Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 27°C Thừa Thiên Huế

Phát triển Làng nghề gắn với xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh

LNV - Trước thách thức của quá trình đưa làng nghề, làng nghề truyền thống tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề, làng nghề truyền thống có ý nghĩa quyết định. Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ để làng nghề truyền thống đẩy mạnh dạy nghề, cấy nghề, không để thất truyền những nghề truyền thống mang đậm bản sắc làng quê Việt Nam. Bên cạnh việc phát triển sản xuất trong nông thôn mới, làng nghề, làng nghề truyền thống cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân nói chung, người làm nghề nói riêng.

1.Sự cần thiết gắn kết phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

1.1.Sơ lược về các Chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII trở về trước trước, đã có thời điểm đất nước lạm phát về Chương trình mục tiêu quốc gia. Tư tưởng cục bộ ngành, lĩnh vực cộng với sự dễ dãi của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên có lúc đã tồn tại gần 20 Chương trình mục tiêu quốc gia. Điều đó làm cho ngân sách nhà nước vốn nhỏ bé lại bị xé nhỏ, phân tán, kém hiệu quả, thậm chí có cả việc lợi dụng, vì nhiều nhiệm vụ chi của Chương trình mục tiêu quốc gia chồng chéo với nhiệm vụ chi thường xuyên (một nhiệm vụ 2 nguồn ngân sách).

Bước vào nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, khóa XIV và kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XV, một cuộc cách mạng về Chương trình mục tiêu quốc gia đã diễn ra. Lần đầu tiên Quốc hội quyết định thu gọn lại chỉ còn 03 Chương trình mục tiêu quốc gia gồm Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 nhằm tập trung nguồn lực để bảo đảm tính hiệu quả và chất lượng của mỗi Chương trình. Ba Chương trình MTQG tuy mục đích hướng tới, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng có sự khác nhau, nhưng đều có liên quan đến chủ trương bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống. Do đó, có thể nói cơ hội tận dụng những tác động tích cực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia đối với việc bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống trong chiến lược phát triển chung của đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045 là rất lớn xét trên cả 4 nhóm tiêu chí : (i) Quy hoạch (ii) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (iii) Phát triển kinh tế-tổ chức sản xuất và (iv) Xây dựng về văn hóa-an sinh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường. Chủ động nắm bắt cơ hội, phát huy lợi thế sẵn có, làng nghề, làng nghề truyền thống không chỉ tiếp nhận tác động tích cực từ các Chương trình để phát triển mà ở chiều ngược lại sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống sẽ góp phần thúc đẩy các Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bảo đảm tiến độ cũng như chất lượng các mục tiêu đã đề ra. Bằng chứng cho thấy, trong giai đoạn 2011-2020, những địa phương vừa sản xuất nông nghiệp vừa có nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển đều có tốc độ phát triển kinh tế-xã hội nhanh, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đạt được thực sự có chất lượng, cho phép chuyển sang xây dựng nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu.


1.2.Quy hoạch bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống -một bộ phận của Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh (Tiêu chí 1)

Là một bộ phận của thành phần kinh tế tư nhân, có thể khẳng định, làng, làng nghề, làng nghề truyền thống là một thực thể sống động, hình thành từ lâu đời, với các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được giữ gìn, kế thừa và phát triển mang đậm dấu ấn của các thế hệ - thực sự là những giá trị tinh thần vô giá của nông dân và nông thôn Việt Nam. Việc định hướng quy hoạch sao cho duy trì và phát triển được những nét đặc thù, độc đáo, giản dị nhưng rất có duyên của các làng, làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam phải được xem xét một cách nghiêm túc. Làm thế nào để làng, làng nghề, làng nghề truyền thống vừa mang hơi thở của thời đại, tiến cùng thời đại trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, vừa lưu giữ được bản sắc của làng Việt Nam-Đây là bài toán không dễ. Tuy nhiên, với Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, trong đó tiêu chí về Quy hoạch được xếp ở vị trí tiêu chí số 1 là điều kiện tốt để lồng ghép nội dung bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống ngay từ khâu xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Việc quy hoạch làng, làng nghề, làng nghề truyền thống đòi hỏi xem xét, cân nhắc thấu đáo trên nhiều mặt, từ điều tra, phân loại đến xác định những đặc thù của từng làng, từng nghề, những giá trị văn hoá cần được bảo tồn, khu vực cần cải tạo, và những khu vực cần xây dựng lại để phát triển; trên cơ sở đó tiến hành bước nghiên cứu các khả năng xử lý không gian, các giải pháp mặt bằng nhằm hai mục tiêu: cải thiện môi trường sống, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, xây dựng bộ mặt nông thôn mới hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mỗi vùng, miền, mỗi làng, mỗi nghề, đặc biệt là nghề truyền thống.

Linh hồn của làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam là các công trình văn hóa đình, chùa, đền, miếu, chợ…và những nơi sử dụng cho mục đích công cộng khác. Ngày nay, nhu cầu về khu công cộng ở làng nói chung, làng nghề, làng nghề truyền thống nói riêng đã có những thay đổi rất nhiều do quá trình giao thoa, tiếp biến những giá trị văn hóa bên ngoài, do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.v.v. Do đó, quy hoạch, tổ chức lại làng, làng nghề, làng nghề truyền thống ở xã, ở đô thị nhằm phát triển sản xuất, đồng thời giải quyết những nhu cầu bức thiết của cuộc sống mới hiện đại phải bắt đầu từ Quy hoạch trên nguyên tắc có chọn lọc và kế thừa trên có sở lắng nghe ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà quản lý.

Các làng có truyền thống lâu đời, lại trải qua nhiều biến động, va đập trong biến thiên của lịch sử, nhất là các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta không thể tránh khỏi thực tế ngay trong bản thân nó chứa đựng những yếu tố mang tính hạn chế khả năng phát triển: phát triển tự phát thiếu quy hoạch, mật độ cư trú và xây dựng rất cao, hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, quá tải. Đó là những lực cản rất lớn đối với sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống mà nhiều nhà chuyên môn về kiến trúc, xây dựng cho rằng những lực cản ấy đã ở mức tới hạn. Mọi sự chỉnh trang không còn là giải pháp phù hợp nữa thì việc Quy hoạch xây dựng nông thôn mới chính là lời giải thích hợp và đúng thời điểm.

Mục tiêu và ý nghĩa của công tác quy hoạch xây dựng đô thị nhằm xác định sự phát triển hợp lí của đô thị trong từng giai đoạn và định hướng phát triển lâu dài về các mặt như: tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan và môi trường đô thị. Quy hoạch đô thị phải đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuất trong đô thị trước tiên là các khu công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp; giải quyết mối quan hệ giữa các khu công nghiệp với bên ngoài. Quy hoạch đô thị để tạo điều kiện tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt động hàng ngày của người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong phân bố dân cư và sử dụng đất đô thị; xây dựng khu vực dịch vụ công cộng, khu nhà ở, khu nghỉ dưỡng, giải trí; bảo đảm giao thông đô thị thông suốt, an toàn và tiện lợi.

2. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới theo nội dung của 4 nhóm vấn đề: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; phát triển kinh tế-tổ chức sản xuất; xây dựng về văn hóa-xã hội và bảo vệ môi trường; Xây dựng cơ sở chính trị và bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội (nhóm vấn đề 1 về Quy hoạch với tính chất quan trọng của nó đã được đề cập trên đây)

2.1. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (các tiêu chí 2-9)

Các báo cáo đánh giá về thực trạng làng nghề, làng nghề truyền thống của các cơ quan trung ương, các địa phương và của Hiệp hội làng nghề Việt Nam đều có chung nhận xét rằng, khó khăn lớn nhất mà làng nghề, làng nghề truyền thống đang gặp phải hiện nay chủ yếu thuộc về nhóm Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Bản tin ngày 12/5/2021 trên Cổng thông tin điện tử UBND TP Hà Nội đã viết "Ngoài quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, phân tán thiếu bền vững, hầu hết các làng nghề đều chưa có hệ thống hạ tầng đạt yêu cầu, trong đó, giao thông đã xuống cấp, hệ thống điện ở một số nơi chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, hệ thống cấp thoát nước còn chưa đồng bộ. Mặt bằng sản xuất chật hẹp; nhiều cơ sở sản xuất trong làng nghề có nhu cầu về mặt bằng để xây dựng nhà xưởng mở rộng sản xuất nhưng gặp khó khăn. Đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng về đất, nguồn nước, không khí và tiếng ồn".

Thực tế sau khi có Nghị quyết số 25 của Quốc hội, Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 25 của Quốc hội, cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Đơn cử như Thành ủy thành phố Hà Nội ban hành Chương trình số 04-CTr/TU về Đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân giai đoạn 2021-2025; phấn đấu đến hết năm 2025, thành phố công nhận thêm 50 làng nghề, nghề truyền thống; UBND thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến các sở, ngành để có những chính sách hỗ trợ cụ thể giúp làng nghề, làng nghề truyền thống giải quyết những khó khăn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

Vấn đề còn lại là hội viên Hiệp hội làng nghề Việt Nam trong cả nước cần chủ động kiến nghị với cấp ủy, chính quyền xã, phường những khó khăn, vướng mắc, những nhu cầu cần thiết phải cải thiện về kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội để làng nghề, làng nghề truyền thống có thể phát triển nhanh, bền vững trong môi trường nông thôn mới gắn với việc thực hiện Nghị định 52 của Chính phủ về xét, công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống theo tiêu chí mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

2.2.Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất trong nông thôn mới (các tiêu chí 10-13)

Về phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất trong nông thôn mới để tạo việc làm, nâng cao thu nhập bình quân đầu người, giảm nghèo, hình thành các mô hình liên kết sản xuất mới (công ty nông nghiệp, công ty TNHH, HTX, Tổ hợp tác xã.v.v.), cấp ủy, chính quyền địa phương phải có các giải pháp để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và các nguồn lực tại chỗ. Làng nghề, làng nghề truyền thống là thế mạnh của mỗi địa phương sẽ nhận được sự quan tâm của Chương trình xây dựng nông thôn mới. Mô hình sản xuất của làng nghề, làng nghề truyền thống trên nền tảng hộ gia đình đã đến lúc cần có những đổi mới về tư duy theo câu nói nổi tiếng của nhà tỉ phú người Mỹ Warren Buffett với tinh thần là : "Sống ở đời nên hiểu muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì phải đi cùng nhau".

2.3. Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với xây dựng văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường (các tiêu chí 14-17)

Nhóm tiêu chí về văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường của Chương trình xây dựng nông thôn mới không thể tách rời sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống. Văn hóa làng xã trước kia, văn hóa nông thôn ngày nay tuy có những phát triển mới, có sự tiếp biến văn hóa từ bên ngoài, nhưng về cơ bản vẫn là một thể thống nhất vì nó có sự kế thừa, bảo tồn và phát triển những giá trị và đặc điểm riêng có của mỗi làng, mỗi nghề. Văn hóa làng, làng nghề sẽ gắn kết con người với con người, trọng nghĩa tình, sự đùm bọc, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau nhất là trong khó khăn, hoạn nạn.

Trước thách thức của quá trình đưa làng nghề, làng nghề truyền thống tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề, làng nghề truyền thống có ý nghĩa quyết định. Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ để làng nghề truyền thống đẩy mạnh dạy nghề, cấy nghề, không để thất truyền những nghề truyền thống mang đậm bản sắc làng quê Việt Nam. Bên cạnh việc phát triển sản xuất trong nông thôn mới, làng nghề, làng nghề truyền thống cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân nói chung, người làm nghề nói riêng.

2.4.Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội

Các giá trị vật chất và tinh thần của làng nghề, làng nghề truyền thống luôn có sức mạnh to lớn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào cấp ủy, chính quyền sở tại. Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, gắn kết con người trong lao động, sản xuất, sinh hoạt, cùng nhau chia sẻ quyền lợi và nghĩa vụ cộng đồng chính là lấy xây để chống lại những biểu hiện tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, góp phần xây dựng, củng cố môi trường sống bình an trong một xã hội trật tự, kỷ cương và thượng tôn pháp luật.

3. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng đô thị văn minh

Mối quan hệ giữa làng nghề, làng nghề truyền thống với đô thị đã có từ lâu đời (Thăng Long xưa-Hà Nội ngày nay với 36 phố phường mang tên gọi của rất nhiều nghề truyền thống là một minh chứng tiêu biểu). Hiện nay, với tốc độ đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng và trên diện rộng, đương nhiên mô hình làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với nông thôn sẽ ngày càng bị thu hẹp lại. Nghiên cứu về tình hình phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống tại một số đô thị lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Bắc Ninh, thành phố Hố Chí Minh.v.v có thể thấy, trong môi trường đô thị, làng nghề, làng nghề truyền thống có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển như : hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội do đô thị hóa mang lại (điện, đường, trường, trạm), khả năng tiếp cận các nguồn vốn thuận lợi hơn, tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao dễ ràng hơn (gần các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu.v.v), việc tiếp thị, quảng bá sản phẩm có thể thông qua nhiều hình thức phong phú. Làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội là một điển hình về tận dụng những lợi thể so sánh của đô thị để phát triển. Nói về sự đổi thay của làng nghề, Chủ tịch UBND xã Bát Tràng cho biết: "Hiện nay, Bát Tràng có hơn 200 doanh nghiệp và hơn 1.000 hộ sản xuất - kinh doanh gốm sứ, tạo việc làm ổn định cho khoảng 5.000 lao động địa phương và hơn 4.000 lao động đến từ các địa phương lân cận. Hằng năm, giá trị sản xuất - thương mại từ gốm sứ đạt hơn 2.000 tỷ đồng, thu nhập bình quân hiện đạt 60 triệu đồng/người/năm... Đặc biệt, những năm gần đây, Bát Tràng đã trở thành một trong những điểm du lịch làng nghề được nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế tìm đến. Gắn phát triển nghề gốm với du lịch thăm quan, du lịch trải nghiệm (lưu trú tại làng nghề, tham gia một số công đoạn của nghề gốm, thưởng thức ẩm thực làng nghề.v.v) ở Bát Tràng cũng là một điểm sáng. Mỗi năm, Bát Tràng đón gần 2.000 đoàn với hơn 20.000 khách tham quan, du lịch, ký kết hợp đồng kinh tế, trong đó có 10.000 khách quốc tế".

4.Một số kiến nghị

Hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, về phát triển kinh tế-xã hội, đất nước ta đã thu được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Làng nghề, làng nghề truyền thống có bước phát triển mới, đóng góp ngày càng nhiều hơn cho nguồn thu của đất nước. Tuy nhiên, theo đánh giá của cấp ủy, chính quyền nhiều địa phương, tình trạng mai một hoặc có nguy cơ thất truyền của khá nhiều nghề truyền thống đang ở cấp độ báo động đỏ (như nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô - Hà Nội còn duy nhất 01 hộ làm, tranh Đông Hồ ở Bắc Ninh chỉ còn 3 hộ còn giữ nghề, các hộ khác chuyển sang làm hàng mã.v.v). Bảo tồn và phát triển những nghề truyền thống, đặc biệt là khôi phục, tiếp sức cho những nghề truyền thống quý hiếm trên bờ vực mai một hoặc thất truyền đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về cơ sở vật chất, kỹ thuật, về vốn, nhân lực, về chất lượng mẫu mã sản phẩm, về thị trường đầu ra, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường.v.v.

Chương trình xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí và định hướng xây dựng đô thị văn minh toàn diện của Đảng và Nhà nước chính là cơ hội để các địa phương giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho các ngành nghề nông thôn, trong đó có làng nghề, làng nghề truyền thống vượt qua những khó khăn, vướng mắc để phát triển. Để làng nghề, làng nghề truyền thống trong cả nước không bị bỏ lại phía sau strong quá trình tiếp tục xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh, xin có một số kiến nghị:

4.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Thay cũ- đổi mới bao giờ cũng là một quá trình khó khăn, nhất là đối với khu vực nông thôn nơi mà chủ nghĩa kinh nghiệm luôn được đề cao, tâm lí ngại thay đổi, sợ thất bại của người tiểu nông còn phổ biến. Thực tế quá trình đổi mới ở nước ta cho thấy có lúc, có nơi còn tồn tại tư tưởng ngại thay đổi, sợ đụng chạm, ảnh hưởng đến quyền lợi. Vì vậy, để bảo đảm mục tiêu gắn phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trong giai đoạn 2021-2025 cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, biến khát vọng của Đại hội đảng toàn quốc nhiệm kỳ 13 trở thành khát vọng và sự nêu gương của mỗi cấp ủy viên, đảng viên ở từng chi bộ, đảng bộ và của toàn dân. Đối với những địa phương không hoàn thành mục tiêu của Chương trình cần thông qua công tác thanh tra, kiểm tra làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan để xem xét trách nhiệm trước hết là đối với cấp ủy và đảng viên giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt.

4.2. Hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và luôn đề cao nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Làng nghề, làng nghề truyền thống nước ta với những đặc trưng riêng đã được ghi nhận tại Nghị định số 52 của Chính phủ. Tuy nhiên, để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân (Điều 33 HP 2013) trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm rất cần một văn bản quy phạm pháp luật tầm một đạo luật để điều chỉnh về làng nghề, làng nghề truyền thống.

Kinh nghiệm xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội trong nhiều nhiệm kỳ qua cho thấy, một ngành, một lĩnh vực đã được nghị định hoặc pháp lệnh điều chỉnh là điều kiện rất thuận lợi để nâng lên thành luật bởi lẽ ngành đó, lĩnh vực đó đã được xác định là nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật với hình thức là Nghị định hoặc Pháp lệnh. Do đó, việc xây dựng Luật về làng nghề, làng nghề truyền thống trên cơ sở kế thừa, phát triển những quy định có liên quan của Nghị định 52/2018/NĐ-CP hoàn toàn khả thi, bảo đảm không chồng chéo về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng với các văn bản quy phạm pháp luật khác đã có trong hệ thống pháp luật hiện hành của Nhà nước. Đánh giá tác động về kinh tế-xã hội nếu Luật làng nghề, làng nghề truyền thống được ban hành chắc chắn sẽ mang lại nhiều yếu tố tích cực. Có thể sơ bộ dự báo những tác động chủ yếu như sau:

- Bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, hạn chế thấp nhất tình trạng thất truyền hoặc mai một của những nghề truyền thống có giá trị cao về văn hóa và kinh tế.

- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước; kéo giảm xu hướng li nông, li hương để đến với các đô thị vì mưu sinh vô hình chung tạo áp lực đối với các đô thị.

- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, khai thác lợi thế so sánh và những tiềm năng sẵn có của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hóa cũng như thực hiện chủ trương tăng cường liên kết vùng.

- Bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi làng, mỗi nghề góp phần bảo tồn, phát triển văn hóa làng nghề nhằm thực hiện mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong tình hình mới.

- Góp phần củng cố niềm tin, thu hút sự tham gia tích cực chủ động của Nhân dân vào công tác xây dựng Đảng, Chính quyền và công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

4.3. Đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển làng nghề trong điều kiện mới, tận dụng cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình chuyển đổi số quốc gia, nền kinh tế số, sự hình thành và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Phát huy vai trò của tổ chức khuyến công, Hiệp hội làng nghề, các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc tuyền truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển đất nước trong tư thế chủ động tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, mô hình kinh tế tuần hoàn.v.v; ý nghĩa và những lợi ích mà nó mang lại đối với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh nói chung, cho làng nghề, làng nghề truyền thống nói riêng. Thông qua các hoạt động tuyền truyền, phổ biến làm thay đổi tư duy phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống để có thể tranh thủ tốt nhất những cơ hội mới, đồng thời hạn chế thấp nhất tác động từ những mặt trái, những thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn.

4.4.Giải quyết những điểm nghẽn để làng nghề phát triển nhanh và bền vững

Trước mắt, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 25 của Quốc hội và Kế hoạch triển khai cụ thể của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2021-2025, bên cạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo và phân bổ nguồn lực từ trung ương, Chính quyền các địa phương cần chủ động triển khai công tác điều tra, đánh giá thực trạng làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn làm căn cứ để xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội theo Chương trình xây dựng nông thôn mới. Trước mắt cần ban hành những cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ đối với làng nghề, làng nghề truyền thống như:

- Cải thiện chất lượng kết cấu hạn tầng kinh tế-xã hội, giải quyết nhu cầu mặt bằng sản xuất;

- Hỗ trợ việc tiếp thị, phát triển thị trường đầu ra cho sản phẩm;

- Tạo điều kiện thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận các nguồn vốn và khả năng ứng dụng công nghệ để đổi mới mẫu mã sản phẩm;

- Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí cơ hội để làng nghề, làng nghề truyền thống có điều kiện giảm giá thành tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước./.

Luật sư Lê Việt Trường
Nguyên ĐBQH khóa XII, XIII

Tin liên quan

Tin mới hơn

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

LNV - Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước có khoảng hơn 5.400 làng nghề, trong đó, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng có hơn 1.500 làng, với khoảng 300 làng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

LNV - Xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững cho làng nghề Hà Nội nói chung và ngành thủ công mỹ nghệ nói riêng đang là bài toán nan giải, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên và giải pháp đồng bộ.
Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Các vùng nông thôn của Nghệ An có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng như cái, tre, nứa, luồng, cói, mây, gỗ, đá, đất sét…Những nguyên liệu này là cơ sở để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ của Nghệ An được sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống, và rất phù hợp để phát triển quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững...
Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

LNV - Nguồn nguyên liệu là 'nút thắt cổ chai' lớn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ và đòi hỏi một chiến lược tái cấu trúc toàn diện từ cấp vùng đến liên kết vùng.
Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

LNV - Các làng nghề đang có những chuyển biến tích cực từ nhận thức, tới hành động, nói không với sản xuất, kinh doanh hàng giả. Việc làng nghề nói không với sản xuất hàng giả sẽ góp phần xây dựng lại một môi trường kinh doanh chất lượng, uy tín.
Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

LNV - Ngày 25/7 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn tới.

Tin khác

Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

LNV - Việc bảo tồn và phát triển làng nghề không chỉ dừng lại ở gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn là câu chuyện hội nhập, đổi mới sáng tạo và nâng tầm sản phẩm thủ công Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ Đồng kỵ - Bắc Ninh

Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ Đồng kỵ - Bắc Ninh

LNV - Làng Đồng Kỵ ở sát bờ Nam sông Ngũ Huyện Khê – đây cũng là con sông chứng nhân lịch sử của dân tộc, của Bắc Ninh. Trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay Đồng Kỵ đã trở thành nơi sản xuất và cung cấp đồ gỗ mỹ nghệ lớn, không chỉ cung cấp sản phẩm cho các nơi trong nước mà còn ra cả các nước khác trên thế giới.
Xã Bát Tràng tập trung phát triển làng nghề với phát triển du lịch

Xã Bát Tràng tập trung phát triển làng nghề với phát triển du lịch

LNV - Với lợi thế về làng nghề gốm sứ truyền thống, Bát Tràng, TP Hà Nội tiếp tục tập trung phát triển làng nghề kết hợp với phát triển du lịch, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của địa phương.
Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

LNV - Người Khơ Mú ở Việt Nam thường được các dân tộc khác gọi là: Xá Cẩu, Tày Hạy. Với tổng số dân vào khoảng trên dưới 56.542 người, họ cư trú ở các vùng rẻo cao, vùng giữa thuộc các vùng Tây Bắc và Thanh Nghệ của Việt Nam.
Làng nghề - “mắt xích” cho công nghiệp văn hóa

Làng nghề - “mắt xích” cho công nghiệp văn hóa

LNV - Dưới tác động của toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, việc khai thác tiềm năng của các làng nghề trong lĩnh vực du lịch không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống mà còn tạo động lực phát triển cho công nghiệp văn hóa - một ngành kinh tế mũi nhọn theo chiến lược phát triển của Thủ đô.
Nghị quyết 57 mở đường phát triển làng nghề

Nghị quyết 57 mở đường phát triển làng nghề

LNV - Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đang mở ra kỷ nguyên mới cho doanh nghiệp tư nhân, trong đó có doanh nghiệp, hộ kinh doanh tại các làng nghề thủ công, tạo đà bứt phá nhờ khoa học công nghệ. Nghị quyết này không chỉ là định hướng chiến lược về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mà còn là “cầu nối vàng” giữa các viện nghiên cứu, nhà khoa học với cộng đồng doanh nghiệp.
Ứng dụng công nghệ số phát triển làng nghề

Ứng dụng công nghệ số phát triển làng nghề

LNV - Xác định chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong phát triển sản xuất, kinh doanh, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ động ứng dụng, chuyển đổi dữ liệu và quy trình sản xuất từ thủ công sang số hóa, tự động hóa. Đồng thời, tích cực sử dụng mạng xã hội, xây dựng website, tham gia các sàn thương mại điện tử để đưa các sản phẩm làng nghề vươn dài ra thị trường thế giới.
Làng nghề với bài toán “chuyển đổi xanh”

Làng nghề với bài toán “chuyển đổi xanh”

LNV - Xây dựng mô hình “chuyển đổi xanh”, khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất, giảm phát thải chất độc hại đang được coi là hướng mở có tín hiệu khả quan, để giải “bài toán khó” ô nhiễm môi trường làng nghề vốn vẫn là mối lo chung của không ít địa phương từ nhiều năm nay. Dẫu vậy, việc triển khai các giải pháp này vẫn là điều không dễ...
Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch làng nghề Việt Nam

Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch làng nghề Việt Nam

LNV - Du lịch làng nghề (DLLN) là một loại hình du lịch khá mới mẻ tại Việt Nam, nó mang lại một số lợi ích thiết thực như: giúp đa dạng hóa các loại hình du lịch; khôi phục, phát triển một số làng nghề có nguy cơ bị mai một, thất truyền; góp phần phát triển kinh tế cho các hộ gia đình trong làng nghề và gia đình xung quanh làng nghề; quảng bá văn hóa Việt Nam và văn hóa mỗi vùng miền. Tuy nhiên, khi phát triển DLLN cũng gặp không ít khó khăn, thách thức cần phải có giải pháp tháo gỡ. Trong bài viết này, tác giả đề xuất một số giải pháp giúp DLLN tiếp tục phát triển để mang lại nhiều lợi ích hơn nữa.
Hà Nội: Thành lập 2 cụm công nghiệp làng nghề vốn gần 370 tỷ đồng

Hà Nội: Thành lập 2 cụm công nghiệp làng nghề vốn gần 370 tỷ đồng

LNV - Thành phố Hà Nội quyết định thành lập 2 cụm công nghiệp làng nghề, vốn gần 370 tại huyện Thạch Thất và huyện Phú Xuyên...
Bảo tồn làng nghề truyền thống trước thách thức của thời đại

Bảo tồn làng nghề truyền thống trước thách thức của thời đại

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn đóng góp rất lớn vào bức tranh văn hóa của đất nước. Bảo vệ, phát triển các làng nghề truyền thống cần sự chung tay từ chương trình của Chính phủ, các chính sách hỗ trợ của địa phương cho đến sự nỗ lực thích ứng với thời cuộc của chính các làng nghề.
Những yếu tố sống còn của làng nghề

Những yếu tố sống còn của làng nghề

LNV - Hệ thống sản xuất trong các làng nghề mang hình thái đặc trưng và bản sắc riêng biệt của nền kinh tế, văn hóa Việt Nam từ lâu đời. Làng nghề không chỉ là một khu vực sản xuất có những đóng góp quan trọng trong việc tạo ra thu nhập, việc làm cho người dân nông thôn mà còn chứa đựng trong đó những giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc.
Sức sống ở làng nghề Yên Bái

Sức sống ở làng nghề Yên Bái

LNV - Mang trong mình những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt của người dân mỗi địa phương, mỗi vùng đất; thế nên không ít nghề truyền thống và các sản phẩm của làng nghề ở Yên Bái không những không bị mai một mà ngày càng khẳng định giá trị nhờ đổi mới sáng tạo, kết hợp du lịch, thương mại điện tử và xu hướng tiêu dùng xanh.
Đồng Tháp: Bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

Đồng Tháp: Bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

LNV - Tỉnh Đồng Tháp quan tâm bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, truyền thống, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.
Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng

Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng

LNV - Tạp chí Làng Nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết: “Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng” của đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư BCH T.W Đảng cộng sản Việt Nam.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thông báo phân luồng giao thông phục vụ Tổng duyệt Lễ kỷ niệm A80

Thông báo phân luồng giao thông phục vụ Tổng duyệt Lễ kỷ niệm A80

LNV - Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng ngừa ùn tắc giao thông, Công an TP Hà Nội thông báo phân luồng giao thông và tổ chức hướng đi đối với các phương tiện.
Nâng tầm đặc sản quê hương

Nâng tầm đặc sản quê hương

LNV - Với khát vọng nâng tầm giá trị đặc sản quê hương từ nguồn nguyên liệu có sẵn, nhiều hộ gia đình đã tạo nên các sản phẩm độc đáo.
Hà Nội bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2-9

Hà Nội bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2-9

LNV - Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh đề nghị các đơn vị bảo đảm an toàn tuyệt đối Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.
Phú Thượng khánh thành trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm

Phú Thượng khánh thành trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm

LNV - Ngày 28/8, Đảng ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Phú Thượng đã tổ chức Lễ gắn biển công trình Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm – Công trình chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.
Ngăn chặn thực phẩm bẩn từ khâu giết mổ

Ngăn chặn thực phẩm bẩn từ khâu giết mổ

LNV - Thời gian qua, các cơ quan chức năng liên tiếp triệt phá nhiều vụ kinh doanh thịt không rõ nguồn gốc trên thị trường, nhất là thịt nhiễm bệnh Dịch tả lợn châu Phi.
Giao diện di động