Hà Nội: 19°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Phát huy di sản văn hóa phi vật thể làng nghề

LNV - Nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản”. Đây là một bộ sách có giá trị, thể hiện công sức rất đáng trân trọng của các tác giả và những người biên soạn, đã đề cập đề tài di sản văn hóa phi vật thể làng nghề mà chúng ta rất cần đi sâu nghiên cứu, bảo vệ, khai thác và phát huy.
RẤT CẦN NGHIÊN CỨU SÂU VỀ “NGHỀ” VÀ “LÀNG NGHỀ”

Cho đến nay, tuy chưa có số liệu thống kê, song cũng có thể thấy những sách nghiên cứu sâu về nghề thủ công và làng nghề Việt Nam chưa nhiều. Phần lớn vẫn dừng lại ở giới thiệu lịch sử, quá trình hình thành các nghề, các làng nghề hoặc lịch sử các vị Tổ nghề; Có những cuốn sách nặng về cung cấp thông tin (có khi người này sao chép lại của người khác, rất ít nội dung bổ sung hoặc tư liệu mới), thường thiếu phân tích, tổng kết; Lại càng thiếu những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống. Có thể nói: Trong khi các làng nghề cả nước, nhất là các làng nghề truyền thống đang ra sức khắc phục khó khăn để bảo vệ và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công đậm đà bản sắc của dân tộc ta, kể cả bản sắc của mỗi vùng, miền, thậm chí của mỗi làng nghề, mỗi nghệ nhân, thì việc nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, từ thực tiễn mà khái quát lên thành lý luận đang rất yếu, chưa được quan tâm đúng mức. Quan trọng hơn nữa là nếu nghiên cứu sâu lịch sử phát triển của mỗi nghề thủ công, có thể thấy giá trị cao đẹp của các nghề, công sức của cha ông ta trong phát triển nghề, những bước thăng trầm của mỗi nghề và sức sống mãnh liệt của mỗi nghề; Từ đó, thấy rõ hơn ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy di sản nghề và xây dựng làng nghề trong thời đại mới.


Có thể khẳng định: Nếu như công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nghề thủ công và làng nghề chưa theo kịp, chưa có những kiến thức, triết lý và khái niệm cần thiết về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống, thì rất dễ sa vào những vụ việc cụ thể, chạy theo hình thức mà không quan tâm nội dung, cũng dễ sa vào những hoạt động lợi dụng “thương mại hóa” di sản, thậm chí “kinh doanh tâm linh” thu lợi bất chính (như trong việc tôn tạo di sản, tổ chức lễ hội, tôn vinh …) mà xã hội đã lên án. Nếu như thế, càng khó có thể nói đến yêu cầu và sứ mạng của lý luận là tạo căn cứ cho hoạch định và thực thi những cơ chế, chính sách về nghề thủ công và làng nghề mà chúng ta vẫn nói đó là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc cần bảo vệ, khai thác và phát huy. Rõ ràng là đang rất cần những nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn đối với nghề thủ công và làng nghề làm cơ sở cho những cơ chế, chính sách cho bước phát triển bền vững của lĩnh vực này.

MỘT CUỐN SÁCH TÂM HUYẾT VÀ TRÍ TUỆ

Trong bối cảnh như trên, bộ sách “Làng nghề Viêt Nam- miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn đã thể hiện rõ “tâm” và “tầm” của những người chủ trì.

Bộ sách gồm 766 trang, chia làm hai tập: Tập 1 có tiêu đề “Di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống - Văn hóa sống của dân tộc”; Tập 2 có tiêu đề “Đa dạng di sản văn hóa phi vật thể - Nghề thủ công truyền thống Việt Nam”. Tập 1 gồm các bài viết đề cập những vấn đề chung về di sản văn hóa và nghề thủ công truyền thống Việt Nam, phát huy di sản bằng các hoạt động du lịch, đồng thời giới thiệu kinh nghiệm khá chi tiết của nước Áo trong việc khai thác, phát huy di sản, khi họ coi nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế của đất nước. Tập 2 đi sâu vào tính đa dạng của di sản văn hóa nghề thủ công truyền thống Việt Nam từ các vùng, miền đến một số địa phương tiêu biểu, một số nghề và nghệ nhân tiêu biểu. Như vậy là bộ sách đã đi từ nhận thức lý luận đến thực tiễn, cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, phong phú, vừa rộng vừa sâu.


Qua bộ sách, có thể thấy những vấn đề quan trọng góp phần giúp người đọc thêm kiến thức, khẳng định những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống nước ta cũng như yêu cầu bảo vệ và phát huy các di sản quý báu ấy.

Trước hết, đó là nhận thức sâu thêm thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” và những vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công.

Theo bộ sách, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm “các truyền thống hoặc các biểu hiện sống mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ tổ tiên và đang truyền lại cho con cháu đời sau, chẳng hạn như biểu đạt truyền khẩu, phong tục, tập quán, nghệ thuật biểu diễn, thực hành, ứng xử xã hội, nghi lễ, sự kiện lễ hội, kiến thức và thực hành liên quan đến tự nhiên và vũ trụ hoặc kiến thức và kỹ năng để sản xuất đồ thủ công truyền thống” (tr. 54). “Nghề thủ công truyền thống” đã được khẳng định là một trong 05 hình thức di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003. Luật Di sản văn hóa của Việt Nam năm 2009 cũng đã quy định “Nghề thủ công truyền thống” là một trong 07 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Như vậy, người đọc không những hiểu sâu về di sản văn hóa phi vật thể trong các nghề thủ công mỹ nghệ, mà còn hiểu thêm rằng “tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể không phải là sự thể hiện văn hóa của chính nó mà là sự giàu có của kiến thức và kỹ năng được truyền lại thông qua sự thể hiện từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo” (tr. 55). Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định “di sản văn hóa phi vật thể là di sản sống của chúng ta” (tr.57), khi họ coi di sản văn hóa không chỉ bao gồm các đặc tính hữu hình, mà đặc biệt hơn nữa, còn có các yếu tố thiết yếu đại diện cho văn hóa sống của cộng đồng con người với sự tiến hóa và phát triển liên tục của con người.

Hai là, nhũng đóng góp rất quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Như Chương trình nghị sự vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015 đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, có thể thấy di sản văn hóa phi vật thể có thể đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững trên từng phương diện nói trên. Đối với nước ta cũng vậy, bộ sách đã diễn giải về từng lĩnh vực mà chúng ta đang quan tâm trong sự phát triển bền vững đất nước (từ tr. 107). Đó là: (i) Phát triển xã hội toàn diện, trong đó có việc bảo đảm an ninh lương thực bền vững; Chăm sóc y tế chất lượng; Tiếp cận nguồn nước và vệ sinh môi trường an toàn; Giáo dục có chất lượng; Hệ thống bảo trợ xã hội cho mọi người và bình đẳng giới. (ii) Bền vững về môi trường, trong đó có các nội dung như giúp bảo vệ đa dạng sinh học; góp phần bảo vệ môi trường bền vững; Góp phần tăng khả năng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; (iii) Phát triển kinh tế toàn diện; Quan trọng nhất là những tri thức, kỹ năng và thực hành nghề được các thế hệ duy trì và phát huy, tạo sinh kế cho các nhóm và cộng đồng dân cư nông thôn; Góp phần tạo nguồn lực cho phát triển; Tạo ra thu nhập và công việc bền vững cho nhiều cá nhân và cộng đồng, bao gồm người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương; triển khai các hoạt động du lịch liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể; và (iv) Bảo vệ hòa bình và an ninh: Góp phần duy trì sự bình yên, tình thương yêu trong cộng đồng; Giúp ngăn chặn hoặc giải quyết các tranh chấp về lợi ích, giúp mọi cơ sở liên kết với nhau theo chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh, từ đó bảo đảm an ninh, đồng thuận xã hội, vượt qua sự hiểu lầm, thậm chí đối đầu, hận thù và bạo lực.

Ba là, những giải pháp chủ yếu để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản phi vật thể nghề thủ công truyền thống.

Bộ sách đã chỉ ra các yếu tố cấu thành chính của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm sự “tự xác định”, cùng với sự “tái tạo liên tục” để đáp ứng nhu cầu của xã hội, “mối liên hệ với bản sắc văn hóa” của các cộng đồng với nhóm người; “tính xác thực” của chúng; Và mối quan hệ không thể hòa tan của chúng với quyền con người (tr. 52); Chính vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ, đây là một yêu cầu mang tính quốc tế.

Theo các tác giả của bộ sách, Công ước 2003 của Liên hợp quốc chủ yếu đề cập các kỹ năng và kiến thức liên quan đến nghề thủ công hơn là bản thân các sản phẩm thủ công; thay vì tập trung vào việc bảo tồn các hiện vật thủ công, các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công nghiệp tập trung vào việc khuyến khích các nghệ nhân tiếp tục sản xuất thủ công và truyền kỹ năng và kiến thức của họ cho người khác, đặc biệt là trong cộng đồng của chính họ (tr. 99). Nói cách khác, “mục tiêu của việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công là bảo đảm rằng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể tiếp tục được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, cung cấp sinh kế cho người làm và phản ánh sự sáng tạo” (tr. 101). Trách nhiệm này không phải của ai khác, mà chính là của cộng động các làng nghề thủ công truyền thống, với sự trợ giúp của các tổ chức xã hội liên quan và về cơ chế, chính sách của cơ quan nhà nước.

Đáng chú ý là bộ sách đã giới thiệu khá chi tiết bản Báo cáo “Nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế Áo” do đích thân Thủ tướng Liên bang Áo và Bộ kinh tế và kỹ thuật số Liên bang Áo ủy quyền thực hiện năm 2019. Báo cáo dày 230 trang, được các tác giả bộ sách giới thiệu tóm tắt nhưng rất đầy đủ, coi đây là một “quy trình nghiên cứu khoa học về giá trị nghề thủ công truyền thống, đồng thời cung cấp những kết luận khoa học. Tài liệu này có thể được tham khảo nhằm rút ngắn quá trình nghiên cứu nghề thủ công truyền thống Việt Nam “ (tr. 193). Tác giả nhấn mạnh “Mối quan tâm chính của Báo cáo không phải là bảo quản các đồ vật mà là bảo vệ quá trình sản xuất – điều này đòi hỏi phải bảo vệ các tài năng, kỹ năng và kiến thức chuyên môn cần thiết để sản xuất các đồ vật đó” (tr. 196). Từ đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy đội ngũ nghệ nhân các làng nghề truyền thống.

Trên đây, là một số cảm nhận đối với bộ sách “Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn - một bộ sách quý thể hiện Tâm và Tầm của nhũng người biên soạn, xin được giới thiệu để những người quan tâm đến vấn đề di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống tìm đọc. Phải chăng, qua bộ sách, những người biên soạn muốn nói với các nhà quản lý, các làng nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề những trăn trở, suy nghĩ về tương lai thật chưa rõ ràng, bền vững trong công cuộc chấn hưng và phát triển làng nghề nước ta? Mong rằng những cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm nắm và hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, từ đó có những giải pháp thiết thực để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công rất quý của dân tộc ta theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam


Tin liên quan

Tin mới hơn

Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

LNV - Thành phố Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề truyền thống với 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 305 làng nghề truyền thống đã được công nhận thuộc 23 quận, huyện và thị xã. Đây là nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Nhiều năm qua, việc bán hàng online đã khá phổ biến với nhiều lĩnh vực và quen thuộc với khách hàng, nhưng trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ rất ít cơ sở tham gia bán hàng online. Cho đến nay, chủ yếu là các cơ sở sản xuất đồ gốm và điêu khắc gỗ bắt đầu thực hiện bán hàng online.
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

LNV - Nghề dệt lụa ở Vạn Phúc (quận Hà Đông, TP. Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng bởi nét tài hoa của những nghệ nhân làng nghề. Với những ai yêu lụa Vạn Phúc khi về nơi đây như được trở lại cội nguồn với nhiều nét xưa cũ. Bao đời nay, lụa Vạn Phúc chỉ sử dụng chất liệu tơ tằm truyền thống, do bàn tay của người lao động tạo nên. Điều đáng quý là các sản phẩm ở đây được làm từ nguyên liệu tự nhiên, có nhiều ưu điểm khác hẳn với các sản phẩm trôi nổi trên thị trường.
Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

LNV - Quyết định số: 801/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt nam giai đoạn 2021 – 2030” đã đặt mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN lên 4 tỷ USD vào năm 2025 và 6 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, hàng loạt khó khăn lớn nhỏ cần được tháo gỡ ở mọi khu vực, từ trung ương đến địa phương. Chúng ta có thể điểm qua một số khó khăn cần được ưu tiên tháo gỡ như sau:
Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

LNV - Làng nghề có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, sự phát triển của các làng nghề cũng gây ra hệ lụy về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước thải làng nghề, Việt Nam cần thiết phải có các biện pháp đồng bộ từ chính sách tới giải pháp như quy hoạch lại không gian sản xuất, tổ chức tốt quy trình sản xuất, vệ sinh môi trường, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường... đặc biệt là các giải pháp về kỹ thuật xử lý nước thải với mức đầu tư thấp, dễ vận hành, phù hợp với yêu cầu của làng nghề.
Nâng cao kỹ năng bán hàng online, marketing cho các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề

Nâng cao kỹ năng bán hàng online, marketing cho các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề

LNV - Trong thời kỳ kinh tế hội nhập, sản phẩm làng nghề phải cạnh tranh rất khốc liệt về mẫu mã, chất lượng, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để mở rộng thị trường, ngoài việc bán sản phẩm làng nghề tại các cửa hàng truyền thống, phương thức bán hàng on line ngày càng quan trọng mở ra hướng mới để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm làng nghề. Để nâng cao kỹ năng bán hàng online, maketing cho sản phẩm Thủ công Mỹ nghệ tại các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề cần thực hiện những bước sau đây:

Tin khác

Thực trạng và giải pháp thương mại điện tử của các cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề hiện nay

Thực trạng và giải pháp thương mại điện tử của các cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề hiện nay

LNV - Thương mại điện tử là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Thương mại điện tử, kinh doanh trực tuyến dần dần đã trở thành những hoạt động cần thiết tại các cơ sở công nghiệp nông thôn, nhất là tại các làng nghề.
Cuốn sách "Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc " của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Cuốn sách "Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc " của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

LNV - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật là cơ quan xuất bản sách lý luận chính trị Trung ương của Đảng. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật đã xuất bản nhiều bộ sách, cuốn sách lý luận chính trị có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đường nối chủ trương của Đảng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Bình Dương: Kỳ vọng có thêm sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ

Bình Dương: Kỳ vọng có thêm sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ

OVN - Theo thông tin từ Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương, hiện nay, trên địa bình tỉnh đã có 103 sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP hạng 3 đến 4 sao. Trong đó, có 93 sản phẩm OCOP 3 sao và 10 sản phẩm OCOP 4 sao.
Tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng và đức thanh liêm của người xưa

Tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng và đức thanh liêm của người xưa

LNV - Trong xã hội phong kiến Việt Nam, với cấu trúc hệ thống Nhà nước “Quân – Thần – Nhân”, chưa có nền dân chủ, thì tệ quan liêu, hối lộ, nhũng nhiễu, lộng quyền… là phổ biến. Song, ta hãy tìm hiểu xem trong xã hội quân chủ ấy, các triều đại, các vị vua và quan đã làm được gì để chống tham nhũng, lạm dụng chức quyền, giúp cho ổn định xã hội và quản lý Nhà nước phong kiến, cùng giảm bớt đau khổ cho muôn dân.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ V

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ V

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam được thành lập năm 2005, trải qua 4 kỳ đại hội. Hiện Hiệp hội đang hoàn thiện hồ sơ xin phép tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ V, nhiệm kỳ 2023-2028 dự kiến quý IV năm 2023 tại Hà Nội.
Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội  “Hội tụ - kết tinh - lan tỏa”

Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội “Hội tụ - kết tinh - lan tỏa”

LNV - Hà Nội vốn nổi tiếng vùng đất “Địa linh nhân kiệt” và Hà Nội đẹp, thơ mộng không chỉ bởi vẻ đẹp của 36 phố phường mà còn nổi bật bởi những làng nghề truyền thống nổi tiếng đã đi vào trong sử sách, thơ ca. Hà Nội – mảnh đất trăm nghề hội tụ đã tạo nên giá trị của một nền văn hóa.
Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

LNV - Trong những năm qua, làng nghề, ngành nghề nông thôn có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn góp phần nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo cho một số bộ phận gia đình ở nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới. Việc phát triển các ngành nghề ở nông thôn một cách bền vững sẽ tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kết nối văn hoá biển Quảng Ninh - Hải Phòng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Kết nối văn hoá biển Quảng Ninh - Hải Phòng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

LNV - Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước; đứng thứ hai trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Cùng với thủ đô Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng là một trong ba đầu tầu thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng. Trong sáng kiến hợp tác kinh tế “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc, thành phố Hải Phòng là một trung tâm kinh tế quan trọng.
Hải Phòng xây dựng thành phố theo hướng hiện đại, văn minh

Hải Phòng xây dựng thành phố theo hướng hiện đại, văn minh

LNV - Để phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2023, Hải Phòng sớm chỉ đạo quyết liệt các cấp ngành, địa phương triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, góp phần thúc đẩy tình hình kinh tế - xã hội, với một số kết quả nổi bật.
Những bài học kinh nghiệm qua 18 năm hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Những bài học kinh nghiệm qua 18 năm hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

LNV - LTS. Hiện nay, Thường trực Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đang triển khai các hoạt động chuẩn bị Đại hội lần thứ V dự kiến vào cuối năm 2023. Đại hội này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu một bước phát triển mới của Hiệp hội đáp ứng yêu cầu của kinh tế - xã hội nước ta. Nhân dịp này, Tạp chí Làng nghề Việt Nam có cuộc phỏng vấn Chuyên gia cao cấp Vũ Quốc Tuấn, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người đã chủ trì việc thành lập Hiệp hội; Ông đã trải qua hai nhiệm kỳ là Chủ tịch Hiệp hội (2005-2011) và nay là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn của Hiệp hội. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn.
Làng nghề Việt Nam - Sản xuất sạch hơn và tiết kiệm năng lượng hướng tới phát triển bền vững

Làng nghề Việt Nam - Sản xuất sạch hơn và tiết kiệm năng lượng hướng tới phát triển bền vững

LNV - Các biện pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải phát sinh trong các hoạt động tại làng nghề là hướng đi cần thiết và hướng tới phát triển bền vũng các làng nghề
Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều thách thức đặt ra. Trong những thách thức là vấn đề mẫu sản phẩm TCMN sao có được vẻ đẹp hấp dẫn, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng… thu hút thị trường, tạo ra giá trị kinh tế lớn và giá trị mỹ thuật, văn hóa… đây là vấn đề quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm TCMN.
Nghệ nhân giữ gìn “hồn cốt” của một làng nghề

Nghệ nhân giữ gìn “hồn cốt” của một làng nghề

LNV - Trong những làng nghề điêu khắc gỗ, Dư Dụ được biết đến là nơi có nghệ thuật điêu khắc gỗ tinh xảo bậc nhất cùng nhiều người thợ có tay nghề điêu luyện. Một trong số đó không thể không nói đến ông Trần Văn Vĩnh – một nghệ nhân điêu khắc có hơn 35 năm kinh nghiệm và đã từng tạo ra hàng trăm tác phẩm độc đáo.
Vai trò của tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn và sử dụng năng lượng thay thế để giảm chi phí sản xuất, cái thiện môi trường làng nghề

Vai trò của tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn và sử dụng năng lượng thay thế để giảm chi phí sản xuất, cái thiện môi trường làng nghề

LNV - Tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn và sử dụng năng lượng thay thế là một cách tiếp cận làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại nguồn thông qua việc sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm, hiệu quả, đồng thời giúp cho các cơ sở sản xuất ở làng nghề cắt giảm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, hoàn thiện quy trình sản xuất, giảm bớt chi phí xử lý môi trường đảm bảo cho làng nghề phát triển bền vững.
Vấn đề tiết kiệm năng lượng tại các làng nghề

Vấn đề tiết kiệm năng lượng tại các làng nghề

LNV - Hiện nay tiết kiệm năng lượng đang là vấn đề rất lớn mà cả xã hội đang quan tâm thực hiện.
Xem thêm
qc-vinamilk-100-thanh-trung
Mới nhất Đọc nhiều
Đoan Hạ trở thành xã nông thôn mới nâng cao đầu tiên của huyện Thanh Thủy

Đoan Hạ trở thành xã nông thôn mới nâng cao đầu tiên của huyện Thanh Thủy

LNV - Trong những ngày xuân mới Giáp Thìn 2024, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy (Phú Thọ) phấn khởi đón nhận niềm vui đủ điều kiện đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao. Xã Đoan Hạ cũng là địa phương đầu tiên của huyện Thanh Thủy
Bắc Giang: Quan tâm phát triển sản phẩm OCOP

Bắc Giang: Quan tâm phát triển sản phẩm OCOP

OVN - Tỉnh Bắc Giang có nhiều sản phẩm OCOP từ cây dược liệu với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, được khách hàng tin dùng. Thời gian qua, các cấp, ngành trong tỉnh đã quan tâm thực hiện nhiều cơ chế, chính sách để phát triển sản phẩm OCOP từ những loại cây này.
Tuyên Quang - Khởi nghiệp từ sản phẩm OCOP

Tuyên Quang - Khởi nghiệp từ sản phẩm OCOP

LNV - Không chỉ nổi tiếng ở địa phương, sản phẩm OCOP dưa chuột An Hòa của Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp - kinh doanh hàng nông sản An Hòa, xã An Hòa, huyện Tam Dương còn phát triển mạnh, vươn tới nhiều tỉnh, thành lân cận. Từ “cây OCOP”, nông dân, tiểu
Bảo hộ nhãn hiệu tập thể: Cơ hội cho đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê phát triển

Bảo hộ nhãn hiệu tập thể: Cơ hội cho đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê phát triển

LNV - Trải qua gần 800 năm lịch sử, sản phẩm chạm rồng của Phù Khê vẫn được những người trong nghề đánh giá là mềm mại, tinh tế nhưng rất cá tính trong hình dáng đường nét. Năm 2023, đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu tập thể, tạo cơ hội cho đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê phát triển, nâng tầm thương hiệu, khẳng định giá trị sản phẩm làng nghề.
Trà Vinh: Mô hình tôm càng xanh xen lúa mang lại thu nhập cao

Trà Vinh: Mô hình tôm càng xanh xen lúa mang lại thu nhập cao

LNV - Xã cù lao Long Hòa, huyện Châu Thành là địa phương có mô hình sản xuất lúa hữu cơ kết hợp nuôi thủy sản (tôm càng xanh) khá phát triển và mang lại thu nhập cao. Với mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh, nông dân cù lao Long Hòa thu nhập từ 200 - 250 triệu đồng/ha/năm và tỷ lệ rủi ro chỉ chiếm khoảng 10%.
qc-vinamilk-dinh-duong-vang
vf
Giao diện di động