Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 24°C Thừa Thiên Huế

Doanh nghiệp, làng nghề phát triển bền vững khi tham gia Hiệp định EVFTA

LNV - Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) là hiệp định thế hệ mới đã được ký kết giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2020. Đây là cơ hội to lớn đối với Việt Nam trong việc đưa hàng hóa vào thị trường rộng lớn nhưng cũng rất khắt khe này.
EVFTA mang lại nhiều cơ hội trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước nói chung và các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề nói riêng, tạo việc làm cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước.

Để tận dụng tối đa những cơ hội, chinh phục những thách thức, mang lại lợi ích lớn nhất cho mình thì các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề, các cơ quan ban ngành của Nhà nước và các địa phương cần có quá trình chuẩn bị chu đáo về tất cả những vấn đề có liên quan.

Cơ hội

EU với dân số 450 triệu người, là liên minh của những nước có nền kinh tế phát triển, là thị trường rộng lớn với sức mua cao, là mục tiêu của rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. EU luôn đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm hàng đầu trên thế giới. người dân EU rất thích hàng hóa của Việt Nam trong đó có hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.

Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Và gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay.


Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước ta, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng khoảng 20% vào năm 2022, hơn 42% vào năm 2025 và hơn 44% vào năm 2030.
EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019- 2023); 4,57- 5,3% (năm 2024-2028) và 7,07- 7,72% (năm 2029- 2033).

Tiếp cận thị trường EU giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống, mở “cánh cửa khác” cho hàng hóa Việt Nam khi thị trường truyền thống gặp rủi ro.
Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, sản xuất nông nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày da hiện nay vẫn là lợi thế của Việt Nam trong đó có các làng nghề. Theo Hiệp hội làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 2.008 làng nghề, làng nghề truyền thống và 115 nghề truyền thống đã được công nhận tạo công ăn việc làm cho khoảng 11 triệu người lao động ở hơn 2.000 làng nghề trên khắp đất nước.

EVFTA mở ra cơ hội tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu rất lớn cho các doanh nghiệp trong đó có các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề. Với thị trường EU, tất cả các loại hàng hóa đáp ứng yêu cầu thì tự động sẽ được vào. Thị trường EU mặc dù rất khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, lao động, môi trường nhưng cũng rất minh bạch. Nếu các các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề tiếp cận được thì cần phải chủ động đáp ứng được một số quy tắc nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ, nguyên liệu sản xuất đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ, chuẩn bị các vấn đề về kỹ thuật trong quy trình xuất khẩu hàng hóa.

Mặt khác, khi tham gia Hiệp định EVFTA, các sản phẩm làng nghề nói chung và sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói riêng đều nằm trong diện được miễn thuế ngay. Điều này giúp sản phẩm làng nghề đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu sang thị trường EU mà không có giới hạn về mặt thuế quan và định lượng.

EU có thu nhập bình quân đầu người rất cao, tiêu dùng tương đối đa dạng, phong phú. Đặc biệt thị trường này có trào lưu tiêu dùng đơn chiếc và tiêu dùng hàng làm thủ công. Do đó việc phát triển các sản phẩm mang tính chất truyền thống sẽ là thế mạnh của các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề. Mặt khác, EU có quá trình công nghiệp hóa với các làng nghề lâu dài, đây cũng là cơ sở để cho Việt Nam tiếp cận được công nghệ phù hợp với các làng nghề…

Thách thức

Cơ hội lớn nhưng chỉ thành lợi ích thực sự khi các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề chuẩn bị đủ nội lực để tham gia. EVFTA được ví như “đường cao tốc” để nhanh đến đích, các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề phải chuẩn bị tốt năng lực cạnh tranh, bên cạnh đó là sự hỗ trợ của nhà nước.

Một trong những hạn chế lớn của các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề là không có hoặc có rất ít khả năng nghiên cứu thị trường. Các làng nghề và doanh nghiệp làng nghề bán hàng hóa ra thị trường căn cứ vào quan sát thực tiễn, nhưng với thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường cao cấp như EU, việc khảo sát thị trường để xây dựng chiến lược sản phẩm là điều bất khả thi. Hiệp định EVFTA là những thỏa thuận về tự do hóa thương mại giữa EU và Việt Nam. Do vậy, những hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam mới được hưởng những ưu đãi thuế quan từ Liên minh Châu Âu, đặc biệt là hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, thủy hải sản, nông sản, trong đó có những mặt hàng của làng nghề chúng ta…nghĩa là tỷ lệ nội địa hóa hàng hóa Việt Nam phải đạt từ 40% - 45%.

Mặt khác, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên còn gặp rất nhiều hạn chế như liên kết lại lỏng nẻo, ít chú trọng đến khâu thiết kế nên chủ yếu là gia công, kinh doanh lại mang tính cá thể nhỏ lẻ, manh mún nên rất khó đáp ứng được các đơn hàng lớn.

Khi thực hiện Hiệp định EVFTA, sẽ có các sản phẩm làng nghề của EU vào Việt Nam với giá cả hợp lý và với chất lượng cao cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm làng nghề Việt Nam. Trong khi sản phẩm làng nghề Việt Nam thiếu tính đồng loạt, đặc biệt là các sản phẩm làm thủ công, điều này khiến các Làng nghề và doanh nghiệp làng nghề gặp khó trước đòi hỏi về những đơn hàng xuất khẩu lớn của khách hàng EU. Cách thức quản lý, công nghệ của các làng nghề Việt Nam hiện nay quá lạc hậu, để cạnh tranh được thì đây là bài toán rất khó.

Mặt khác, các sản phẩm làng nghề thường gắn với văn hóa của đất nước. Du khách châu Âu mong muốn mua sản phẩm mang dấu ấn văn hóa của quốc gia và nghiêng nhiều về văn hóa dân gian. Tuy nhiên, nhóm hàng gỗ và thủ công mỹ nghệ của các làng nghề hiện nay mẫu mã vẫn còn đơn điệu, chứa yếu tố tâm linh đạo phật, điều này khiến sản phẩm rất khó tiếp cận người tiêu dùng EU.

Đối với mặt hàng gốm và sứ, sản phẩm đẹp nhưng cồng kềnh dễ vỡ nên bán cho khách du lịch khó và việc xuất khẩu chi phí sẽ rất lớn, giá trị thu được lại thấp. Các sản phẩm làng nghề có tính dân tộc cao nhưng lại không tinh xảo như sản phẩm truyền thống của EU. Văn hóa tương đối khác nên việc tận dụng được cơ hội này, các làng nghề phải nâng lên về mặt tinh sảo, đậm chất văn hóa Việt, hình dáng, trọng lượng phải cải tiến phù hợp thị hiếu tiêu dùng.

Thực tế các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các làng nghề, dù có đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước nhưng sự phát triển của các làng nghề nói chung và sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những hạn chế lớn nhất là khâu mẫu mã sản phẩm. Khi tham gia Hiệp định EVFTA, việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp là rất cần thiết. Các doanh nghiệp, các hộ sản xuất tại các làng nghề cần đặc biệt lưu tâm thương hiệu, chỉ dẫn địa lý mang tính chất địa điểm làng nghề. Khi đó, sẽ khẳng định được thương hiệu của Việt Nam khi tham gia xuất khẩu và bảo đảm được quyền lợi nhà xuất khẩu.

Hiệp định EVFTA còn đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất như: Các làng nghề, doanh nhiệp làng nghề sản xuất hàng hóa phải đảm bảo xử lý chất thải, nước thải theo quy định, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, quy định về nhiệt độ, tỷ lệ bụi trong không khí, không sử dụng lao động trẻ em, không để xảy ra sự bất bình đẳng giới trong các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề; Các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội, kiểm soát gian lận thương mại là những thách thức khi tham gia EVFTA.

Những giải pháp

Về phía các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề: Các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề (LNDNLN) muốn tận dụng cơ hội cần phải thực hiện tốt hai việc:

Một là, tìm hiểu những thông tin về các quy định, điều khoản của hiệp định. Các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề phải chủ động tìm hiểu kỹ những quy định, điều khoản về xuất xứ hàng hóa và về xin chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

Hai là, chuẩn bị nội lực tốt để hội nhập tốt. LNDNLN phải thay đổi tập quán kinh doanh nhỏ lẻ, tự phát sang tư duy kinh doanh chuyên nghiệp, chuẩn bị mọi mặt để nâng cao chất lượng hàng hóa, hiện đại hóa công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ lao động, chuyên nghiệp hóa công tác quản trị doanh nghiệp, chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước để đảm bảo nguyên tắc xuất xứ.

Chủ động nguồn nguyên liệu, nhất là nguồn nguyên liệu trong nước đối với mặt hàng gỗ, gốm sứ, mây tre đan. Các LNDNLN nên tham gia Hiệp hội để hỗ trợ nhau trong công tác pháp lý, thực hiện đúng các cam kết với đối tác. Tham gia hiệp hội còn giúp các LNDNLN chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất, xây dựng chuẩn sản phẩm, đảm bảo được tính đồng nhất của sản phẩm theo sở thích, yêu cầu của người tiêu dùng EU.

Về phía Nhà nước: Cần tích cực xóa bỏ những rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các LNDNLN thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính, ban hành chính sách với phương châm tạo thuận lợi tối đa cho các LNDNLN, minh bạch và bảo đảm công bằng, không có sự phân biêt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi tư duy trong việc xây dựng chính sách từ cả ở cấp trung ương và địa phương, đó là lấy các LNDNLN làm trọng tâm và lấy chuẩn mực quốc tế làm thước đo. Có như vậy, những chính sách được ban hành mới thực sự đi vào cuộc sống và giúp các LNDNLN hoạt động sản xuất kinh doanh được tốt hơn; Trong giai đoạn đầu tham gia EVFTA, Nhà nước cần hỗ trợ theo hướng đồng hành cùng các LNDNLN, đặc biệt là hỗ trợ về thủ tục pháp lý liên quan đến xuất khẩu. Trước hết, các cơ quan chức năng cần xây dựng trung tâm cung cấp thông tin và tư vấn đến các LNDNLN. Nếu có xảy ra vướng mắc hay phát sinh vấn đề các LNDNLN không tự giải quyết được, trung tâm sẽ hỗ trợ các LNDNLN giải quyết. Nhà nước cần đồng hành với các LNDNLN trong chứng nhận xuất xứ hàng hóa ở thời gian đầu, khi họ mới bất đầu đưa sản phẩm vào thị trường EU. Đồng thời, Nhà nước hướng dẫn để các LNDNLN chủ động tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, cần thường xuyên tổ chức các hội chợ, triễn lãm hàng hóa Việt Nam tại thị trường EU để quảng bá cho thương hiệu Việt, giúp người tiêu dùng Châu Âu nhanh chóng nắm bắt những thông tin chính xác, kịp thời, tạo lòng tin của họ về hàng hóa Việt Nam.

Nhà nước cũng cần hoàn thiện thể chế kinh tế để tạo môi trường pháp lý đầy đủ, phù hợp với những quy định, thể lệ chung của thế giới cũng như của các hiệp định về thương mại tự do, giúp các LNDNLN có cơ sở pháp lý xây dựng chiến lược kinh doanh của mình.

Về phía Hiệp hội làng nghề Việt Nam: Với chức năng là một tổ chức xã hội nghề nghiệp gắn bó với cộng đồng làng nghề trong cả nước, Hiệp hội làng nghề Việt Nam (HHLN) càng cần phát huy trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các biện pháp để các LNDNLN tận dụng mọi cơ hội cũng như khắc phục những thách thức trong tham gia Hiệp định EVFTA. Như tuyên truyền, phổ biến về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và Hiệp định EVFTA nói riêng, nhất là những điều khoản liên quan trực tiếp đến làng nghề; HHLN có thể góp ý kiến về giải pháp và trực tiếp thực hiện các dịch vụ phục vụ các LNDNLN, đó là những công việc nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh của mỗi sản phẩm, đáp ứng trúng yêu cầu của thị trường EU. Cần phải nhanh chóng có những giải pháp hết sức cụ thể và thiết thực như: Ứng dụng khoa học công nghệ; Cải tiến tổ chức quản lý, chú ý xuất xứ nguyên vật liệu, hàng hóa, bồi dưỡng và đào tạo nhân lực, quan tâm phát huy nghệ nhân, thợ giỏi, khắc phục ô nhiễm môi trường. Đồng thời, HHLN cũng cần có những hỗ trợ thiết thực và hiệu quả hơn cho các LNDNLN trong việc quảng bá, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu đối với sản
phẩm đầu ra.

Hiệp định EVFTA là một bước tiến mới trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự phát triển trong tiến trình tự do hóa thương mại đem lại nhiều lợi ích to lớn cho tất cả các nước tham gia. Những thách thức và cơ hội đối với các LNDNLN tham gia Hiệp định EVFTA, từ đó, đề xuất những giải pháp để các LNDNLN vượt qua những thách thức, hiện thực hóa cơ hội, tiến sâu vào thị trường EU, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước.

T.S Nguyễn Như Chinh
Phó Chủ tịch Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.

Tin khác

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc chính thức trở thành điểm du lịch của Hà Nội

Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc chính thức trở thành điểm du lịch của Hà Nội

LNV - Sau nhiều năm gìn giữ và phát huy nghề dệt lụa truyền thống, Vạn Phúc tiếp tục ghi dấu ấn khi trở thành điểm du lịch của Hà Nội. Sự kiện này mở ra cơ hội để làng nghề phát huy lợi thế văn hóa, thu hút du khách và phát triển du lịch gắn với bảo tồn d
Chuyển đổi số chìa khóa để làng nghề Việt bứt phá

Chuyển đổi số chìa khóa để làng nghề Việt bứt phá

LNV - Làn sóng chuyển đổi số đang tạo ra cơ hội mới để các làng nghề truyền thống Việt Nam tái định vị trên thị trường. Thay vì chỉ phụ thuộc vào kênh tiêu thụ truyền thống, nhiều sản phẩm thủ công đã từng bước hiện diện trên các nền tảng số, tiếp cận khá
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm ông Nguyễn Tiến Hải giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm ông Nguyễn Tiến Hải giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ

LNV - Sáng nay (3/8), tại kỳ họp thứ Nhất không thường lệ, Quốc hội đã thực hiện các quy trình về công tác nhân sự. Theo đó, Quốc hội đã tiến hành bỏ phiếu kín phê chuẩn việc bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Tiến Hải.
Xã Gia Lâm đẩy mạnh quảng bá sản phẩm OCOP, làng nghề trên nền tảng số

Xã Gia Lâm đẩy mạnh quảng bá sản phẩm OCOP, làng nghề trên nền tảng số

LNV - Thực hiện Kế hoạch triển khai cao điểm "100 ngày thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số", chiều ngày 02/8, UBND xã Gia Lâm tổ chức phiên livestream quảng bá, giới thiệu và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề
Câu lạc bộ mỹ thuật Cổ Đô bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí hè 2026

Câu lạc bộ mỹ thuật Cổ Đô bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí hè 2026

LNV - Sáng 2/8/2026, Câu lạc bộ Mỹ thuật Cổ Đô xã Cổ Đô, Hà Nội đã tổ chức lễ bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí mùa hè năm 2026 cho 50 em học sinh trên địa bàn. Đây là hoạt động thường niên đầy ý nghĩa nhằm gìn giữ, phát huy nét đẹp truyền thống và tiếp lửa
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động