Thứ năm, 02-02-2023 | 12:51GMT+7

Nghề thủ công và làng nghề ở Việt Nam

LNV - Về tầm quan trọng của lý luận cũng như quan hệ giữa lý luận và hoạt động thực tiễn, từ nhiều năm nay, các chuyên gia, nhà nghiên cứu đã có những đúc kết có tính kinh điển; song đối với làng nghề chúng ta ngày nay, đây vẫn là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu cấn đi sâu nghiên cứu để có nhận thức sâu sắc hơn và vận dụng hiệu quả hơn trong thực tế.
Từ khi thành lập (2005) đến nay, trong khuôn khổ hoạt động của mình, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo,  có một số bài nghiên cứu có giá trị các tác giả Nguyễn Vi Khải, Tôn Gia Hóa, Lê Việt Trường. Đáng chú ý một công trình có tính lý luận là Tiểu luận “Giá trị nghề thủ công và làng nghề” của Nhà nghiên cứu Nguyễn Lực, Phó chủ tịch Hội đồng Tư vấn Hiệp hội  Làng nghề Việt Nam đang trong quá trình hoàn chỉnh. Tuy vậy, nhìn chung, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghề thủ công và làng nghề trong Hiệp hội vẫn còn quá yếu, chưa trở thành chủ trương. (Xin lưu ý: bài này chỉ bàn trong phạm vi Hiệp hội, không bàn về các nghiên cứu bên ngoài). 



 
Dưới đây, xin nêu lên một số gợi ý đề làng nghề chúng ta cùng suy nghĩ; cũng là kiến nghị với lãnh đạo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và ba viện nghiên cứu trực thuộc Hiệp hội: Viện Nghiên cứu Ứng dụng mỹ thuật sản phẩm làng nghề Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hướng nghiệp Hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Thị trường và Truyền thông quốc tế.
 
LÝ LUẬN SOI ĐƯỜNG CHO THỰC TIỄN

Trước tiên, xin ghi lại những kiến thức cơ bản đã được các nhà nghiên cứu đúc kết xung quanh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn để chúng ta có thêm nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của lý luận trong hoạt động của 
Hiệp hội.

Một là, “Lý luận” là gì ? Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh có tính logic chặt chẽ về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn. 

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, điều kiện trong các hình thức thực tiễn; từ đó tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận. Chính vì vậy, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện lý luận và lý luận soi đường cho thực tiễn để kiểm chứng và đồng thời tiếp tục được hoàn thiện từ thực tiễn; cũng tức là lý luận có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn. 

Hai là, “Thực tiễn” là gì? Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người: có con người mới có thực tiễn, bởi con người hoạt động có mục đích rõ ràng nhằm cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động với thế giới xung quanh .

Về vai trò của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở của lý luận: thông qua hoạt động thực tiễn, những thuộc tính, quan hệ, tính chất, cấu trúc của sự vật được phản ánh, hình thành tri thức kinh nghiệm, được con người hệ thống hoá, khái quát hoá hình thành nên lý luận. Thực tiễn làm cho xã hội ngày càng phát triển, trí tuệ ngày càng cao hơn, khả năng nhận thức và khái quát lý luận ngày càng tốt hơn, qua đó, hệ thống lý luận ngày càng hoàn thiện và phát triển. Vì vây, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự phù hợp hay không phù hợp của lý luận.

Ba là, “Vai trò của lý luận đối với thực tiễn”. Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn vì lý luận nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của hiện thực. Lý luận giúp cho việc xác định mục tiêu, phương hướng, điều chỉnh hoạt động thực tiễn theo đúng mục tiêu đã xác định và vạch ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn, làm cho hoạt động trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát, hiệu quả thấp.

Xin ghi lại quan điểm của Hồ Chủ tịch về tầm quan trọng của lý luận. Trong cuốn "Sửa đổi lối làm việc" (1947), Người đã viết: "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” .Theo Người, có những cán bộ khinh lý luận thường là những người cán bộ, đảng viên cũ, làm được việc, những cán bộ thường đã nhiều tuổi, có nhiều năm công tác, nhưng do ngại học hỏi, do coi thường lý luận, họ cho rằng giải quyết công việc chỉ cần trên kinh nghiệm là đủ. Người chỉ rõ: "Kinh nghiệm của họ tuy tốt nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi… Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ".

Trong thời đại ngày nay, khi trong làng nghề chúng ta, đang có xu hướng thực dụng, chỉ chú trọng những hoạt động bề nổi, hình thức, trong khi đó xem nhẹ, thậm chí coi thường lý luận, lười đọc, lười nghiên cứu, thì những lời dạy của tiền nhân vẫn có ý 
nghĩa thời sự.  

HAI TÁC PHẨM CỦA THỜI TRƯỚC

Ngược dòng lịch sử, có thể thấy từ hàng chục năm trước, trong chế độ xã hội cũ, đã có nhiều nhà nghiên cứu sớm nhận rõ giá trị của nghề thủ công đối với nền kinh tế cũng như đời sống của dân cư làng xã. Đã có những công trình nghiên cứu có giá trị về lý luận và thực tiễn. Dưới đây, xin giới thiệu tóm tắt hai tác phẩm nổi bật.   

Cuốn Les Industries Familiales de Hadong (Nghề truyền thống Hà Đông) của Hoàng Trọng Phu, bản tiếng Việt in năm 1932. Hoàng Trọng Phu (1872 – 1946) quê ở làng Đông Thái, xã Việt Yên hạ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1888, Hoàng Trọng Phu được chính quyền thuộc địa Pháp cử sang học trường Thuộc địa (École Coloniale) tại Paris (Pháp). Năm 1897, ông làm Án sát Bắc Ninh, giảng dạy trường Hậu bổ rồi Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên). Năm 1906, ông làm Tổng đốc tỉnh Hà Đông đến năm 1937 thì về hưu và mất năm 1946.  

Hoàng Trọng Phu là người đã dành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu và phát triển các nghề truyền thống ở tỉnh Hà Đông Ông nhìn thấy không chỉ các giá trị văn hóa độc đáo của các nghề, làng nghề mà cả ý nghĩa, vai trò kinh tế của các nghề đối với đời sống nhân dân. Ông đã viết cuốn Les Industries Familiales de Hadong (Nghề truyền thống Hà Đông) mô tả chi tiết về các làng nghề truyền thống của tỉnh Hà Đông, thống kê được toàn tỉnh Hà Đông có 136 ngành nghề thủ công với nhiều sản phẩm nổi tiếng, nhất là ngành tơ lụa, khảm trai, thêu ren. Trong Lời nói đầu của cuốn sách, đề ngày 15-7-1932, ông viết: “Trong các tỉnh ở Bắc Kỳ, hình như Hà Đông tập hợp được phần lớn các nghề có tầm quan trọng đặc biệt bởi sự đa dạng và sự phát triển của ngành nghề. Những đồ dùng bằng đồi mồi, đồ gỗ, và nhất là the lụa và hàng thêu của Hà Đông được tất cả người sành ưa chuộng”.

Hoàng Trọng Phu cũng đã đóng góp nhiều công sức phát triển các làng nghề, góp phần giải quyết vấn đề dân sinh, khôi phục các làng nghề cho tỉnh Hà Đông vốn đã nổi tiếng với "the La, lụa Vạn, chồi Phùng". Ông quan tâm phát triển làng nghề lụa Vạn Phúc trở thành một “mô hình” kiểu mẫu về kinh tế làng nghề thủ công. Để tôn vinh và quảng bá sản phẩm, ông mở bảo tàng mỹ nghệ cho các nghệ nhân ở La Cả, La Khê. Ông mời nghệ nhân điêu khắc gỗ Nguyễn Văn Đông ở làng Nhân Hiền, phủ Thường Tín về làm Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Bách nghệ; thành lập Hội Tiểu canh nông công nghệ Hà Đông. Ông cử các phái đoàn mang sản phẩm thủ công (the, lụa, mây tre đan) tham dự triển lãm tại Paris (Pháp). Ông còn chọn các nghệ nhân đưa sang Trung Quốc học nghề lụa tơ tằm, sang Nhật học sơn mài, nghề mộc, nghề bạc. 

Cuốn “Les paysans du delta tonkinois) của Pierre Gourou” (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) viết năm 1936, bản dịch tiếng Việt của Nxb Trẻ, năm 2004. Pierre Gourou (1900 - 1999)  là Thạc sĩ sử học và địa lý học, Tiến sĩ văn chương, Ủy viên thông tấn Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, cũng đã từng là giáo sư đại học ở Hà Nội, có nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam như: Bắc Kỳ (1931), Nhà ở Việt Nam - miền Tây và Trung Trung Kỳ (1936), Sử dụng đất ở Đông Dương thuộc Pháp (1940), Đất và người ở Viễn Đông (1940), Lúa và văn minh (1984)... Ông đã thực hiện nhiều cuộc điều tra trên thực địa, tiếp xúc với nông dân, chú ý đến cấu trúc gia đình, tín ngưỡng tôn giáo… 

Tác phẩm “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” là một tác phẩm đặc sắc nghiên cứu về châu thổ sông Hồng, cái nôi của nền văn minh Việt Nam. Riêng về nghề thủ công, theo Pierre Gourou, đồng bằng Bắc Bộ thời đó có 108 nghề thủ công, trong đó có chín nghề cơ bản, đó là: nghề dệt; nghề chế biến thực phẩm; nghề đan lát; nghề mộc; nghề sản xuất vôi, gạch, ngói, thợ nề; nghề làm giấy, vàng mã; nghề rèn, đúc, chế biến kim loại; nghề làm nông cụ; nghề gốm. Thợ thủ công chuyên nghiệp vùng này thời đó có khoảng 250.000 người, chiếm 6,8% dân số; nếu kể cả số lao động không chuyên thì chiếm khoảng 8% dân số. Trong đó, tỉnh Hà Đông có số lao động thủ công đông nhất, lên đến 65.000 người, tỉnh Thái Bình có 32.000 người. Xét về ngành nghề, nghề dệt chiếm số đông, lên tới 54.200 thợ; chế biến thực phẩm có 54.000 thợ, nghề đan lát 41.000 thợ, nghề mộc có 
31.200 thợ... 

Có thể khẳng định: mặc dù cuốn sách “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” được xuất bản vào những năm 30 của thế kỷ trước, nhưng đến nay, nó vẫn là một công trình nghiên cứu có giá trị về lý luận và tực tiễn mang tính thời sự, vì vùng đất này vẫn là nơi tập trung nhất cả nước lưu giữ những tinh hoa của nghề thủ công truyền thống nước ta.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 

 Ngày nay, thực tiễn càng ngày càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của lý luận: lý luận có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, xác định phương pháp, biện pháp thực hiện, liên kết, tập hợp lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của các cá nhân và xã hội. 

Đối với nghề thủ công và làng nghề chúng ta, vai trò của lý luận cần được coi như một đòi hỏi cấp bách, cũng có thể nói là có ý nghĩa sống còn. Thực tiễn ấy đang rất cần tổng kết, phân tích, nghiên cứu, đúc kết một cách hệ thống để hình thành những vấn đề có tính lý luận định hướng cho các hoạt động từ nay về sau. Trên thế giới, đang có rất nhiều vấn đề mới trong lý luận về nghề thủ công so với tư duy xưa nay; vần đề đặt ra cho chúng ta chính là cần những nhận thức mới về lý luận cho phù hợp với những thay đổi của thế giới đối với di sản văn hóa phi vật thể mà nghề thủ công là một đại diện quan trọng. Nếu không, sự tụt hậu về lý luận không phải là nguy cơ mà đã là hiện thực và sản phẩm của làng nghề chúng ta không thể bắt kịp nhu cầu của thị trường đang thay đổi nhanh chóng, kể cả trong nước và nước ngoài.

Xin lưu ý: bài viết này phân biệt hai phạm trù “nghề thủ công” và “làng nghề”, trong đó, quan trọng nhất là “nghề thủ công”, vì đó là “hồn cốt” của làng nghề, nhân tố hình thành các làng nghề truyền thống, là sự thể hiện cụ thể của tinh hoa văn hóa nghề thủ công, có sự khác biệt của mỗi vùng, miền, góp phần vào nền văn hóa đa dạng của nước ta. Hơn thế nữa, điều cần nhấn mạnh là do sản phẩm thủ công được kết tinh bằng tâm hồn, trí tuệ, khối óc và bàn tay của mỗi nghệ nhân, mang bản sắc của nghệ nhân, do đó, nghề thủ công luôn phát triển, luôn sáng tạo, không có điểm dừng. “Nghề thủ công” đã được UNESCO tôn vinh là “Di sản Văn hóa phi vật thể”, ngày nay vẫn được bảo tồn ngay tại các nước công nghiệp phát triển vì đó là những nghề dùng các nguyên vật liệu thân thiện với môi trường, theo xu hướng “sản xuất xanh”, “tiêu dùng xanh” của xã hội mới. 

Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nêu cao khát vọng xây dựng đất nước hùng cường với những mục tiêu cụ thể cho từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Tình hình mới về kinh tế-xã hội của nước ta cũng như trên thế giới trải qua những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, những khó khăn về năng lượng, lạm phát, giá cả tăng cao, nhu cầu tiêu dùng của người dân thay đổi, v.v... đang đặt ra những yêu cầu mới. Trong các làng nghề, mọi hoạt động cũng đang diễn ra hết sức phong phú; các ngành nghề thủ công cũng đang phát triển đa dạng và sản phẩm thủ công cũng đang phát triển với nhiều mẫu mã, kiểu dáng mới trong thị trường sôi động với những nhu cầu mới. Tình hình trên đây đang đòi hỏi đẩy mạnh hơn nữa việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nghề thủ công và làng nghề để có những cơ sở nền tảng “soi đường” cho các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng như làng nghề trong bước phát triển mới.

Rất mong có những bài nghiên cứu, tổng kết thực tiễn sâu sắc hơn về nghề thủ công như: sự phát triển của nghề thủ công theo chiều dài lịch sử của nước ta; giá trị văn hóa của nghề thủ công nước ta, có thể nghiên cứu sâu về những nghề tiêu biểu, ở một số vùng tiêu biểu: tính dân tộc và tính hiện đại, so sánh với nghề thủ công các nước trên thế giới; vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, hình thành đội ngũ nghệ nhân; nghề thủ công nước ta trong hội nhập quốc tế, đóng góp vào kho tàng lý luận về nghề thủ công thế giới; v.v...

Đối với làng nghề, xin hãy chú ý những vấn đề lý luận quan trọng như: sự chuyển biến và phát triển của làng nghề trong lịch sử (có thể đi sâu vào một số làng nghề tiêu biểu); những truyền thống của làng, xã cần gìn giữ và phát huy; vấn đề bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa làng nghề, tổ chức các lễ hội, tôn vinh các vị Tổ nghề; môi trường kinh doanh (các yếu tố chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, xã hội...) cho các làng nghề; vấn đề xây dựng “làng nghề văn hóa” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới; v.v...

Riêng với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, xin kiến nghị một số việc cụ thể như sau:

 - Hiệp hội khuyến khích, động viên các nhà nghiên cứu trong Hiệp hội, nhất là giao nhiệm vụ cho các viện trực thuộc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nghề thủ công và làng nghề; 
- Chủ động mở rộng quan hệ, mời các chuyên gia, nhà nghiên cứu,  các trường đại học, các viện nghiên cứu trong cả nước và hợp tác với nước ngoài cùng nghiên cứu đề tài này; 
- Tổ chức nhiều cuộc “Hội thảo lý luận và thực tiễn” chuyên đề về nghề thủ công và làng nghề, quy tụ các nhà nghiên cứu trong và ngoài Hiệp hội; khuyến khích xuất bản các ấn phẩm về đề tài này;

Với Tạp chí Làng nghề Việt Nam, xin kiến nghị:

- Nâng cao hơn nữa chất lượng lý luận của các bài trong chuyên mục “Nghiên cứu-trao đổi” của Tạp chí; 
- Chủ động tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về đề tài này.

Tóm lại, đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề lý luận trong bảo tồn và phát triển nghề thủ công và làng nghề là một nhiệm vụ có ý nghĩa vừa cơ bản vừa cấp bách trong hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chúng ta. Rất mong được Thường trực Hiệp hội quan tâm; các viện trực thuộc Hiệp hội chú trọng thực hiện; các nhà quản lý, các chuyên gia tâm huyết với làng nghề cùng tham gia nghiên cứu và góp thêm ý kiến.
 
    CGCC Vũ Quốc Tuấn
                                                Chủ tịch Hội đồng Tư vấn-Hiệp hội Làng nghề Việt Nam