Diện mạo Thủ đô Hà Nội sau 70 năm giải phóng - Tầm nhìn tương lai

LNV - Thăng Long - Hà Nội đã trải qua và chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, đã tạo nên nền văn hiến rực rỡ mang đậm dấu ấn Thủ đô, trong đó nổi trội, dễ nhận biết là về diện mạo đô thị. Từ quy mô, cấu trúc đô thị, kết cấu hạ tầng, kiến trúc công trình, cảnh quan nhân tạo, cảnh quan tự nhiên, tổng hòa là kiến trúc cảnh quan, luôn được ghi nhận là ngày càng văn minh, hiện đại hơn, xứng tầm là "Trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế".
Diện mạo Thủ đô Hà Nội sau 70 năm giải phóng - Tầm nhìn tương lai

Nhận diện được kết quả đạt được cũng như tồn tại và nhất là thách thức trong giai đoạn tới luôn là yêu cầu cần thiết để hướng tới Thủ đô Hà Nội là Thành phố "Văn hiến - văn minh - hiện đại", là trung tâm, động lực phát triển vùng và cả nước, Thành phố kết nối toàn cầu, có trình độ phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh, an toàn xã hội để xây dựng, phát triển Thủ đô bền vững.

Về quy mô Thủ đô, khi tiếp quản năm 1954, Hà Nội chỉ có diện tích 152 km2 thì qua 4 lần được điều chỉnh địa giới, đến nay, đã có diện tích 3.344 km (diện tích đô thị lớn nhất cả nước).

Mỗi giai đoạn phát triển, diện mạo Thủ đô đều có những dấu ấn đặc thù. Từ những ngày đầu hòa bình, việc giải quyết nơi ăn ở cho cán bộ, viên chức, cho người lao động đã được quan tâm. Gần 200 khu, xóm lao động với gần 2 vạn hộ dân sống trong điều kiện chật hẹp, thiếu vệ sinh đã được cải tạo, sửa chữa. Nhiều khu ở mới thấp tầng theo mô hình đơn vị ở Xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng như Phúc Xá, Mai Hương, Chương Dương..., thể hiện tính ưu việt với người lao động, với công nhân - viên chức.

Cùng với nhà ở là các công trình công cộng như câu lạc bộ Thống Nhất, các bãi chiếu bóng ngoài trời: Lương Yên, Khương Thượng, Cầu Giấy..., cải tạo bệnh viện Việt - Đức. Điểm nổi bật là 1957, chúng ta đã thành lập, xây dựng 5 trường đại học: Tổng hợp, sư phạm, Y dược, Bách Khoa, Nông lâm, dấu ấn minh chứng Hà Nội là trung tâm văn hóa - giáo dục, động lực cho phát triển các giai đoạn tiếp theo.

Ngay từ đầu Kế hoạch 5 năm (1960 - 1965) đã hình thành mô hình không gian đơn vị ở mới là khu nhà ở Kim Liên 5 tầng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Cũng vào thời kỳ này, nhiều khu vực trong nội đô lịch sử đã xây dựng các khu ở tạo diện mạo mới: Thọ Lão, Quỳnh Lôi. Khu ở Nguyễn Công Trứ được triển khai khá hoàn chỉnh trên khu đất 6ha (đường Nguyễn Công Trứ), vốn là một nghĩa trang ngoại kiều mới được giải tỏa, chỉ giữ lại duy nhất một kiến trúc kiên cố là nhà quàn, mãi sau này mới dùng làm nơi sinh hoạt câu lạc bộ. Trong khu bố trí hai dãy nhà ở năm tầng, trong đó hai nhà làm nơi ở tập thể cho cán bộ độc thân. Toàn khu có nhà mẫu giáo, nhà trẻ, có cửa hàng bách hóa. Giữa các khối nhà có cây xanh, sân chơi, nơi thu rác.

Diện mạo Thủ đô Hà Nội sau 70 năm giải phóng - Tầm nhìn tương lai

Khu nhà ở Văn Chương, xây dựng năm 1963, được bố cục bởi những nhóm nhà ở hai tầng mái ngói, gắn với kiến trúc truyền thống là dấu ấn ở nội đô. Nhiều công trình công cộng được xây dựng, tiêu biểu như: Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Đại học Thương mại, Học viện Thủy lợi, Cục Thống kê Trung ương, trụ sở Tổng cục Lâm nghiệp, cải tạo Bách hóa Tổng hợp, trụ sở Ủy ban trị thủy sông Hồng, Nhà sàn Bác Hồ, lễ đài Ba Đình, Công viên Thống Nhất, Bệnh viện Mắt Trung ương; Hội trường Ba Đình, Nhà hát Quân đội, Bệnh viện đa khoa Gia Lâm, trụ sở Bộ Công nghiệp nặng, Viện Thí nghiệm vật liệu xây dựng ở Nghĩa Đô, Sân vận động Hàng Đẫy...

Công trình kiến trúc ở giai đoạn này nói chung quy mô vừa phải, chủ yếu với phong cách tiền hiện đại, đa phần có mặt bằng đối xứng ngay ngắn. Mặt nhà với nhiều tìm tòi trong hình khối và tương quan tỷ lệ, khai thác những giải pháp và đường nét gần gũi với văn hóa dân tộc.

Năm 1961, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội xây dựng với viện trợ của Liên Xô, là công trình rõ nét của kiến trúc hiện đại, được Việt Nam hóa.

Một công trình viện trợ khác là Viện Khoa học Việt Nam được xây dựng ở Nghĩa Đô, dấu ấn kiến trúc hiện đại lan tỏa ra ngoài nội đô.

Ngay sau khi giải phóng Thủ đô, Hà Nội bắt tay xây dựng Nhà máy Diêm, Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống. Tiếp theo là mở rộng Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy xay Lương Yên, Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá, văn phòng phẩm Hồng Hà, Xí nghiệp dược phẩm II....

Trong kế hoạch 5 năm (1960 - 1965), chúng ta đã xây dựng Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Dệt 8/3, Nhà máy đông lạnh Cầu Diễn, điện cơ Thống Nhất, bê tông Chèm, Nhà máy in Tiến Bộ, Phân lân Văn Điển, Nhà máy Pin, dệt kim Đông Xuân, xí nghiệp Dược phẩm II... Trên địa bàn thành phố có 134 cơ sở công nghiệp (79 của Trung ương và 55 của địa phương), phần lớn được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.

Hàng loạt xí nghiệp tư nhân được chuyển sang hợp doanh và hoạt động hiệu quả như: Điện Thông, Thủy tinh Thanh Đức, Dệt Cự Doanh. Thành phố đã tổ chức những khu công nghiệp tập trung: Thượng Đình, Minh Khai, Văn Điển, Chèm, Cầu Đuống, Yên Viên, Đông Anh. Đến nay, nhìn lại về công nghiệp hóa, những kết quả trên là minh chứng tự hào về công nghiệp hóa, song cũng đang là thách thức cho diện mạo mới của nội đô Hà Nội.

Sau Kế hoạch 5 năm, Hà Nội đã tiên phong ứng dụng công nghệ mới trong kiến trúc nhà ở lắp ghép tấm như: Trương Định, Yên Lãng (2 tầng) và hàng loạt các khu ở 5 tầng tại Trung Tự, Khương Thượng, Giảng Võ, Vĩnh Hồ. Công trình có không gian kiến trúc nổi trội hơn cả là nhà ở khu ngoại giao đoàn Vạn Phúc (1967).

Nhìn tổng quan kiến trúc giai đoạn 1954 - 1986 ở Hà Nội là minh chứng cho thấy yếu tố tạo nên bản sắc đô thị gắn liền với tiến trình đô thị hóa được phát triển và kế thừa qua các thời kỳ.

Giai đoạn 1986 đến nay là giai đoạn có nhiều dấu ấn mới về diện mạo đô thị, về kiến trúc cảnh quan. Trước hết phải kể đến các khu đô thị mới như: Linh Đàm, Trung Yên, Mỹ Đình, Trung Hòa Nhân Chính, Ciputra, Royal City, Gamuda, Times City... Kiến trúc hiện đại không chỉ hiện diện ở Nam sông Hồng mà đã sang Bắc sông Hồng (Long Biên, Đông Anh). Cấu trúc Hà Nội với mô hình chùm đô thị đã từng bước hiện diện.

Diện mạo Thủ đô Hà Nội sau 70 năm giải phóng - Tầm nhìn tương lai

Cùng với các khu đô thị là các công trình tầm vóc quốc gia đã được xây dựng như Bảo tàng Hà Nội (2010), tòa nhà Quốc hội (2014), tòa nhà Keangnam 72 tầng (2010), các khách sạn: Daewoo, Grand Plaza, tòa nhà Lotte Center 65 tầng (2015)... Để trở thành Hà Nội xanh, thành phố đã chú trọng đến xây dựng các công viên tầm vóc quốc gia như: Công viên Hòa Bình, Cầu Giấy, Yên Sở. Bên cạnh phát triển mới về diện mạo đô thị, thành phố đã quan tâm đến bảo tồn di sản đô thị, các công trình kiến trúc có giá trị (biệt thự, làng cổ, nhà ở có giá trị trong nội đô lịch sử).

Khó mà có thể liệt kê hết các không gian kiến trúc cảnh quan, các công trình kiến trúc hiện đại trong giai đoạn này, song có thể khẳng định, Hà Nội với diện mạo văn minh, hiện đại đang hiện hữu dần. Kết cấu hạ tầng được xây dựng hiện đại, đã sử dụng, khai thác tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, các cầu vượt sông Hồng, biểu tượng mới của Hà Nội.

Về không gian kiến trúc, nếu trước 1954, công trình cao nhất là 7 tầng; trước năm 1986, công trình 11 tầng thì nay đã xây dựng công trình 74 tầng (Keang Nam), đang chuẩn bị xây dựng công trình 108 tầng.

Nhìn lại giai đoạn đã qua, chúng ta có thể tự hào về những gì diện mạo cảnh quan Hà Nội đạt được, góp phần tạo nên vai trò, vị thế mới của Thủ đô, phát huy được giá trị văn hóa lịch sử tích lũy qua hàng nghìn năm. Song, chúng ta cũng nhìn nhận được những tồn tại như chưa định hình được đặc thù kiến trúc Thủ đô, tái thiết, cải tạo đô thị còn chậm, chưa kiểm soát tốt việc tổ chức thực hiện theo quy hoạch...

Để giải quyết, Hà Nội đang song hành điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 và lập Quy hoạch Thủ đô đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Bên cạnh đó, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua sẽ tạo động lực để diện mạo Thủ đô có bước đột phá. Hà Nội "văn hiến - văn minh - hiện đại - bền vững" sẽ từng bước hiện hữu, đáp ứng mong muốn của cả nước và bạn bè quốc tế.

TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm

Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam

TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm

Tin liên quan

Thủ đô Hà Nội hoàn thành xây dựng nông thôn mới

Thủ đô Hà Nội hoàn thành xây dựng nông thôn mới

LNV - Ngày 18/4, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền chủ trì Hội nghị bỏ phiếu đề nghị xét, công nhận thành phố Hà Nội hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.
Cần một cách tiếp cận đa chiều đối với quy hoạch phát triển thủ đô Hà Nội

Cần một cách tiếp cận đa chiều đối với quy hoạch phát triển thủ đô Hà Nội

LNV - Mùa thu năm Canh Tuất (năm 1010), nhà vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Trải qua hơn 1.000 năm lịch sử thăng trầm, kinh thành Thăng Long và nay là Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của người dân Việt Nam.
“Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

“Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

LNV - Cứ mỗi độ gió heo may về giăng ngập tràn trên lối phố thì cũng là thời khắc báo hiệu một mùa Thu bắt đầu tới! Mùa Thu ở mỗi vùng miền lại mang đến cho con người ở đó những khoảng khắc, nét thi vị riêng biệt mà khi đi xa người ta thường không dễ gì quên được.

Tin mới hơn

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.

Tin khác

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Rượu Đế Vương: Hành trình 24 năm gìn giữ hồn rượu truyền thống, nâng tầm sản phẩm OCOP

Rượu Đế Vương: Hành trình 24 năm gìn giữ hồn rượu truyền thống, nâng tầm sản phẩm OCOP

LNV - Từ một người thợ may, ông Nguyễn Văn Liên đã tình cờ bén duyên với nghề nấu rượu truyền thống của gia đình. Sau 24 năm gắn bó, bằng sự kiên trì, tâm huyết và tinh thần không ngừng nâng cao chất lượng, ông đã gây dựng thương hiệu rượu Đế Vương, trong
Trường THPT Trung Giã: Gieo mầm xanh, gắn kết các thế hệ vì tương lai bền vững

Trường THPT Trung Giã: Gieo mầm xanh, gắn kết các thế hệ vì tương lai bền vững

LNV - Sáng 8/8, tại khuôn viên Trường THPT Trung Giã, chương trình “Trồng cây vì một tương lai xanh, bền vững” được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo địa phương, cán bộ, giáo viên, học sinh và nhiều thế hệ cựu học sinh. Gần 70 cây xanh đã được trồng tạ
Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Gỡ “nút thắt” để xuất khẩu thủy sản về đích

Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Gỡ “nút thắt” để xuất khẩu thủy sản về đích

LNV - Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lên khoảng 95-100 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu lớn nhưng có cơ sở, nhất là khi mỗi ngành hàng đều nỗ lực vươn lên, đóng góp vào mục tiêu này. Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có c
Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

LNV - Ngày 8/8/2026, Hiệp hội Làng nghề thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị tập trung đánh giá kết quả đạt được, tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn và thống nh
Nghệ thuật thực cảnh nhập vai: Khám phá trải nghiệm du lịch ở Nà Hang (Tuyên Quang)

Nghệ thuật thực cảnh nhập vai: Khám phá trải nghiệm du lịch ở Nà Hang (Tuyên Quang)

Ngày 9/8/2026, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm, Hà Nội) đã diễn ra cuộc họp báo giới thiệu chương trình nghệ thuật “Long mạch Nà Hang – Huyền thoại trên mặt nước”. Đây là sản phẩm du lịch lần đầu tiên được ra mắt tại Tuyên Quang theo hình thức biểu diễn thực cảnh nhập vai (Immersive real-scene show). Công ty TNHH Sự kiện và Truyền thông Viettimes là đơn vị thực hiện. Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo UBND xã Nà Hang, Tuyên Quang cùng đông đảo các nghệ sĩ, diễn viên, người nổi tiếng.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động