Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Phát huy di sản văn hóa phi vật thể làng nghề

LNV - Nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản”. Đây là một bộ sách có giá trị, thể hiện công sức rất đáng trân trọng của các tác giả và những người biên soạn, đã đề cập đề tài di sản văn hóa phi vật thể làng nghề mà chúng ta rất cần đi sâu nghiên cứu, bảo vệ, khai thác và phát huy.
RẤT CẦN NGHIÊN CỨU SÂU VỀ “NGHỀ” VÀ “LÀNG NGHỀ”

Cho đến nay, tuy chưa có số liệu thống kê, song cũng có thể thấy những sách nghiên cứu sâu về nghề thủ công và làng nghề Việt Nam chưa nhiều. Phần lớn vẫn dừng lại ở giới thiệu lịch sử, quá trình hình thành các nghề, các làng nghề hoặc lịch sử các vị Tổ nghề; Có những cuốn sách nặng về cung cấp thông tin (có khi người này sao chép lại của người khác, rất ít nội dung bổ sung hoặc tư liệu mới), thường thiếu phân tích, tổng kết; Lại càng thiếu những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống. Có thể nói: Trong khi các làng nghề cả nước, nhất là các làng nghề truyền thống đang ra sức khắc phục khó khăn để bảo vệ và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công đậm đà bản sắc của dân tộc ta, kể cả bản sắc của mỗi vùng, miền, thậm chí của mỗi làng nghề, mỗi nghệ nhân, thì việc nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, từ thực tiễn mà khái quát lên thành lý luận đang rất yếu, chưa được quan tâm đúng mức. Quan trọng hơn nữa là nếu nghiên cứu sâu lịch sử phát triển của mỗi nghề thủ công, có thể thấy giá trị cao đẹp của các nghề, công sức của cha ông ta trong phát triển nghề, những bước thăng trầm của mỗi nghề và sức sống mãnh liệt của mỗi nghề; Từ đó, thấy rõ hơn ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy di sản nghề và xây dựng làng nghề trong thời đại mới.


Có thể khẳng định: Nếu như công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nghề thủ công và làng nghề chưa theo kịp, chưa có những kiến thức, triết lý và khái niệm cần thiết về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống, thì rất dễ sa vào những vụ việc cụ thể, chạy theo hình thức mà không quan tâm nội dung, cũng dễ sa vào những hoạt động lợi dụng “thương mại hóa” di sản, thậm chí “kinh doanh tâm linh” thu lợi bất chính (như trong việc tôn tạo di sản, tổ chức lễ hội, tôn vinh …) mà xã hội đã lên án. Nếu như thế, càng khó có thể nói đến yêu cầu và sứ mạng của lý luận là tạo căn cứ cho hoạch định và thực thi những cơ chế, chính sách về nghề thủ công và làng nghề mà chúng ta vẫn nói đó là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc cần bảo vệ, khai thác và phát huy. Rõ ràng là đang rất cần những nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn đối với nghề thủ công và làng nghề làm cơ sở cho những cơ chế, chính sách cho bước phát triển bền vững của lĩnh vực này.

MỘT CUỐN SÁCH TÂM HUYẾT VÀ TRÍ TUỆ

Trong bối cảnh như trên, bộ sách “Làng nghề Viêt Nam- miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn đã thể hiện rõ “tâm” và “tầm” của những người chủ trì.

Bộ sách gồm 766 trang, chia làm hai tập: Tập 1 có tiêu đề “Di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống - Văn hóa sống của dân tộc”; Tập 2 có tiêu đề “Đa dạng di sản văn hóa phi vật thể - Nghề thủ công truyền thống Việt Nam”. Tập 1 gồm các bài viết đề cập những vấn đề chung về di sản văn hóa và nghề thủ công truyền thống Việt Nam, phát huy di sản bằng các hoạt động du lịch, đồng thời giới thiệu kinh nghiệm khá chi tiết của nước Áo trong việc khai thác, phát huy di sản, khi họ coi nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế của đất nước. Tập 2 đi sâu vào tính đa dạng của di sản văn hóa nghề thủ công truyền thống Việt Nam từ các vùng, miền đến một số địa phương tiêu biểu, một số nghề và nghệ nhân tiêu biểu. Như vậy là bộ sách đã đi từ nhận thức lý luận đến thực tiễn, cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, phong phú, vừa rộng vừa sâu.


Qua bộ sách, có thể thấy những vấn đề quan trọng góp phần giúp người đọc thêm kiến thức, khẳng định những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống nước ta cũng như yêu cầu bảo vệ và phát huy các di sản quý báu ấy.

Trước hết, đó là nhận thức sâu thêm thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” và những vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công.

Theo bộ sách, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm “các truyền thống hoặc các biểu hiện sống mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ tổ tiên và đang truyền lại cho con cháu đời sau, chẳng hạn như biểu đạt truyền khẩu, phong tục, tập quán, nghệ thuật biểu diễn, thực hành, ứng xử xã hội, nghi lễ, sự kiện lễ hội, kiến thức và thực hành liên quan đến tự nhiên và vũ trụ hoặc kiến thức và kỹ năng để sản xuất đồ thủ công truyền thống” (tr. 54). “Nghề thủ công truyền thống” đã được khẳng định là một trong 05 hình thức di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003. Luật Di sản văn hóa của Việt Nam năm 2009 cũng đã quy định “Nghề thủ công truyền thống” là một trong 07 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Như vậy, người đọc không những hiểu sâu về di sản văn hóa phi vật thể trong các nghề thủ công mỹ nghệ, mà còn hiểu thêm rằng “tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể không phải là sự thể hiện văn hóa của chính nó mà là sự giàu có của kiến thức và kỹ năng được truyền lại thông qua sự thể hiện từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo” (tr. 55). Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định “di sản văn hóa phi vật thể là di sản sống của chúng ta” (tr.57), khi họ coi di sản văn hóa không chỉ bao gồm các đặc tính hữu hình, mà đặc biệt hơn nữa, còn có các yếu tố thiết yếu đại diện cho văn hóa sống của cộng đồng con người với sự tiến hóa và phát triển liên tục của con người.

Hai là, nhũng đóng góp rất quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Như Chương trình nghị sự vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015 đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, có thể thấy di sản văn hóa phi vật thể có thể đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững trên từng phương diện nói trên. Đối với nước ta cũng vậy, bộ sách đã diễn giải về từng lĩnh vực mà chúng ta đang quan tâm trong sự phát triển bền vững đất nước (từ tr. 107). Đó là: (i) Phát triển xã hội toàn diện, trong đó có việc bảo đảm an ninh lương thực bền vững; Chăm sóc y tế chất lượng; Tiếp cận nguồn nước và vệ sinh môi trường an toàn; Giáo dục có chất lượng; Hệ thống bảo trợ xã hội cho mọi người và bình đẳng giới. (ii) Bền vững về môi trường, trong đó có các nội dung như giúp bảo vệ đa dạng sinh học; góp phần bảo vệ môi trường bền vững; Góp phần tăng khả năng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; (iii) Phát triển kinh tế toàn diện; Quan trọng nhất là những tri thức, kỹ năng và thực hành nghề được các thế hệ duy trì và phát huy, tạo sinh kế cho các nhóm và cộng đồng dân cư nông thôn; Góp phần tạo nguồn lực cho phát triển; Tạo ra thu nhập và công việc bền vững cho nhiều cá nhân và cộng đồng, bao gồm người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương; triển khai các hoạt động du lịch liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể; và (iv) Bảo vệ hòa bình và an ninh: Góp phần duy trì sự bình yên, tình thương yêu trong cộng đồng; Giúp ngăn chặn hoặc giải quyết các tranh chấp về lợi ích, giúp mọi cơ sở liên kết với nhau theo chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh, từ đó bảo đảm an ninh, đồng thuận xã hội, vượt qua sự hiểu lầm, thậm chí đối đầu, hận thù và bạo lực.

Ba là, những giải pháp chủ yếu để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản phi vật thể nghề thủ công truyền thống.

Bộ sách đã chỉ ra các yếu tố cấu thành chính của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm sự “tự xác định”, cùng với sự “tái tạo liên tục” để đáp ứng nhu cầu của xã hội, “mối liên hệ với bản sắc văn hóa” của các cộng đồng với nhóm người; “tính xác thực” của chúng; Và mối quan hệ không thể hòa tan của chúng với quyền con người (tr. 52); Chính vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ, đây là một yêu cầu mang tính quốc tế.

Theo các tác giả của bộ sách, Công ước 2003 của Liên hợp quốc chủ yếu đề cập các kỹ năng và kiến thức liên quan đến nghề thủ công hơn là bản thân các sản phẩm thủ công; thay vì tập trung vào việc bảo tồn các hiện vật thủ công, các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công nghiệp tập trung vào việc khuyến khích các nghệ nhân tiếp tục sản xuất thủ công và truyền kỹ năng và kiến thức của họ cho người khác, đặc biệt là trong cộng đồng của chính họ (tr. 99). Nói cách khác, “mục tiêu của việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công là bảo đảm rằng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể tiếp tục được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, cung cấp sinh kế cho người làm và phản ánh sự sáng tạo” (tr. 101). Trách nhiệm này không phải của ai khác, mà chính là của cộng động các làng nghề thủ công truyền thống, với sự trợ giúp của các tổ chức xã hội liên quan và về cơ chế, chính sách của cơ quan nhà nước.

Đáng chú ý là bộ sách đã giới thiệu khá chi tiết bản Báo cáo “Nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế Áo” do đích thân Thủ tướng Liên bang Áo và Bộ kinh tế và kỹ thuật số Liên bang Áo ủy quyền thực hiện năm 2019. Báo cáo dày 230 trang, được các tác giả bộ sách giới thiệu tóm tắt nhưng rất đầy đủ, coi đây là một “quy trình nghiên cứu khoa học về giá trị nghề thủ công truyền thống, đồng thời cung cấp những kết luận khoa học. Tài liệu này có thể được tham khảo nhằm rút ngắn quá trình nghiên cứu nghề thủ công truyền thống Việt Nam “ (tr. 193). Tác giả nhấn mạnh “Mối quan tâm chính của Báo cáo không phải là bảo quản các đồ vật mà là bảo vệ quá trình sản xuất – điều này đòi hỏi phải bảo vệ các tài năng, kỹ năng và kiến thức chuyên môn cần thiết để sản xuất các đồ vật đó” (tr. 196). Từ đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy đội ngũ nghệ nhân các làng nghề truyền thống.

Trên đây, là một số cảm nhận đối với bộ sách “Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn - một bộ sách quý thể hiện Tâm và Tầm của nhũng người biên soạn, xin được giới thiệu để những người quan tâm đến vấn đề di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống tìm đọc. Phải chăng, qua bộ sách, những người biên soạn muốn nói với các nhà quản lý, các làng nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề những trăn trở, suy nghĩ về tương lai thật chưa rõ ràng, bền vững trong công cuộc chấn hưng và phát triển làng nghề nước ta? Mong rằng những cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm nắm và hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, từ đó có những giải pháp thiết thực để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công rất quý của dân tộc ta theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam


Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.

Tin khác

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức phong tặng Danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ XII, dự kiến vào đầu tháng 12 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2005- 2025), Phóng viên Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn NGƯT Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

LNV - Hà Nội vừa là một thủ đô của các ngành nghề thủ công mỹ nghệ đặc sắc, vừa là trung tâm du lịch lớn của đất nước.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

LNV - Các nghệ nhân không chỉ gìn giữ bản sắc truyền thống, mà còn tạo ra các dòng sản phẩm công mỹ nghệ mang tính nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng của người tiêu dùng toàn cầu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Phú Thọ: Khi hợp tác xã “lên đời” nhờ số hoá

Phú Thọ: Khi hợp tác xã “lên đời” nhờ số hoá

Nhiều hợp tác xã tại Phú Thọ đang tận dụng chuyển đổi số để đổi mới sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời đại kinh tế số.
Lan tỏa yêu thương từ mái ấm dành cho bệnh nhân ung thư.

Lan tỏa yêu thương từ mái ấm dành cho bệnh nhân ung thư.

LNV - Giữa lòng Hà Nội đắt đỏ, nơi một mét vuông đất cũng tính bằng tiền, lại có những căn phòng mở cửa hoàn toàn miễn phí đón nhận những mảnh đời đang ngày đêm bám viện.
Thanh âm núi rừng: “hồn then” nơi biên ải

Thanh âm núi rừng: “hồn then” nơi biên ải

LNV - Giữa nhịp sống hối hả của thời đại số, có những âm thanh bền bỉ ngân vang như hơi thở của đại ngàn Đông Bắc. Đó là tiếng đàn Tính dìu dắt, là lời Then trầm bổng – sợi dây vô hình kết nối quá khứ và hiện tại. Trước nguy cơ mai một tiếng nói dân tộc,
Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa làng Chăm Bàu Trúc nổi tiếng với nghề gốm thủ công truyền thống, có một gia đình vẫn lặng lẽ gìn giữ nghề chạm bạc qua ba thế hệ.
Niềm tự hào, dấu mốc mới của Việt Nam trong hội nhập pháp lý quốc tế

Niềm tự hào, dấu mốc mới của Việt Nam trong hội nhập pháp lý quốc tế

LNV - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho rằng, việc Việt Nam lần đầu tiên có chuyên gia trúng cử Thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đánh dấu bước phát triển mới của hội nhập pháp lý quốc tế,
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động