Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 24°C Thừa Thiên Huế

Kết nối văn hoá biển Quảng Ninh - Hải Phòng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

LNV - Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước; đứng thứ hai trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Cùng với thủ đô Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng là một trong ba đầu tầu thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng. Trong sáng kiến hợp tác kinh tế “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc, thành phố Hải Phòng là một trung tâm kinh tế quan trọng.

Với tổng chiều dài khoảng hơn 376 km bờ biển trong tuyến vành đai biên giới biển (Hải Phòng có chiều dài khoảng 126 km, Quảng Ninh có chiều dài khoảng 250 km), thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh là hai địa phương có vị trí trọng yếu về kinh tế và quốc phòng an ninh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, một trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả nước. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, Hải Phòng và Quảng Ninh đều đã và đang đặt trọng tâm cho sự hợp tác, liên kết trên nhiều phương diện, góp phần vào thành công chung trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX và Kết luận số 13-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng.

Kết nối văn hoá biển Quảng Ninh - Hải Phòng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Được xác định là hạt nhân, là cực tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ theo Quyết định số 198/QĐ-TTg, ngày 25-01-2014, của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, năm 2019, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ký kết các chương trình hợp tác, phát triển toàn diện giữa hai địa phương để cùng tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá, góp phần quan trọng trong phát triển Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong đó phải kể đến một số dự án giao thông mang tính liên kết vùng, như: Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng; Dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 10, đoạn từ cầu Đá Bạc đến Cầu Kiền; Dự án đầu tư xây dựng cầu Bến Rừng nối huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh...

Sự hợp tác hiệu quả đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của Quảng Ninh và Hải Phòng: hai địa phương đều là những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khu vực phía Bắc; thu ngân sách tăng trưởng cao, đóng góp đáng kể vào ngân sách Trung ương; môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn; đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng cao...

Điểm nhấn trong phối hợp giữa Hải Phòng và Quảng Ninh là công trình cầu Bạch Đằng, kết nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với cao tốc Hải Phòng - Hạ Long, được khánh thành và đưa vào sử dụng từ tháng 9-2018 đã rút ngắn thời gian di chuyển giữa Hải Phòng và Hạ Long chỉ còn 30 phút - 40 phút. Công trình đã góp phần hoàn chỉnh tuyến kết nối tam giác phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hoàn thiện hạ tầng giao thông tuyến cao tốc ven biển vùng duyên hải Bắc Bộ; giảm tải lưu lượng cho quốc lộ 18 và quốc lộ 10, đồng thời, tạo liên kết chuỗi đô thị phát triển năng động, thu hút đầu tư, tạo động lực trong phát triển của 2 địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng duyên hải Bắc Bộ cũng như phát triển liên vùng.

Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh cùng nằm trong vành đai biên giới biển, là phên dậu phía đông - đông bắc của Tổ quốc, có sự tương đồng và gắn kết chặt chẽ không chỉ về phát triển kinh tế mà còn về cả lịch sử, văn hóa. Từ bao đời nay, câu “Trà Cổ tổ ở Đồ Sơn” đã lưu truyền trong người dân cả ở Trà Cổ (Quảng Ninh) và Đồ Sơn (Hải Phòng), cho thấy sự gắn kết về huyết thống của người dân hai địa phương, sự gắn kết bao đời về huyết thống là sợi dây vô hình góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa chung của người dân Hải Phòng và Quảng Ninh.

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nữ tướng Lê Chân được người dân Hải Phòng tôn vinh là Thành Hoàng - Người có công lớn trong việc hình thành nên vùng đất Hải tần phòng thủ - Hải Phòng ngày nay. Nữ tướng Lê Chân quê ở trang Yên Biên (tên Nôm là làng Vẻn), huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ (nay thuộc thôn An Biên, xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

Ba trận chiến trên sông Bạch Đằng lừng danh, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 không chỉ trong lịch sử quân sự Việt Nam mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với lịch sử nhân loại có sự đóng góp quan trọng của nhân dân hai bên bờ sông là Hải Phòng và Quảng Ninh.

Điểm qua một vài sự kiện trong lịch sử để thấy rằng, Hải Phòng và Quảng Ninh có truyền thống gắn kết từ lâu đời và cùng hướng đến mục tiêu chung là vì độc lập, tự do của dân tộc, vì sự phồn vinh của đất nước.

Tiếp nối truyền thống đó, trong những năm qua, thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều sự trao đổi, hợp tác, liên kết rất chặt chẽ thông qua các chương trình, công tác phối hợp chung trên nhiều lĩnh vực: Phát triển du lịch, nông nghiệp, thương mại, kinh tế biển, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, bảo vệ môi trường... Đặc biệt, hai địa phương đã tăngg tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than, cát, đá, sỏi; về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trật tự, an toàn giao thông; thống nhất kiến nghị với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương về những vấn đề tương đồng giữa hai địa phương.

Trong phát triển du lịch, Hải Phòng và Quảng Ninh đã duy trì sự kết nối vùng du lịch thông qua tuyến phà Tuần Châu (Hạ Long) - Gia Luận (Cát Bà), liên kết quản lý, khai thác vịnh Lan Hạ và vịnh Hạ Long, góp phần phát triển du lịch Cát Bà và Hạ Long ngày càng sôi động.

Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của văn hóa vừa là nền tảng, vừa là động lực và là mục tiêu đối với sự phát triển của thành phố nói riêng, của khu vực và đất nước nói chung, thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ trong công tác bảo tồn di sản văn hóa, đặc biệt là những di sản gắn với lịch sử dân tộc Việt Nam, với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng, như: ban hành Kế hoạch số 07/ KHPH-SVHTT, ngày 15-01-2020, về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích ven sông Bạch Đằng giai đoạn 2020 - 2025 và xây dựng hồ sơ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà.

Vịnh Hạ Long như một phần nối tiếp vịnh Bắc Bộ, đã vinh dự hai lần được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới vào năm 1994 và 2000 với giá trị về cảnh quan tự nhiên và địa chất, địa mạo.

Vịnh Lan Hạ nằm ở phía đông của đảo Cát Bà và sát kề vịnh Hạ Long có đặc điểm địa lý tương tự như vịnh Hạ Long, khung cảnh thiên nhiên nên thơ cùng nắng vàng, cát trắng,nằm trong tốp những vịnh đẹp nhất thế giới. Thành phố Hải Phòng đã lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới từ năm 2012.

Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà được bảo vệ hiệu quả thông qua các luật có liên quan của Nhà nước và các nghị định của Chính phủ như: Luật Di sản văn hóa, Luật Đa dạngsinh học...

Triển khai Công văn số 7594/VPCP-KGVX, ngày 12-9-2016 của Văn phòng Chính phủ về việc xây dựng hồ sơ đề cử mở rộng không gian Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long đến Quần đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng, trình UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông báo số 4161/TB – BVHTTDL, ngày 14-10-2016, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh lập Báo cáo tóm tắt Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà.

Trên cơ sở ý kiến thống nhất về chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã có Công văn số 171/UBND-VH ngày 11-01-2017 đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đăng ký với Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO đưa “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” vào Danhhiên nhiên thế giới (mở rộng tiêu chí VII về giá trị thẩm mỹ, tiêu chí VIII về đa dạng sinh học - là các tiêu chí mà Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận; bổ sung mới tiêu chí IX và X về đa dạng sinh học).

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì, thông qua Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam gửi Báo cáo tóm tắt “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” tới UNESCO đề nghị đưa vào Danh mục Dự kiến xây dựng Hồ sơ di sản thế giới; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng lập hồ sơ “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đệ trình UNESSCO xem xét, công nhận là Di sản Thế giới.

Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan lập hồ sơ “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” theo quy định tại Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới và pháp luật về di sản văn hóa,đồng thời phối hợp xây dựng báo cáo giải trình các khuyến nghị của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đối với hồ sơ trình UNESCO công nhận Di sản thiên nhiên thế giớivịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà.

Lê Khắc Nam

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng

PV

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.

Tin khác

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tỉnh Quảng Trị được hỗ trợ 13 tỷ đồng từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Tỉnh Quảng Trị được hỗ trợ 13 tỷ đồng từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Tỉnh Quảng Trị được hỗ trợ 13 tỷ đồng từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia giai đoạn 2026 - 2030
Tri ân các Anh hùng liệt sĩ qua chương trình nghệ thuật “Mãi mãi tuổi 20”

Tri ân các Anh hùng liệt sĩ qua chương trình nghệ thuật “Mãi mãi tuổi 20”

LNV - Tối 24/7, tại Quảng trường 30/10 (phường Hạ Long), tỉnh Quảng Ninh long trọng tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Mãi mãi tuổi 20” nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).
Từ nương chè đến sinh kế bền vững nơi vùng biên Thanh Thủy

Từ nương chè đến sinh kế bền vững nơi vùng biên Thanh Thủy

Người dân vùng biên giới Thanh Thủy thực hiện mô hình liên kết chuỗi giá trị của Hợp tác xã (HTX) Trồng và Chế biến chè Thanh Thủy.
Khám phá Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026

Khám phá Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026

Từ ngày 15/8/2026 đến 2/9/2026, tại thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Pắc, thị xã Tuy Hòa và các vùng trồng sầu riêng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk sẽ tổ chức Lễ hội Sầu riêng năm 2026 với chủ đề “Sầu riêng Đắk Lắk - Kết nối vươn xa”. Điểm nổi bật của chương trình là chuỗi hoạt động hướng tới xác lập các kỷ lục quốc gia và quốc tế, tạo sức lan tỏa và quảng bá những trải nghiệm độc đáo cho người dân, du khách gần xa.
Nghề hương trầm Quỳ Châu hồi sinh nhờ khát vọng của cô gái Thái

Nghề hương trầm Quỳ Châu hồi sinh nhờ khát vọng của cô gái Thái

Từ nén hương trầm, cô gái người dân tộc Thái Lương Thị Nga đã bền bỉ thổi vào đó khát vọng khởi nghiệp, biến nghề truyền thống thành sản phẩm có thương hiệu,
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động