Thứ năm, 18-03-2021 | 09:27GMT+7

Làm gì để phát triển làng nghề du lịch

LNV - Làng nghề du lịch là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó người dân không những tổ chức sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống mà còn cung cấp các dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch.
Phát triển du lịch làng nghề được coi là một hướng đi rất quan trọng để gìn giữ, giới thiệu, bảo tồn và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc, của quốc gia. Nó có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho khu vực nông thôn chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế theo hướng phát triển bền vững trong tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như trên thị trường quốc tế.  Ngoài ra, ở mỗi làng nghề du lịch là sự kết hợp với tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của bản thân làng nghề đó, để có thể tìm ra những nét độc đáo, gây ấn tượng cho du khách. 

Nếu trong một chương trình du lịch đúng dịp làng nghề tổ chức các lễ hội tôn vinh tổ nghề thì đó sẽ là dịp may hiếm có cho du khách và không thể bỏ qua. Các công ty du lịch cần tận dụng tốt những cơ hội như vậy để sắp xếp chương trình và thực hiện đan xen vào những điểm du lịch khác.
 

Du lịch làng nghề không chỉ đơn thuần là đến xem các nghệ nhân làng nghề làm ra sản phẩm, hay đến mua sắm, tham quan làng nghề mà khách du lịch còn mong muốn được tìm hiểu những giá trị nhân văn trong nó, những giá trị phi vật thể tồn tại hàng ngàn năm. 

Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu khách du lịch thì nên tổ chức, khôi phục lại các lễ hội làng nghề để thấy được xuất xứ làng nghề, ông tổ đã sinh ra nghề... và thấy được nét đẹp trong nghề đó. 

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi khai thác các làng nghề hoặc lễ hội truyền thống làm sản phẩm kinh doanh du lịch là họ sử dụng hình thức “3 cùng” gần giống với mô hình “homestay”. Đó là khách du lịch “ăn cùng, ở cùng và làm cùng” với những người dân bản địa của một làng nghề truyền thống nào đó. Với hình thức này, việc kéo khách du lịch cùng hòa vào cuộc sống của người dân bản địa sẽ làm cho thời gian của một chương trình du lịch được dài hơn. 
 

Khách du lịch trải nghiệm tại làng nghề. 

Đồng thời sự hứng thú đối với khách du lịch sẽ được tăng lên khi chính họ tận hưởng thành quả do chính bàn tay mình làm ra dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân làng nghề.

Nhiều nước trên thế giới cũng đã thành công với mô hình làng nghề làm du lịch. Ở Thái Lan hiện nay có khoảng 70.000 làng nghề thủ công, để thu hút du khách, tạo thu nhập, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, từ năm 2001 chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (mỗi xã một sản phẩm) dựa trên sáng kiến của Cục Xúc tiến xuất khẩu thuộc Bộ Thương mại Thái Lan. Đến nay, Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30-3.000 thành viên. Sự phát triển của OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan sống dậy, người dân có công ăn việc làm, tạo ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương. Tại Nhật Bản, nơi khởi đầu với OVOP từ năm 1979, chiến lược làm mới sản phẩm làng nghề cũng được thúc đẩy. Giám đốc điều hành Hiệp hội Xúc tiến các ngành công nghiệp thủ công truyền thống, kỹ thuật chế tạo đồ thủ công mỹ nghệ ở Nhật Bản đã được trao truyền, mỗi mặt hàng có đặc điểm riêng của từng địa phương. Bộ Kinh tế Nhật Bản thông qua Hiệp hội Xúc tiến các ngành công nghiệp thủ công truyền thống đã hỗ trợ các làng nghề bằng nhiều hình thức như khảo sát thăm dò thị trường, tổ chức triển lãm sản phẩm làng nghề, kết nối các nhà thiết kế và nghệ nhân thủ công mỹ nghệ truyền thống nhằm lên ý tưởng cho sản phẩm mới…
 

Du khách xem trình diễn dệt thổ cẩm Cơ Tu.

Việt Nam có rất nhiều làng nghề truyền thống, nhưng do chưa được quan tâm đúng mức nên du lịch gắn với làng nghề vẫn còn ở dạng tiềm năng, manh mún, chưa đem lại kết quả thiết thực cho việc cải thiện sinh kế của người dân. Chẳng hạn như ở Quảng Ninh, làng chài trên biển là một trong những sản phẩm du lịch đặc sắc trong hành trình khám phá vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long. Những làng chài nổi tiếng ở đây như Cửa Vạn, Ba Hang, Vung Viêng và làng chài trên vịnh Bái Tử Long với kiến trúc và phong tục truyền thống của dân chài đã làm nên điểm nhấn góp phần thu hút khách du lịch. Ninh Bình cũng là địa phương mà làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều lao động, sản phẩm có đầu ra, gắn liền với du lịch, nâng cao đời sống người dân và góp phần gìn giữ văn hoá. Trong số 60 làng nghề thủ công ở Ninh Bình có 36 làng nghề được công nhận là làng nghề thủ công truyền thống.

Tuy nhiên, nước ta hoạt động du lịch ở các làng nghề chủ yếu mang tính tự phát, chưa có đầu tư, khai thác theo hướng cộng đồng tham gia làm du lịch, nhận thức về du lịch còn hạn chế, chỉ tập trung các hoạt động sản xuất, thương mại. Do đó, muốn phát triển du lịch làng nghề bền vững, có thể thay đổi sinh kế của người dân, cần quan tâm đến những chính sách phát triển làng nghề ở địa phương như quy hoạch, chính sách hỗ trợ, những điều kiện chung cho phát triển của làng nghề như cơ sở hạ tầng, chương trình xây dựng nông thôn mới, quá trình đô thị hoá, mật độ dân cư, quỹ đất, không gian phát triển. Những vấn đề môi trường tại làng nghề cũng cần quan tâm và có giải pháp cụ thể như cảnh quan, vệ sinh chung, thu gom và xử lý rác, cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, ô nhiễm không khí, tiếng ồn. Đánh giá đúng thực trạng và khả năng bảo tồn, phát triển nghề truyền thống ở các địa phương, khả năng phát triển du lịch của các làng nghề truyền thống. Cần có sự gắn bó mật thiết của phát triển du lịch với nghề thủ công truyền thống và sản phẩm từ làng nghề,.

Tổng cục Du lịch đề xuất cần xây dựng cơ chế hợp tác, cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch làng nghề; Cần có sự đầu tư đúng mức và sự phối hợp của cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương các cấp trong việc giới thiệu, tổ chức, quản lý hoạt động du lịch khi mô hình được triển khai trong thực tế. Thiết lập mối quan hệ với các doanh nghiệp du lịch, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng để tìm đầu ra cho sản phẩm; tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch khi tham gia du lịch làng nghề. Tạo điều kiện về cơ chế, kinh phí, cơ sở vật chất cho việc xây dựng điển hình thí điểm tại làng nghề phù hợp. Về lâu dài, cần xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch đối với các làng nghề truyền thống; Liên kết xây dựng hệ thống kết nối trong công tác chỉ đạo, định hướng phát triển làng nghề truyền thống trong phát triển du lịch...
Bài, ảnh: Bình Nguyên