10 kiến nghị với các Làng nghề

LNV - Ngày 9/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 105/NQ-CP “Về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19” để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của dịch Covid-19, hỗ trợ các cơ sở này ổn định sản xuất, kinh doanh, hồi phục và tạo đà phát triển trong thời gian tới. Nghị quyết đã đề ra 04 nhóm giải pháp nhằm tập trung khôi phục, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19; Hỗ trợ, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu tối đa số cơ sở phải tạm ngừng hoạt động, giải thể, phá sản do tác động bởi dịch Covid-19.
Nghị quyết 105-CP đã đề ra mục tiêu: Đến hết năm 2021 phấn đấu luỹ kế ít nhất khoảng 01 triệu lượt khách hàng là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được hưởng chính sách tín dụng hỗ trợ ứng phó dịch bệnh. Đại đa số các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh quay trở lại hoạt động; Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp các cơ sở gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Tại cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19, sáng ngày 11/9/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã giao nhiệm vụ cho Bộ Y tế hoàn thiện chiến lược tổng thể về phòng chống dịch, tập trung vào vắc-xin, xét nghiệm, điều trị, để cả nước trở lại trạng thái bình thường mới vào năm 2022. Đây là những tín hiệu vui đối với làng nghề chúng ta.

Để thực hiện Nghị quyết 105-CP và các chủ trương mới của Nhà nước, bài này nêu lên 10 kiến nghị để các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề tham khảo và vận dụng.


Lao động tại làng nghề thêu Văn Lâm nỗ lực vượt qua khó khăn trong mùa dịch.


Một là, khơi dậy ý chí phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội). Lời hiệu triệu này của Đảng cần được thấm sâu vào mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề, vào từng người lao động, biến thành hành động và kết quả cụ thể. Mỗi cơ sở phải có lòng tự hào và tầm nhìn mới về văn hóa làng nghề, về sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ trong giai đoạn mới của công cuộc phát triển đất nước. Cần nêu cao ý chí, khát vọng vươn lên, phát triển làng nghề bền vững, để văn hóa làng nghề đóng góp xứng đáng vào văn hóa dân tộc; kinh tế làng nghề thịnh vượng hơn, đời sống của cư dân làng nghề ngày càng ấm no, hạnh phúc; Mỗi làng nghề là một làng văn hóa.

Hai là, thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 do Chính phủ đề ra. Hiện nay, do dịch còn diễn biến phức tạp, chúng ta phải thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa chống dịch, vừa sản xuất, kinh doanh, cũng gọi là “sống chung với dịch Covid-19”, thông qua các biện pháp để hạn chế, đẩy lùi dịch bệnh, từng bước mở rộng sản xuất, kinh doanh theo lộ trình của từng địa phương. Thời gian tới, chắc chắn dịch Covid-19 sẽ bị đẩy lùi, cả nước sẽ bước vào trạng thái bình thường mới. Tuy nhiên, lúc đó, vẫn còn virus vì chúng ta không thể tiêu diệt nó hoàn toàn, cho nên trong khi đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, vẫn phải “sống chung với virus”, nhưng phải thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa, không cho nó bùng phát thành dịch.

Ba là, quản trị cơ sở trong “trạng thái bình thường mới”. Khi dịch bệnh đã được đẩy lùi, sản xuất, kinh doanh của các cơ sở làng nghề được mở trở lại với tư duy và cách làm mới, triển khai mô hình kinh doanh mới. Trong tình hình này, có thể có những điểm mà trước đây mọi người cho là bất bình thường thì nay được coi là bình thường; Cũng có thể là những điều mà trước đây, chúng ta phấn đấu để thực hiện thì nay, tình hình mới bắt buộc chúng ta phải thực hiện nó nhanh hơn (ví dụ như kinh tế xanh, kinh tế số), vì nếu không thực hiện, sẽ không theo kịp và tồn tại trong thời kỳ mới. Như vậy, cuộc sống mới đòi hỏi cả làng nghề cũng như mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh phải rất năng động, linh hoạt, tăng khả năng chống chịu và thích ứng, thay đổi tổ chức, cấu trúc sản xuất, mạnh dạn số hóa các mối quan hệ, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.


Bốn là, tiếp cận và khai thác tối đa các nguồn lực. Đó là các chính sách do các bộ, ban, ngành đã ban hành về miễn, giảm, giãn hoãn các khoản đóng góp; Tăng thêm các khoản trợ giúp... Đó là những chính sách rất cần thiết, quan trọng trong lúc các làng nghề gặp khó khăn, nhất là những cơ sở quy mô nhỏ đã quá sức chịu đựng trong thời gian dài vừa qua. Các cơ sở cần năng động hơn, tranh thủ và tận dụng tốt các chính sách hỗ trợ, đồng thời mong các cơ quan tiếp tục cải cách hành chính, giảm thiểu các thủ tục rườm rà để các chính sách hỗ trợ sớm đến cơ sở làng nghề cần được trợ giúp.

Một nguồn lực khác cũng rất cần cho làng nghề, đó là các ưu đãi về xuất nhập khẩu, về thuế quan trong 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) song phương và đa phương mà nước ta đã ký kết. Lớn nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm 30% dân số thế giới, 30% GDP toàn cầu; Tiếp theo là Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam (EVFTA); Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các cơ sở làng nghề cần tìm hiểu và tận dụng các ưu đãi trong các hiệp định này để kịp thời tổ chức sản xuất và tiêu thụ đáp ứng đúng quy định của các hiệp định, đạt hiệu quả cao.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu thị trường. Thời gian qua, do tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế - xã hội nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đang có những biến động mạnh mẽ, người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài đang có những nhu cầu mới. Cho đến nay, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; thị trường Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất, bên cạnh đó là các thị trường như Nhật Bản, Liên minh Châu Âu, Úc, Hàn Quốc. Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu chủ yếu bao gồm năm nhóm: Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù; Đồ chơi, dụng cụ thể thao; Hàng gốm sứ; sản phẩm mây, tre, cói, thảm; Gỗ mỹ nghệ. Trong tình hình mới sau đại dịch, mỗi cơ sở, ngành nghề trong làng nghề cần phân tích, nghiên cứu những động thái mới của thị trường để cơ cấu lại sản xuất, đáp ứng nhu cầu của từng thị trường.

Sáu là, tập trung nâng cao chất lượng khâu thiết kế. Thực tế cho thấy thiết kế, tạo mẫu, tạo dáng sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một khâu đặc biệt quan trong thời đại mới, cần được chú trọng, kể cả thiết kế mẫu mã sản phẩm và bao bì sản phẩm (là khâu lâu nay chưa được chú ý) để dáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Thực tế cũng cho thấy, sức sáng tạo của nghề thủ công nước ta là không có giới hạn, rất cần được phát huy. Điều đáng mừng là thời gian gần đây, đã xuất hiện nhiều nghệ nhân trẻ tuổi, được dào tạo bài bản, đã sáng tạo nên nhiều mẫu mã mới; Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã thực sự là những sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao. Do đó, cần phải trân trọng, bồi dưỡng và phát huy các nghệ nhân tại cơ sở cũng như thu hút sự tham gia của các nhà thiết kế bên ngoài để nâng cao hơn nữa chất lượng khâu thiết kế các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Bẩy là, mở rộng và tăng cường liên kết, liên doanh. Đây là một hệ thống các biện pháp nhằm tăng thêm nguồn lực cho cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề, không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như của cơ sở làng nghề. Đó là: Tăng cường quan hệ với các tổ chức dịch vụ để đổi mới quản trị cơ sở (như ứng dụng kinh tế xanh, kinh tế số); Tăng cường quan hệ với các tổ chức thiết kế để đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm hàng hóa; Tằng cường liên kết theo chuỗi nhằm gắn kết các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh (hoặc khôi phục các chuỗi vừa qua bị đứt gẫy do dịch bệnh);... Đây là những biện pháp rất cần thiết mà lâu nay các cơ sở làng nghề ít chú ý, nay cần quan tâm thực hiện để đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn.

Tám là, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề. Đó là những chủ cơ sở, người bỏ vốn và điều hành, quản trị cơ sở, đặt ra chiến lược, kế hoạch, mục tiêu sản xuất kinh doanh, là nhân vật quyết định thành công của cơ sở. Họ cũng là những người chủ trì việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiến bộ, công nghệ 4.0 vào quản trị cơ sở. Chủ cơ sở (nhất là chủ hộ kinh doanh) cần được đào tào, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức cần thiết cho nghề quản trị. Một nhân vật khác là đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi. Lâu nay, chúng ta vẫn có những cuộc bình chọn, tôn vinh nghệ nhân, song vẫn cần những chính sách để tiếp tục bồi dưỡng, phát huy cũng như chăm lo đời sống của nghệ nhân. Điều đặc biệt là trong nhiều hộ kinh doanh, có những chủ cơ sở đồng thời là nghệ nhân, lại có nhiều người trẻ tuổi đang sôi nổi, hăng hái cống hiến cho làng nghề. Đội ngũ người lao động trong cơ sở cũng cần được quan tâm bồi dưỡng cả về tinh thần và vật chất, để họ cũng từng bước trưởng thành.

Chín là, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Theo các chuyên gia, thế giới hậu Covid-19 sẽ ứng dụng phổ biến những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là kinh tế số. Kinh tế số được hiểu là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Các cơ sở làng nghề cần khẩn trương tìm hiểu, vận dụng công nghệ số trong các khâu sản xuất kinh doanh, từ thiết kế đến tổ chức sản xuất, làm việc trực tuyến, xây dựng mã xuất sứ QR-code, gắn kết chuỗi sản xuất, ứng dụng thương mại điện tử, số hóa các di sản văn hóa, các điểm du lịch làng nghề... Đây là một loại giải pháp công nghệ rất có tác dụng mà các cơ sở làng nghề cần vận dụng để nâng cao năng suất, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm.

Kinh tế xanh cũng là một xu hướng đang được khuyến khích ứng dụng trên thế giới. Đó là nền kinh tế vừa mang lại phúc lợi cho con người, vừa giảm thiểu các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái; Một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học của hệ sinh thái. Các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề cần vận dụng các biện pháp của kinh tế xanh để bảo vệ môi trường, nhất là những cơ sở đang có sản xuất gây ô nhiễm.

Mười là, xây dựng làng nghề văn hóa. Thực tế cho thấy mỗi làng nghề truyền thống là một kho báu về văn hóa làng nghề; Nơi đó có những sản phẩm được công nhận là di sản văn hóa vật thể, những nghề thủ công được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, có sản phẩm được công nhận là báu vật quốc gia; Nơi có những đền thờ các vị Tổ nghề, những người đã mang về cho dân làng những nghề thủ công nay đã trở thành nghề truyền thống; Nơi có đội ngũ nghệ nhân dồi dào sức sáng tạo, thường xuyên tạo ra sản phẩm có kiểu dáng, mẫu mã mới, làm vẻ vang, rạng rỡ làng nghề; Nơi có những sản phẩm du lịch đặc sắc, cả du lịch văn hóa, du lịch tâm linh có giá trị; Ở đó có môi trường sống thanh lịch, lành mạnh, không gian văn hóa tiến bộ... Cuộc sống đang đòi hỏi chúng ta nỗ lực xây dựng mỗi làng nghề truyền thống thành một làng nghề văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Trên đây là tóm tắt 10 kiến nghị với các làng nghề để quán triệt các nghị quyết của Đảng và Nhà nước, duy trì sản xuất, kinh doanh trong điều kiện hiện nay, đồng thời chuẩn bị nền tảng phát triển sản xuất, kinh doanh khi dịch Covid-19 đã bị đẩy lùi, nước ta bước vào trạng thái bình thường mới. Có nhiều vấn đề mới rất quan trọng, bài này chưa thể đi sâu, mới chỉ đề xuất được những định hướng. Rất mong các làng nghề tham khảo và vận dụng phù hợp với đặc điểm của mỗi cơ sở, đạt nhiều thành tựu mới trong thời gian tới.

Bài, ảnh: CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tin khác

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đồng Nai công nhận thêm 30 sản phẩm đạt OCOP đợt 1 năm 2026

Đồng Nai công nhận thêm 30 sản phẩm đạt OCOP đợt 1 năm 2026

ocopvietnam - Ngày 21/10, bà Nguyễn Thị Cát Tiên, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND TP. Đồng Nai đã chủ trì Hội nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) cấp thành phố đợt 1 năm 2026.
Hải Phòng đặt mục tiêu giành từ 170 huy chương tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X

Hải Phòng đặt mục tiêu giành từ 170 huy chương tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X

LNV - Với lực lượng 475 vận động viên, Đoàn Thể thao Hải Phòng đặt mục tiêu giành từ 170 huy chương trở lên, phấn đấu nằm trong nhóm 5 đoàn dẫn đầu tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026.
Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

LNV - Từ 397 sản phẩm, bộ sản phẩm tham gia Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026, Ban Tổ chức đã lựa chọn 90 sản phẩm đoạt giải ở 6 nhóm ngành nghề. Nhiều mẫu thiết kế mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống, đồng thời thể hiện
Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

LNV - Với hơn 1.350 làng nghề, làng có nghề và khoảng 176.000 hộ làm nghề, Hà Nội có nhiều lợi thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ gắn với bản sắc văn hóa truyền thống. Tham gia Hội chợ quốc tế Mega Show Part I 2026 tại Hồng Kông (Trung Quốc), các doanh
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu thống nhất chỉ tiêu đo lường kinh tế số trong GDP

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu thống nhất chỉ tiêu đo lường kinh tế số trong GDP

LNV - Sáng 21/10, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính nhằm thống nhất về chỉ tiêu đo lường kinh tế số trong GDP.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động