguyễn Viết, Nguyễn Văn, Ngụy, Bùi, Phạm, Lê... nối mạch cao quý một trong những dòng gốm lâu đời nhất Việt Nam.

Làng gốm Thanh Hà thuộc phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Làng nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, cách phố cổ Hội An chừng 3km về hướng Tây. Hằng năm, vào ngày mùng 10 tháng Bảy (âm lịch) lễ giỗ tổ làng nghề diễn ra rất long trọng tại khu miếu cổ Nam Diêu với nhiều hoạt động văn hóa, tâm linh rất đặc sắc. Ngay giữa làng gốm Thanh Hà hiện có Công viên đất nung rộng hơn 5.000m2, là nơi trưng bày nhiều sản phẩm gốm đặc sắc của Thanh Hà, là bảo tàng và địa chỉ tham quan gốm độc đáo của Việt Nam.

Theo Thái Hoàng

Tin liên quan

Tin mới hơn

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?

Tin khác

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức phong tặng Danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ XII, dự kiến vào đầu tháng 12 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2005- 2025), Phóng viên Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn NGƯT Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

LNV - Hà Nội vừa là một thủ đô của các ngành nghề thủ công mỹ nghệ đặc sắc, vừa là trung tâm du lịch lớn của đất nước.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

LNV - Các nghệ nhân không chỉ gìn giữ bản sắc truyền thống, mà còn tạo ra các dòng sản phẩm công mỹ nghệ mang tính nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng của người tiêu dùng toàn cầu.
Xu hướng thị trường và giải pháp phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ

Xu hướng thị trường và giải pháp phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Nước ta có khoảng 5411 làng nghề và làng có nghề trong đó có hơn 1800 làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) truyền thống. Ngành nghề TCMN truyền thống có hoạt động sản xuất lâu đời gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và đời sống cộng đồng nông thôn. Không chỉ đóng góp vào việc bảo tồn di sản, ngành nghề TCMN còn mang lại giá trị kinh tế đáng kể, tạo hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

LNV - Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước có khoảng hơn 5.400 làng nghề, trong đó, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng có hơn 1.500 làng, với khoảng 300 làng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

LNV - Xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững cho làng nghề Hà Nội nói chung và ngành thủ công mỹ nghệ nói riêng đang là bài toán nan giải, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên và giải pháp đồng bộ.
Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Các vùng nông thôn của Nghệ An có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng như cái, tre, nứa, luồng, cói, mây, gỗ, đá, đất sét…Những nguyên liệu này là cơ sở để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ của Nghệ An được sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống, và rất phù hợp để phát triển quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững...
Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

LNV - Nguồn nguyên liệu là 'nút thắt cổ chai' lớn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ và đòi hỏi một chiến lược tái cấu trúc toàn diện từ cấp vùng đến liên kết vùng.
Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

LNV - Các làng nghề đang có những chuyển biến tích cực từ nhận thức, tới hành động, nói không với sản xuất, kinh doanh hàng giả. Việc làng nghề nói không với sản xuất hàng giả sẽ góp phần xây dựng lại một môi trường kinh doanh chất lượng, uy tín.
Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

LNV - Ngày 25/7 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn tới.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

LNV - Việc bảo tồn và phát triển làng nghề không chỉ dừng lại ở gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn là câu chuyện hội nhập, đổi mới sáng tạo và nâng tầm sản phẩm thủ công Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ Đồng kỵ - Bắc Ninh

Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ Đồng kỵ - Bắc Ninh

LNV - Làng Đồng Kỵ ở sát bờ Nam sông Ngũ Huyện Khê – đây cũng là con sông chứng nhân lịch sử của dân tộc, của Bắc Ninh. Trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay Đồng Kỵ đã trở thành nơi sản xuất và cung cấp đồ gỗ mỹ nghệ lớn, không chỉ cung cấp sản phẩm cho các nơi trong nước mà còn ra cả các nước khác trên thế giới.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tỉnh Gia Lai tham dự Diễn đàn du lịch ASEAN lần thứ 45 tại Philippines

Tỉnh Gia Lai tham dự Diễn đàn du lịch ASEAN lần thứ 45 tại Philippines

LNV - Tối 28/1, tại TP. Cebu (Philippines), Diễn đàn du lịch ASEAN lần thứ 45 đã chính thức khai mạc. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Nguyễn Thị Thanh Lịch dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh Gia Lai tham dự lễ khai mạc. Dự lễ khai mạc có Tiến sĩ Kao Kim Hourn
Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Thái Đại Ngọc tiếp đoàn đại biểu tỉnh Champasak – Lào sang thăm chúc Tết

Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Thái Đại Ngọc tiếp đoàn đại biểu tỉnh Champasak – Lào sang thăm chúc Tết

LNV - Chiều 29/1, tại trụ sở Tỉnh ủy Gia Lai, đồng chí Thái Đại Ngọc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai tiếp đoàn đại biểu tỉnh Champasak (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), do đồng chí Souphap Thammahacksa - Phó Bí thư Tỉnh
Trao Huy hiệu Đảng tại phường Hai Bà Trưng: Tri ân những cống hiến bền bỉ vì Đảng, vì dân

Trao Huy hiệu Đảng tại phường Hai Bà Trưng: Tri ân những cống hiến bền bỉ vì Đảng, vì dân

LNV - Trong không khí phấn khởi kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đảng bộ phường Hai Bà Trưng (Hà Nội) long trọng tổ chức Lễ trao Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026, thể
Lễ hội Văn hoá Liverpool kỷ niệm quan hệ kết nghĩa TP. HCM - Liverpool

Lễ hội Văn hoá Liverpool kỷ niệm quan hệ kết nghĩa TP. HCM - Liverpool

LNV - Lễ hội Văn hoá Liverpool tại TP. HCM mở ra không gian giao lưu nghệ thuật - sáng tạo đặc sắc, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ
Gia Lai chuẩn bị tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư 2026

Gia Lai chuẩn bị tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư 2026

LNV - UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành kế hoạch tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2026, dự kiến diễn ra vào ngày 29/3/2026 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, số 01 Nguyễn Tất Thành, phường Quy Nhơn. Đây là sự kiện xúc tiến đầu tư quy mô lớn của đị
Giao diện di động