Thứ sáu, 31-07-2020 | 14:18GMT+7

Xây dựng thương hiệu Làng nghề - Góc nhìn từ chính sách

LNV - Xây dựng thương hiệu là việc không đơn giản, nhất là đối với các làng nghề, cơ sở sản xuất TCMN, khi các chủ thể này còn nhiều hạn chế về năng lực, trình độ quản lý, phát triển sản xuất, chưa hiểu biết nhiều về thương hiệu, cách làm, cách bảo vệ nó... Ngay cả với doanh nghiệp thì đa phần cũng chưa được hướng dẫn cụ thể, chưa biết làm thương hiệu như thế nào. Bên cạnh đó, các làng nghề vốn dĩ có truyền thống sản xuất các sản phẩm đồng loạt, truyền tay, ít đầu tư tìm tòi, thay đổi mẫu mã để từ đó đăng ký thương hiệu hoặc bản quyền sản phẩm.
Trong kinh tế thị trường và mở rộng hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tập hợp các yếu tố xác định và phân biệt sản phẩm, đảm bảo bảo sức cạnh tranh, tiêu thụ sản phẩm, mà nó thực sự trở thành nguồn vốn,tài sản có giá trị rất lớn, là chỗ dựa cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và sự bền vững của làng nghề. Bởi lẽ thương hiệu còn hàm chứa toàn bộ năng lực của chủ thể sản xuất kinh doanh.

Thương hiệu của sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) lại càng có ý nghĩa to lớn vì giá trị gia tăng mà nó tạo ra cho ngành nghề nông thôn (NNNT) - một lĩnh vực sản xuất phổ biến trên địa bàn nông thôn rộng lớn, có vai trò ngày càng quan trọng với phát triểnkinh tế tổng hợp ở nông thôn nước ta. Hiện nay, hoạt động sản xuất của các làng nghề đã thu hút 30% lao động, tạo việc làm cho khoảng 11 triệu lao động nông thôn. Số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn tăng lên với tốc độ bình quân 8,8% - 9,8%/năm. Từ năm 2017, tổng doanh thu từ các hoạt động NNNT cả nước đạt trên 1 triệu tỷ đồng. Cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 2.008 làng nghề, làng nghề truyền thống và 115 nghề truyền thống đã được công nhận.Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân của làng nghề khoảng 15%/năm. Năm 2018, Tổng doanh thu từ các hoạt động NNNT trong 2008 làng nghề đạt gần 36 nghìn  tỷ đồng, trong đó nhóm sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ chiếm số lượng lớn nhất. TCMN tạo ra mặt hàng chủ lực của làng nghề, thu hút khoảng 1,5 triệu lao động, mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm.

Từ năm 2000 kim ngạch xuất khẩu luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 12%/năm, cá biệt có năm đạt tới 17% - 18%. Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm TCMN từ năm 2010 đến nay bình quân đạt 6%/năm và là ngành mang lại giá trị gia tăng cao, gần 70%( ). Việc xây dựng thương hiệu cho nhóm hàng này được xem là vô cùng quan trọng đối với NNNT nói riêng, kinh tế nông thôn nước ta nói chung.
 

Ảnh minh họa.

Sản phẩm TCMN nước ta vốn rất có ưu thế về xây dựng thương hiệu nhờ truyền thống, bản sắc và danh tiếng vốn có. Nhưng trong bối cảnh hội nhập, trước sức ép của thị trường, nhiều sản phẩm làng nghề Việt dần bị mai một, thậm chí nhiều làng nghề rơi vào tình trạng lắp ráp, gia công sản phẩm. Ở một khía cạnh khác, nhiều làng nghề không giữ được thương hiệu vốn có và bị đánh cắp thương hiệu. Các tồn tại, yếu kém trong xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm TCMN cũng chính làvấn đề lớn mà Nhà nước, các bộ ngành, địa phương cần có cơ chế, chính sách tập trung giải quyết. Các chính sách của nhà nước về thương hiệu làng nghề và sản phẩm TCMN cần hướng đến tác động toàn diện, cả về nhận thức, ý thức thương hiệu; về thiết kế mẫu mã gắn với phát huy bản sắc truyền thống; về liên kết người sản xuất, tiêu thụ theo chiều ngang và chiều dọc; quảng bá thương hiệu gắn với du lịch và XTTM; về bảo hộ sở hữu trí tuệ…

1. Làm thế nào để hiểu và có ý thức về thương hiệu?

Xây dựng thương hiệu là việc không đơn giản, nhất là đối với các làng nghề, cơ sở sản xuất TCMN, khi các chủ thể này còn nhiều hạn chế về năng lực, trình độ quản lý, phát triển sản xuất, chưa hiểu biết nhiều về thương hiệu, cách làm, cách bảo vệ nó... Ngay cả với doanh nghiệp thì đa phần cũng chưa được hướng dẫn cụ thể, chưa biết làm thương hiệu như thế nào. Bên cạnh đó, các làng nghề vốn dĩ có truyền thống sản xuất các sản phẩm đồng loạt, truyền tay, ít đầu tư tìm tòi, thay đổi mẫu mã để từ đó đăng ký thương hiệu hoặc bản quyền sản phẩm.

Thương hiệu có nhiều cấp độ khác nhau, với mức độ tác động khác nhau: thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; thương hiệu của làng nghề, địa phương; thương hiệu quốc gia. Thương hiệu doanh nghiệp gắn với sản phẩm, chất lượng cụ thể của doanh nghiệp, là tài sản riêng của doanh nghiệp. Thương hiệu địa phương, làng nghề gắn với chỉ dẫn địa lý, với nhóm sản phẩm chung, với điểm du lịch của địa phương, là tài sản của cả cộng đồng địa phương, làng nghề, đem lại nhiều lợi ích hơn so với thương hiệu doanh nghiệp. Nó giúptiếp cận được các đơn hàng lớn,giải quyết đầu ra cho sản phẩm, giải quyết việc làm, quảng bá bá du lịch và đóng vai trò như “đặc sản” du lịch vùng.

Mặc dù thương hiệu quan trọng như vậy và các sản phẩm làng nghề có nhiều lợi thế về tiếng tăm, sự quen biết, nhưng việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm TCMN, cho làng nghề vẫn không phải là một điều dễ dàng, vì nó phụ thuộc vào các cơ sở sản xuất, tiêu thụ và cộng đồng người dân trên địa bàn.Các thành phần của thương hiệu như: nhãn hiệu; tên thương mại; các chỉ dẫn địa lý; bao bì sản phẩm,... chưa được các cơ sở sản xuất, làng nghề quan tâm đúng mức. Hoạt động nghiên cứu thị trường cũng chưa thực sự được quan tâm. Nhiều sản phẩm không được mang thương hiệu cá nhân, doanh nghiệp, mà phải mang thương hiệu của đơn vị đặt hàng. Có làng nghề xuất khẩu được các containe hàng đi các nước, nhưng vẫn chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu của mình cho đến khi bị kiện cáo về thương hiệu. Đặc biệt là kiến thức về sở hữu trí tuệ ít được người dân quan tâm.

Thực trạng loay hoay thương hiệu đó là do nhận thức và năng lực hạn chế. Không nhiều làng nghề có được logo trên sản phẩm để nhận diện như đồ gỗ Đồng Kỵ, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc… Rất cần thay đổi nhận thức cũ:“hữu xạ tự nhiên hương”. Bên cạnh chất lượng tốt của sản phẩm phải cần có giải pháp chủ động giới thiệu và tích cực quảng bá nó.Chính sách nhà nước cần quan tâm đến nâng cao nhận thức, ý thức về thương hiệu cho các làng nghề, chứ không chỉ tập trung cho các hoạt động bề nổi XTTM, giúp cho các cơ sở sản xuất làng nghề nắm vững và triển khai được các bước của quy trình xây dựng thương hiệu sản phẩm TCMN:

(1) Thu thập, nghiên cứu và phân tích thông tin.

(2) Xây dựng tầm nhìn thương hiệu.

(3) Hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu.

(4) Định vị thương hiệu.

(5) Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu. 

(6) Thiết kế thương hiệu. 

(7) Thực hiện phát triển thương hiệu.

(8) Bảo vệ thương hiệu (Đăng ký bảo hộ thương hiệu; Xây dựng các biện pháp tự bảo vệ thương hiệu).

(9) Đánh giá thương hiệu.

Để giải quyết vấn đề về nhận thức và ý thức thương hiệu cần có những giải pháp phù hợp với từng địa phương, ngành nghề cụ thể, Nhà nước và các địa phương không thể phó mặc cho cơ sở sản xuất, làng nghề tự loay hoay, mầy mò với tư duy cũ, cách làm cũ:

- Chính quyền các cấp cần coi trọng và quan tâm nhiều hơn đến thương hiệu sản phẩm TCMN. Mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng thương hiệu cần được đặt lên vị trí cao, thậm chí cao hơn cả quy hoạch phát triển. Vì tác động của quy hoạch ngày càng bị hạn chế trước sự điều tiết của thị trường trong thời kỳ bùng nổ thông tin mạng, đồng thời nhờ thương hiệu mà chúng ta có thể thay đổi cả quy hoạch lỗi thời.

- Các địa phương cấp tỉnh, cấp huyện cần có những lực lượng tư vấn hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các làng nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh theo phương thức cầm tay chỉ việc, làm mẫu và phổ biến rộng rãi. Tổ chức các đợt tập huấn, bồi dưỡng về xây dựng, phát triển thương hiệu;

- Cần đổi mới hoạt động của các HTX, tổ hợp tác, thành lập các tổ chức cơ sở của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, của các hiệp hội ngành hàng tại các làng nghề, địa phương, để liên kết người sản xuất kinh doanh xây dựng thương hiệu của đơn vị và địa phương, mà trước hết là tuyên truyền, nâng cao nhận thức về thương hiệu, ý thức gắn kết cộng đồng trong sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường, giám sát chất lượng, giá cả…

- Cần sự hỗ trợ của Nhà nước, địa phương về đào tạo ở các cấp trình độ cho lao động nghề TCMN, trong đó có đào tạo về thiết kế mẫu mã gắn với xây dựng thương hiệu, sở hữu trí tuệ. Không thể làm nên thương hiệu của sản phẩm và địa phương nếu vẫn là những con người với tư duy cũ như hiện nay.

Sự hỗ trợ của các cấp từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố, quận huyện cho thực hiện các giải pháp trên lấy từ nguồn hỗ trợ XTTM;thực hiện các chính sách về đào tạo nông dân, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, đổi mới hoạt động HTX, tổ hợp tác; chính sách khuyến khích phát triển NNNT theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006, cũng như Nghị định thay thế tới đây…

2. Cần có sản phẩm tốtthì mới có thương hiệu

Để xây dựng thương hiệu trước hết phải có sản phẩm tốt. Sản phẩm TCMN là sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao, được coi là biểu tượng của nghề truyền thống. Tuy nhiên, để xây dựng thương hiệu các sản phẩm đó cần được cải tiến về mẫu mã, thiết kế; nâng cao và đảm bảo độ ổn định của chất lượng; có bao bì phù hợp, độc đáo… Cùng với cải tiến mẫu mã phải đảm bảo tính truyền thống và bản sắc vùng miền, địa phương, thậm chí bản sắc của mỗi nghệ nhân trong sản phẩm. Đây là vấn đề đã được phân tích nhiều.Đó là vấn đề quan trọng trong xây dựng thương hiệu mà chính sách nhà nước cần quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện giải quyết.

Xây dựng thương hiệu cũng chính là quá trình tăng sức cạnh tranh, tiêu thụ sản phẩm bằng tất cả các giải pháp tác động đến hình thức và chất lượng của sản phẩm. Thương hiệu chỉ đứng vững khi được đảm bảo bởi chất lượng của mỗi sản phẩm và sự ổn định chất lượng của cả dòng sản phẩm. Muốn vậy, quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm cần phải được hoàn thiện, cả tay nghề và công nghệ sản xuất.

Khi đi khảo sát thực tế, chúng tôi thường nghe được ý kiến của các địa phương, rằng họ chưa có đội ngũ tạo mẫu có trình độ cao. Do vậy, đầu tư cho việc đào tạo các họa sỹ mẫu có trình độ chuyên nghiệp là sự đầu tư khôn ngoan để giúp ngành thủ công mỹ nghệ phát triển. Tuy nhiên, không thể cứ ngồi chờ sự xuất hiện của các chuyên gia này. Vì vậy trong khi đào tạo các chuyên gia, thì một trong các yếu tố mang tính quyết định đến sự sáng tạo mẫu mã sản phẩm làng nghề chính là đội ngũ các nghệ nhân, thợ giỏi. Chúng ta cần hỗ trợ họ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật cả về ý thương xây dựng thương hiệu trong sáng tạo sản phẩm.

Đồng thời, việc cải tiễn mẫu mã cần được liên kết chặt chẽ với điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, xây dựng được tầm nhìn, tránh cải tiến không có định hướng, bị mất gốc như hiện nay, chạy theo nhu cầu nhất thời của các đơn đặt hàng, loay hoay "đẽo cày giữa đường"…

Nhà nước cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến tôn vinh nghệ nhân, tạo điều kiện cho họ truyền nghề, đào tạo thợ giỏi. Đồng thời có cơ chế tuyển sinh, đào tạo các họa sĩ thiết kế mẫu mã sản phẩm TCMN cho các làng nghề, nhất là đối với những sản phẩm TCMN chủ lực, khu vực đồng bào dân tộc ít người…

Bên cạnh đó Nhà nước và các địa phương tiếp tục đầu tư mạnh hơn cho các cuộc thi sản phẩm thủ công hàng năm theo các quy mô toàn quốc, vùng miền địa phương, tạo điều kiện để các làng nghề giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, cải tiến công nghệ, mẫu mã, liên kết xây dựng thương hiệu…

Nhà nước ưu tiên các dự án khuyến công, khuyến nông hoàn thiện công nghệ, trang thiết bị sản xuất hàng TCMN gắn với xây dựng thương hiệu.

3. Xây dựng, quảng bá thương hiệu làng nghề cần phải chung sức và liên kết

Hiện nay, có nhiều làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm, phát triển nghề ra hàng trăm hộ, nhưng tiếng tăm của sản phẩm vẫn "hữu xạ tự nhiên hương", chưa xây dựng được thương hiệu của làng, chưa tổ chức được hệ thống tiêu thụ, chưa chủ động trong xuất khẩu, mà còn phải lệ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp trung gian. Bên cạnh đó cũng chưa khai thác được tiềm năng du lịch làng nghề. Đã đến lúc các làng nghề cần đăng ký nhãn mác để đảm bảo quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng. Nếu các làng nghề không đăng ký bảo hộ thương hiệu thì chắc chắn sẽ gặp khó khăn khi nhiều sản phẩm cùng loại được tung ra thị trường, uy tín sản phẩm đích thực của làng nghề sẽ có nguy cơ bị giảm sút.

Khó khăn của các làng nghề trong xây dựng thương hiệu chính là các khó khăn trong phát triển sản xuất, như thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, mặt bằng sản xuất, phải giải quyết các vấn đề khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường… Cách làm “độc lập tác chiến”, mạnh ai nấy làm, quảng bá nhỏ lẻ, không nằm trong một chiến lược phát triển chung nào, đồng thời với việc thiếu thông tin kinh tế đã khiến nhiều hộ dân làng nghề lao vào sản xuất mà không tiêu thụ được hàng hoá, không ít làng nghề đã rơi vào tình trạng phá sản.Bên cạnh đó, việc thả nổi chất lượng sản phẩm ở một bộ phận hộ dân làng nghề hiện nay đã vô tình kéo lùi sự phát triển của thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch. Cho dù đó chỉ là những “con sâu bỏ rầu nồi canh”, nhưng những hạt sạn như vậy trong sản xuất sản phẩm văn hóa sẽ khó được du khách chấp nhận. Thực trạng đó khiến ngành du lịch buộc phải lựa chọn những làng nghề tiêu biểu, đặc sắc nhất để đưa du khách đến, còn số đông các làng nghề khác bị bỏ rơi.

Rõ ràng, xây dựng xây dựng thương hiệu làng nghề không chỉ là quảng bá tiêu thụ sản phẩm, mà còn là giải pháp hàng đầu cho phát triển đa dạng và bền vững kinh tế nông thôn, không chỉ giúp phát triển du lịch, mà còn thúc đẩy đổi mới quan hệ sản xuất, tổ chức liên kết giữa những người sản xuất (chiều ngang) và liên kết chuỗi sản xuất – tiêu thụ giữa nông dân – DN (chiều dọc). 

Bên cạnh hệ thống sản phẩm tốt, việc xây dựng thương hiệu làng nghề đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân trên địa bàn. Điều này đảm bảo duy trì được chất lượng ổn định của hệ thống sản phẩm; mở rộng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra sự đa dạng trong mẫu mã sản phẩm, giúp thực hiện được chiến lược phát triển thương hiệu, xây dựng được hệ thống nhận diện thương hiệu, bảo vệ thương hiệu…

Xây dựng thương hiệu của làng nghề đồng nhất với việc loại trừ cạnh tranh nhỏ lẻ, manh mún giữa các cơ sở sản xuất với từng doanh nghiệp tiêu thụ, loại trừ việc làm hàng nhái, hàng giả giữa các cơ sở sản xuất cùng một loại sản phẩm trong làng nghề, làm mất đi uy tín làng nghề. Thay vào đó làng nghề cần có định hướng, xác lập quyền sở hữu trí tuệ chung và phân công lại sản xuất, hỗ trợ lẫn nhau để nâng cao tay nghề, công nghệ, chất lượng sản phẩm, cùng nhau giữ gìn thương hiệu làng nghề, tránh bị ép giá, hạ giá, giúp sản phẩm vươn được xa hơn trong nước và quốc tế. Làm được điều này sẽ tạo ra động lực, mô hình tăng trưởng mới cho làng nghề.

Xây dựng thương hiệu làng nghề, nhãn hiệu tập thể đồng nhất với việc thiết lập cơ chế bảo hộ, quản lý và khai thác nhãn hiệu tập thể đó, với nâng cao ý thức, bảo vệ quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân. Ngăn chặn và phòng, chống các hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu tập thể. Nhờ đó sẽ nâng cao được vị thế và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, củng cố lòng tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Xây dựng thương hiệu làng nghề kèm theo nhiều nhiệm vụ triển khai các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể như: phối hợp cùng với doanh nghiệp, người sản xuất, hiệp hội làng nghề tham gia hội chợ quảng bá sản phẩm và tìm kiếm địa điểm để bày bán và giới thiệu sản phẩm, mở website, đưa lên các ttrang mạng xã hội…

Để thúc đẩy xây dựng thương hiệu làng nghề, các địa phương cần tập trung hỗ trợ các làng trọng điểm, làm mẫu để nhân rộng. Theo kinh nghiệm một số nơi, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh phối hợp với Trung tâm Phát triển doanh nghiệp nông thôn trên địa bàn triển khai thực hiện các loại dự án tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể, chọn làng nghề tiêu biểu để hỗ trợ. Đồng thời khuyến khích thành lập và hỗ trợ hoạt động Hiệp hội làng nghề ở địa phương, làm tổ chức tự quản của người dân để cùng triển khai dự án ( ).

Đồng thời các địa phương cần hỗ trợ các làng nghề khắc phục những lỗ hổngkiến thức về nhãn hiệu tập thể; nâng cao năng lực, trình độ quản lý nhãn hiệu tập thể; nâng cao năng lực của các cơ sở sản xuất, chứ không chỉ các doanh nghiệp lớn; xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng làng nghề, xử lý môi trường. Làng có thương hiệu phải là làng đi đầu trong xây dựng NTM, kết nối các dịch vụ với du lịch.
Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu của gốm sứ Bát Tràng và lụa Vạn Phúc là rất quý để các làng nghề và chính quyền các địa phương tham khảo( ).

4. Nhà nước cần dẫn dắt các làng nghề tham gia Thương hiệu Quốc gia

Ngày 17 tháng 11 năm 2015, tại Hà Nội, Bộ Công Thương (Cục Xúc tiến thương mại) - Ban Thư ký Chương trình Thương hiệu Quốc gia và Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ tổ chức giới thiệu Thương hiệu Quốc gia ngành TCMN.Sáng kiến xây dựng thương hiệu ngành TCMN"Vietcraft Excellence" được dựa trên các giá trị bền vững về sinh thái, kinh tế, xã hội và văn hóa, phù hợp với các thông lệ và xu hướng hợp chuẩn quốc tế, ra đời từ dự án "Chương trình Sản xuất và Thương mại xanh" nhằm tăng thu nhập và cơ hội việc làm cho người nghèo ở nông thôn, do Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) thực hiện.

Được sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP), các doanh nghiệp TCMN Việt Nam sẽ có cơ hội để cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được thương hiệu Vietcraft Excellence trên cơ sở đáp ứng được các giá trị bền vững của ngành TCMN Việt Nam, bao gồm 46 tiêu chí được xem xét từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, từ bền vững về nguyên liệu, bền vững về sản xuất tạo ra sản phẩm, bền vững trong quá trình phân phối, bền vững trong quá trình sử dụng của người tiêu dùng và bền vững sau khi sản phẩm hết tuổi thọ sử dụng. Các doanh nghiệp đạt được "Vietcraft Excellence" cũng có cơ hội tiếp cận tốt hơn với thị trường Châu Âu, một thị trường rất quan trọng đối với Việt Nam.

Thương hiệu Quốc gia ngành TCMN Việt Nam đảm bảo sự khác biệt của sản phẩm, thể hiện đặc trưng văn hóa của Việt Nam so với so với các đối tác khác dựa trên các yếu tố sản xuất bền vững trên toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm hàng thủ công. Đây cũng là yếu tố chính để doanh nghiệp đạt được thương hiệu "Vietcraft Excellence". Vietcraft Excellence sẽ được cấp cho các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chí về phát triển bền vững.

Vậy các DN, cơ sở sản xuất TCMN và làng nghề làm gì để được tham giavào Thương hiệu Quốc gia này? Đây là vấn đề hiện còn đang bỏ trống. Các làng nghề có thể tham gia Thương hiệu Quốc gia ngành TCMN không? Ngay cả các doanh nghiệp cũng chưa nắm rõ cơ hội này.

Chúng tôi đề nghị các cấp chính quyền, tổ chức hiệp hội cần tuyên truyền, phổ biến rõ ràng, cụ thể Thương hiệu Quốc gia này, cùng với đó là những quy định, hướng dẫn hết sức chi tiết của các cơ quan quản lý ngành, các đơn vị XTTM về các điều kiện tham gia Thương hiệu Quốc gia TCMN.

5. Hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề là đầu tư có hiệu quả cao của Nhà nước

Từ các nhu cầu cấp thiết nói trên, các cấp quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các ban ngành, tổ chức hiệp hội cần dành nhiều hơn sự quan tâm cho xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề, trong đó, Nhà nước cần có chính sách rõ ràng và thỏa đáng hơn. Nếu tính toàn bộ các cơ sở SXKD ngành nghề nông thôn, thì cả nước hiện nay chỉ có 56.000 DN; 797 HTX; 119 THT đang hoạt động, quá ít so với tổng số DN và các tổ chức kinh tế tập thể cả nước. Số đơn vị SXKD sản phẩm TCMN lại càng ít, chỉ một phần trong đó. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về xây dựng thương hiệu cho khu vực này không hoàn toàn đều là các công cụ tài chính cần chi từ nguồn ngân sách nhà nước và chỉ chiếm một phần nhỏ trong chính sách hỗ trợ XTTM nói chung. Có nghĩa, Nhà nước hoàn toàn đủ nguồn lực để quan tâm mạnh hơn cho xây dựng thương hiệu các làng nghề và sản phẩm làng nghề. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế từ việc hỗ trợ này là rất lớn, giúp tăng nhanh kinh tế tổng hợp và mức thu nhập của nông thôn, giảm nhanh hơn chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, từ đó phát triển mạnh mẽ thị trường, kích cầu tích cực hơn cho các sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, xây dựng và các ngành kinh tế khác.

Trên đây là một số ý kiến tham luận có tính gợi ý.Còn nhiều khía cạnh của thương hiệu chưa được bàn đến. Rất mong Hội thảo bổ sung, làm sâu sắc hơn.
 
TSKH. Bạch Quốc Khang
PCT Hội đồng Tư vấn Hiệp hội Làng nghề Việt Nam