Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 31°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 32°C Thừa Thiên Huế

Sáng tạo tiếp nối truyền thống

LNV - Không chỉ góp phần bảo tồn được nghề làm giấy dó truyền thống của gia đình và của làng nghề Dương Ổ xưa, cô gái trẻ thế hệ 9X Ngô Thu Huyền còn tìm tòi, vận dụng những kỹ thuật làm giấy mới, tạo nên những loại giấy mang tính ứng dụng cao, đưa giấy dó nhập cuộc với đời sống hiện đại, phù hợp nhu cầu sử dụng đa dạng.
Nghề giấy dó ở Dương Ổ, phường Phong Khê, TP Bắc Ninh có gốc tích từ mấy trăm năm trước, nhưng từ bao giờ thì khó có thể biết được một cách chính xác. Ngay như ông Ngô Ðức Ðiều, một trong những người làm giấy dó nổi tiếng của làng và dòng họ Ngô Ðức cũng không biết rõ nghề của làng có vào năm nào và ông tổ nghề là ai. Có bề dày thời gian như vậy, nhưng do những thay đổi của thời cuộc và sự phát triển của công nghệ làm giấy công nghiệp, nhu cầu sử dụng giấy dó không nhiều, cho nên nghề làm giấy thủ công đứng trước nguy cơ mai một. Gia đình ông Ðiều có nhiều đời làm giấy dó như thế, nhưng đến bây giờ, con cái cũng lựa chọn công việc khác hoặc chuyển sang làm giấy công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ cô cháu gái Ngô Thu Huyền, lại mong muốn lưu giữ, tiếp nối nghề truyền thống của ông nội và đang từng bước gây dựng nên thương hiệu dòng giấy dó Ngô Ðức được nhiều người biết đến.


Ngô Thu Huyền nghiên cứu, ứng dụng giấy dó trên các sản phẩm hiện đại.


Ở với ông bà từ nhỏ, nên Huyền được tiếp xúc với nghề làm giấy rất sớm. Loanh quanh phụ giúp ông bà làm những công việc lặt vặt, cho nên Huyền say mê và yêu thích vỏ cây dó cùng những quy trình làm ra các tờ giấy mỏng manh. Khi cô bày tỏ muốn được làm nghề giấy, ông bà nội và gia đình đều không ủng hộ vì nghề vất vả, nhưng Huyền lại rất quyết tâm. Bản thân cô thấy tiếc nuối những giá trị nghề đã được trao truyền qua bao thế hệ. Nếu không có những người yêu mến giấy dó như cô và không có ai trong làng muốn làm nghề làm giấy dó nữa, khi đó nghề sẽ mai một và mất hẳn.

Thời xưa, các cụ trong làng đều làm giấy dó đơn thuần thủ công, bây giờ đã có sự hỗ trợ của máy móc trong một số công đoạn, khiến công việc cũng nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Trước kia, người thợ làm giấy phải giã dó bằng cối, còn hiện đã có máy nghiền làm thay. Công đoạn đãi dó cũng có máy rửa chứ không phải làm bằng tay như trước. Tùy theo từng loại giấy dó mà một số công đoạn có khác biệt đôi chút, nhưng nhìn chung vẫn phải trải qua những khâu cơ bản. Thời gian để làm từ vỏ cây dó ra tờ giấy dó từ một tháng đến tháng rưỡi tùy điều kiện thời tiết. Tính trung bình, cứ 5 kg vỏ dó đẹp thì làm được 1 kg giấy, tùy vào kích cỡ và định lượng sẽ ra số lượng giấy khác nhau.

Trước đây giấy dó là chất liệu dùng để làm các dòng tranh dân gian, tranh Phật giáo, chép gia phả, viết thư pháp, in tài liệu… với những kích cỡ khoảng: 40 cm x 60 cm, 60 cm x 80 cm, mầu nâu cơ bản, ngày nay, giấy dó Ngô Ðức đã phát triển lên đến hàng chục loại với kích cỡ khác nhau phù hợp nhu cầu sử dụng, đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng như giấy có họa tiết, hoa lá dùng để in danh thiếp, thiệp mừng, phong bì, làm sổ, khuyên tai, đèn lồng, gấp giấy nghệ thuật origami… Thành quả đầu tiên của Huyền với tư cách là một người thợ làm giấy thủ công là sản xuất dòng giấy dó phục vụ viết thư pháp hiện đại Calligraphy và vẽ mầu nước. Ý tưởng về dòng giấy này hình thành từ ba năm trước, khi Huyền bị cuốn hút bởi những chiếc thiệp mời, những thực đơn được thiết kế, viết tay tỉ mỉ theo một chủ đề thống nhất và hài hòa trong các lễ cưới trên ứng dụng instagram. Lúc đó, Huyền nghĩ, nếu những nét viết và các gam mầu ấy có thể kết hợp trên giấy dó thì thật tuyệt vời. Huyền chia sẻ với ông mình ý tưởng và hai ông cháu bắt tay cùng làm thử mẻ giấy Calligraphy đầu tiên trên chất liệu của dó. Huyền là người cầm khuôn tráng giấy, còn ông nội thì ngồi quan sát, chỉ dẫn. Một trong những khó khăn khi làm dòng giấy Calligraphy và mầu nước là việc kiểm soát độ loang và hút mầu hay mực. Không phải tất cả các loại mực, mầu, bút và kỹ thuật viết, vẽ đều hợp với dòng giấy thủ công này. Vì vậy, Huyền đã nghiên cứu một tỷ lệ pha trộn nguyên liệu vỏ cây và kỹ thuật làm giấy thích hợp để có thể hạn chế phần nào những nhược điểm khi dùng cho Calligraphy và mầu nước. Nghe Huyền kể lại những phản hồi tích cực từ khách hàng, ông nội của cô rất vui và tự hào...

Theo Ngô Thu Huyền, loại giấy dó tốt nhất không phải là loại giấy có chất lượng cao nhất, mà là loại giấy phù hợp với mục đích sử dụng nhất. Dù lý thuyết làm giấy dó đã được ông nội truyền đạt đầy đủ, nhưng làm đến đâu là đụng đến đó. Mỗi đơn hàng lại phát sinh cái khó khác nhau, phải điều chỉnh từng bước. Khó nhất là làm dòng giấy dùng phục chế tài liệu, sách báo bị mối mọt, bục rách trong các thư viện, Cục Lưu trữ quốc gia. Với định lượng rất mỏng, giấy dùng bồi lên tài liệu cũ, nhưng vẫn phải đọc được chữ, có nhiều lúc Huyền phải làm đi làm lại mấy tháng, do kỹ thuật tráng chưa đều tay, chỗ dày, chỗ mỏng. Có lần, nhận được yêu cầu từ phía khách hàng sản xuất loại giấy dó sử dụng in trên máy in la-de với bề mặt đanh mịn, hạn chế việc bung tơ sợi khi chạy qua lô mực in, Huyền đã phải loay hoay nghiên cứu mãi mới có kết quả, song chính từ những khó khăn như vậy đã giúp Huyền tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm và sở hữu các kỹ thuật làm giấy khác nhau.

Với đặc tính xốp nhẹ, bền dai và có độ đàn hồi cao, giấy dó dù bị ướt nước vẫn có thể trở về hình dạng ban đầu khi khô lại. Dường như vì lẽ ấy mà giấy dó mộc mạc, bình dị nhưng vẫn thật đặc biệt. Tận dụng ưu điểm của giấy dó cho những ứng dụng khác nhau, điều này giúp giấy dó Ngô Ðức đến gần người trực tiếp dùng giấy với yêu cầu đa dạng hơn, để từ đó có thể cải thiện sản phẩm cho phù hợp nhu cầu sử dụng. Việc đưa giấy dó tiếp cận giới trẻ đã góp phần tiếp tục lưu giữ và phát triển nghề thủ công truyền thống. Với sự sáng tạo riêng, mỗi người sử dụng như thổi hồn vào tờ giấy dó để khi bước ra khỏi xưởng, mỗi tờ giấy lại kể câu chuyện của riêng mình.

Bài và ảnh: Ngọc Liên

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.

Tin khác

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 “hồn thơm” hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 “hồn thơm” hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

LNV - Giữa vùng quê yên bình của xã Vạn Thắng, tỉnh Khánh Hòa, làng nghề trầm hương Phú Hội 1 đã tồn tại hơn một thế kỷ như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân địa phương. Qua nhiều thế hệ, nghề làm trầm không chỉ giúp người dân mưu sinh mà còn lưu giữ nét đẹp truyền thống đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là “xứ trầm hương” của Việt Nam.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Quảng Ninh gặp mặt chức sắc, chức việc Phật giáo nhân dịp Đại lễ Phật đản 2026

Quảng Ninh gặp mặt chức sắc, chức việc Phật giáo nhân dịp Đại lễ Phật đản 2026

Nhân dịp Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 - Dương lịch 2026, chiều ngày 27/5/2026 tỉnh Quảng Ninh tổ chức gặp mặt, chúc mừng các chức sắc, chức việc Phật giáo toàn tỉnh.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Giao diện di động