10 kiến nghị với các Làng nghề

LNV - Ngày 9/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 105/NQ-CP “Về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19” để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của dịch Covid-19, hỗ trợ các cơ sở này ổn định sản xuất, kinh doanh, hồi phục và tạo đà phát triển trong thời gian tới. Nghị quyết đã đề ra 04 nhóm giải pháp nhằm tập trung khôi phục, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19; Hỗ trợ, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu tối đa số cơ sở phải tạm ngừng hoạt động, giải thể, phá sản do tác động bởi dịch Covid-19.
Nghị quyết 105-CP đã đề ra mục tiêu: Đến hết năm 2021 phấn đấu luỹ kế ít nhất khoảng 01 triệu lượt khách hàng là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được hưởng chính sách tín dụng hỗ trợ ứng phó dịch bệnh. Đại đa số các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh quay trở lại hoạt động; Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp các cơ sở gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Tại cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19, sáng ngày 11/9/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã giao nhiệm vụ cho Bộ Y tế hoàn thiện chiến lược tổng thể về phòng chống dịch, tập trung vào vắc-xin, xét nghiệm, điều trị, để cả nước trở lại trạng thái bình thường mới vào năm 2022. Đây là những tín hiệu vui đối với làng nghề chúng ta.

Để thực hiện Nghị quyết 105-CP và các chủ trương mới của Nhà nước, bài này nêu lên 10 kiến nghị để các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề tham khảo và vận dụng.


Lao động tại làng nghề thêu Văn Lâm nỗ lực vượt qua khó khăn trong mùa dịch.


Một là, khơi dậy ý chí phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội). Lời hiệu triệu này của Đảng cần được thấm sâu vào mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề, vào từng người lao động, biến thành hành động và kết quả cụ thể. Mỗi cơ sở phải có lòng tự hào và tầm nhìn mới về văn hóa làng nghề, về sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ trong giai đoạn mới của công cuộc phát triển đất nước. Cần nêu cao ý chí, khát vọng vươn lên, phát triển làng nghề bền vững, để văn hóa làng nghề đóng góp xứng đáng vào văn hóa dân tộc; kinh tế làng nghề thịnh vượng hơn, đời sống của cư dân làng nghề ngày càng ấm no, hạnh phúc; Mỗi làng nghề là một làng văn hóa.

Hai là, thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 do Chính phủ đề ra. Hiện nay, do dịch còn diễn biến phức tạp, chúng ta phải thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa chống dịch, vừa sản xuất, kinh doanh, cũng gọi là “sống chung với dịch Covid-19”, thông qua các biện pháp để hạn chế, đẩy lùi dịch bệnh, từng bước mở rộng sản xuất, kinh doanh theo lộ trình của từng địa phương. Thời gian tới, chắc chắn dịch Covid-19 sẽ bị đẩy lùi, cả nước sẽ bước vào trạng thái bình thường mới. Tuy nhiên, lúc đó, vẫn còn virus vì chúng ta không thể tiêu diệt nó hoàn toàn, cho nên trong khi đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, vẫn phải “sống chung với virus”, nhưng phải thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa, không cho nó bùng phát thành dịch.

Ba là, quản trị cơ sở trong “trạng thái bình thường mới”. Khi dịch bệnh đã được đẩy lùi, sản xuất, kinh doanh của các cơ sở làng nghề được mở trở lại với tư duy và cách làm mới, triển khai mô hình kinh doanh mới. Trong tình hình này, có thể có những điểm mà trước đây mọi người cho là bất bình thường thì nay được coi là bình thường; Cũng có thể là những điều mà trước đây, chúng ta phấn đấu để thực hiện thì nay, tình hình mới bắt buộc chúng ta phải thực hiện nó nhanh hơn (ví dụ như kinh tế xanh, kinh tế số), vì nếu không thực hiện, sẽ không theo kịp và tồn tại trong thời kỳ mới. Như vậy, cuộc sống mới đòi hỏi cả làng nghề cũng như mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh phải rất năng động, linh hoạt, tăng khả năng chống chịu và thích ứng, thay đổi tổ chức, cấu trúc sản xuất, mạnh dạn số hóa các mối quan hệ, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.


Bốn là, tiếp cận và khai thác tối đa các nguồn lực. Đó là các chính sách do các bộ, ban, ngành đã ban hành về miễn, giảm, giãn hoãn các khoản đóng góp; Tăng thêm các khoản trợ giúp... Đó là những chính sách rất cần thiết, quan trọng trong lúc các làng nghề gặp khó khăn, nhất là những cơ sở quy mô nhỏ đã quá sức chịu đựng trong thời gian dài vừa qua. Các cơ sở cần năng động hơn, tranh thủ và tận dụng tốt các chính sách hỗ trợ, đồng thời mong các cơ quan tiếp tục cải cách hành chính, giảm thiểu các thủ tục rườm rà để các chính sách hỗ trợ sớm đến cơ sở làng nghề cần được trợ giúp.

Một nguồn lực khác cũng rất cần cho làng nghề, đó là các ưu đãi về xuất nhập khẩu, về thuế quan trong 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) song phương và đa phương mà nước ta đã ký kết. Lớn nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm 30% dân số thế giới, 30% GDP toàn cầu; Tiếp theo là Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam (EVFTA); Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các cơ sở làng nghề cần tìm hiểu và tận dụng các ưu đãi trong các hiệp định này để kịp thời tổ chức sản xuất và tiêu thụ đáp ứng đúng quy định của các hiệp định, đạt hiệu quả cao.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu thị trường. Thời gian qua, do tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế - xã hội nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đang có những biến động mạnh mẽ, người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài đang có những nhu cầu mới. Cho đến nay, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; thị trường Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất, bên cạnh đó là các thị trường như Nhật Bản, Liên minh Châu Âu, Úc, Hàn Quốc. Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu chủ yếu bao gồm năm nhóm: Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù; Đồ chơi, dụng cụ thể thao; Hàng gốm sứ; sản phẩm mây, tre, cói, thảm; Gỗ mỹ nghệ. Trong tình hình mới sau đại dịch, mỗi cơ sở, ngành nghề trong làng nghề cần phân tích, nghiên cứu những động thái mới của thị trường để cơ cấu lại sản xuất, đáp ứng nhu cầu của từng thị trường.

Sáu là, tập trung nâng cao chất lượng khâu thiết kế. Thực tế cho thấy thiết kế, tạo mẫu, tạo dáng sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một khâu đặc biệt quan trong thời đại mới, cần được chú trọng, kể cả thiết kế mẫu mã sản phẩm và bao bì sản phẩm (là khâu lâu nay chưa được chú ý) để dáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Thực tế cũng cho thấy, sức sáng tạo của nghề thủ công nước ta là không có giới hạn, rất cần được phát huy. Điều đáng mừng là thời gian gần đây, đã xuất hiện nhiều nghệ nhân trẻ tuổi, được dào tạo bài bản, đã sáng tạo nên nhiều mẫu mã mới; Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã thực sự là những sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao. Do đó, cần phải trân trọng, bồi dưỡng và phát huy các nghệ nhân tại cơ sở cũng như thu hút sự tham gia của các nhà thiết kế bên ngoài để nâng cao hơn nữa chất lượng khâu thiết kế các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Bẩy là, mở rộng và tăng cường liên kết, liên doanh. Đây là một hệ thống các biện pháp nhằm tăng thêm nguồn lực cho cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề, không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như của cơ sở làng nghề. Đó là: Tăng cường quan hệ với các tổ chức dịch vụ để đổi mới quản trị cơ sở (như ứng dụng kinh tế xanh, kinh tế số); Tăng cường quan hệ với các tổ chức thiết kế để đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm hàng hóa; Tằng cường liên kết theo chuỗi nhằm gắn kết các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh (hoặc khôi phục các chuỗi vừa qua bị đứt gẫy do dịch bệnh);... Đây là những biện pháp rất cần thiết mà lâu nay các cơ sở làng nghề ít chú ý, nay cần quan tâm thực hiện để đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn.

Tám là, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề. Đó là những chủ cơ sở, người bỏ vốn và điều hành, quản trị cơ sở, đặt ra chiến lược, kế hoạch, mục tiêu sản xuất kinh doanh, là nhân vật quyết định thành công của cơ sở. Họ cũng là những người chủ trì việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiến bộ, công nghệ 4.0 vào quản trị cơ sở. Chủ cơ sở (nhất là chủ hộ kinh doanh) cần được đào tào, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức cần thiết cho nghề quản trị. Một nhân vật khác là đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi. Lâu nay, chúng ta vẫn có những cuộc bình chọn, tôn vinh nghệ nhân, song vẫn cần những chính sách để tiếp tục bồi dưỡng, phát huy cũng như chăm lo đời sống của nghệ nhân. Điều đặc biệt là trong nhiều hộ kinh doanh, có những chủ cơ sở đồng thời là nghệ nhân, lại có nhiều người trẻ tuổi đang sôi nổi, hăng hái cống hiến cho làng nghề. Đội ngũ người lao động trong cơ sở cũng cần được quan tâm bồi dưỡng cả về tinh thần và vật chất, để họ cũng từng bước trưởng thành.

Chín là, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Theo các chuyên gia, thế giới hậu Covid-19 sẽ ứng dụng phổ biến những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là kinh tế số. Kinh tế số được hiểu là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Các cơ sở làng nghề cần khẩn trương tìm hiểu, vận dụng công nghệ số trong các khâu sản xuất kinh doanh, từ thiết kế đến tổ chức sản xuất, làm việc trực tuyến, xây dựng mã xuất sứ QR-code, gắn kết chuỗi sản xuất, ứng dụng thương mại điện tử, số hóa các di sản văn hóa, các điểm du lịch làng nghề... Đây là một loại giải pháp công nghệ rất có tác dụng mà các cơ sở làng nghề cần vận dụng để nâng cao năng suất, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm.

Kinh tế xanh cũng là một xu hướng đang được khuyến khích ứng dụng trên thế giới. Đó là nền kinh tế vừa mang lại phúc lợi cho con người, vừa giảm thiểu các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái; Một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học của hệ sinh thái. Các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề cần vận dụng các biện pháp của kinh tế xanh để bảo vệ môi trường, nhất là những cơ sở đang có sản xuất gây ô nhiễm.

Mười là, xây dựng làng nghề văn hóa. Thực tế cho thấy mỗi làng nghề truyền thống là một kho báu về văn hóa làng nghề; Nơi đó có những sản phẩm được công nhận là di sản văn hóa vật thể, những nghề thủ công được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, có sản phẩm được công nhận là báu vật quốc gia; Nơi có những đền thờ các vị Tổ nghề, những người đã mang về cho dân làng những nghề thủ công nay đã trở thành nghề truyền thống; Nơi có đội ngũ nghệ nhân dồi dào sức sáng tạo, thường xuyên tạo ra sản phẩm có kiểu dáng, mẫu mã mới, làm vẻ vang, rạng rỡ làng nghề; Nơi có những sản phẩm du lịch đặc sắc, cả du lịch văn hóa, du lịch tâm linh có giá trị; Ở đó có môi trường sống thanh lịch, lành mạnh, không gian văn hóa tiến bộ... Cuộc sống đang đòi hỏi chúng ta nỗ lực xây dựng mỗi làng nghề truyền thống thành một làng nghề văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Trên đây là tóm tắt 10 kiến nghị với các làng nghề để quán triệt các nghị quyết của Đảng và Nhà nước, duy trì sản xuất, kinh doanh trong điều kiện hiện nay, đồng thời chuẩn bị nền tảng phát triển sản xuất, kinh doanh khi dịch Covid-19 đã bị đẩy lùi, nước ta bước vào trạng thái bình thường mới. Có nhiều vấn đề mới rất quan trọng, bài này chưa thể đi sâu, mới chỉ đề xuất được những định hướng. Rất mong các làng nghề tham khảo và vận dụng phù hợp với đặc điểm của mỗi cơ sở, đạt nhiều thành tựu mới trong thời gian tới.

Bài, ảnh: CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

LNV -Sáng 22/8, tại Chùa Đại Bi, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc, xã Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, Nhân dân và du khách thập phương tham dự.
Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

LNV - Trường THPT Bạch Đằng (Hải Phòng) luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Nhà trường đã đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thành tích tại các k
Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Từ ngày 21 - 26/8/2026, tại Quảng trường Trần Phú (phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh) diễn ra Hội chợ Triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026. Sự kiện do Bộ Công Thương và UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo; Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm thuộc Chương trình khuyến công quốc gia năm 2026.
Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Ngày 21/8, tại Hà Tĩnh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV năm 2026.
Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

LNV - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Quyết định số 4325/QĐ-UBND ngày 16-8-2026 về công nhận kết quả đánh giá, phân hạng và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội năm 2026 (đợt 1).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động