Hà Nội: 33°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 34°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 32°C Thừa Thiên Huế

Thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

LNV - Trong những năm qua, công nghiệp Nghệ An phát triển khá và đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách của tỉnh; Giải quyết nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Cơ cấu công nghiệp tiếp tục chuyển dịch nhanh và đúng hướng, cơ cấu nội ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo, giảm dần công nghiệp khai khoáng. Đã hình thành được một số lĩnh vực công nghiệp chủ lực.
Mục tiêu phát triển công nghiệp Nghệ An trong những năm tới là vừa ưu tiên các ngành có lợi thế cạnh tranh, vừa tập trung chuyển dịch cơ cấu sang các lĩnh vực có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu, đẩy mạnh các ngành sản xuất thành phẩm cuối cùng. Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển dẫn đến các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào linh kiện nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí đầu vào do tiền chuyên chở, kho vận, bảo hiểm,... tăng lên, chưa kể rủi ro về thời gian nhận hàng ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, giảm sức cạnh tranh. Từ đó việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) từ những nhà sản xuất lắp ráp, nhất là trong nhóm ngành cơ khí chế tạo, sản xuất và lắp ráp ô tô, sản xuất máy móc, thiết bị,... do tỷ lệ chi phí cho linh, phụ kiện của nhóm ngành này thường chiếm tới 70% trong giá thành sản phẩm.

Hiện trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu như: Sản xuất linh kiện, phụ tùng kim loại; sản xuất bao bì; sản xuất linh kiện điện tử, công nghiệp hỗ trợ dệt may. Tuy nhiên số lượng và quy mô các doanh nghiệp còn rất hạn chế, qua điều tra khảo sát, tính đến năm 2017, các ngành CNHT tỉnh Nghệ An có khoảng 105 doanh nghiệp, chiếm 28,15% số doanh nghiệp trong các ngành có công nghiệp hỗ trợ và chỉ chiếm 7,6% tổng số doanh nghiệp toàn ngành công nghiệp. Cụ thể:

Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo

Nhu cầu về sản phẩm CNHT phục vụ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An và thị trường cả nước là rất lớn, đa dạng cả về kích thước, mẫu mã, chất lượng và được dự báo là sẽ tăng trưởng nhanh trong những năm tới, nhằm phục vụ cho các dự án lớn trong các lĩnh vực đóng tàu, điện, xi măng, thiết bị xây dựng, phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm cơ khí phục vụ tiêu dùng. Tuy nhiên CNHT cho những ngành này hiện nay không đáp ứng được, đặc biệt là ở các dự án lớn trong ngành đóng tàu, thiết bị điện, xi măng. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 163 doanh nghiệp công nghiệp cơ khí đang hoạt động nhưng chỉ có 05 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế và 23 cơ sở gia công một số chi tiết máy móc, thiết bị ngành cơ khí và 06 cơ sở sản xuất các thiết bị đóng tàu, thuyền nhưng để phát triển các cơ sở này đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị là rất khó. Nhìn chung, ngành công nghiệp cơ khí ở Nghệ An hiện nay chưa phát triển


Làng đa nem Diễn Ngọc (Diễn Châu)


CNHT nhóm cơ khí phục vụ ngành nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản đã có những bước phát triển nhất định nhưng chủ yếu mới phục vụ thị trường các doanh nghiệp trong tỉnh. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nhóm này trên địa bàn Nghệ An mới chỉ dừng lại một số chi tiết như đúc gang (dạng phôi), nhựa, cao su; động cơ và thân vỏ khung các loại máy nổ, máy xay xát, máy bơm nước, máy cày, máy gặt đập liên hoàn; sản xuất chế tạo các loại khuôn mẫu, bồn áp lực, phụ tùng, bi nghiền, băng chuyền, các thiết bị phụ tùng cho ngành hoá chất, thiết bị đong đếm và bơm xăng dầu; sản xuất kết cấu thép gia công và chế tạo,... phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, mía đường, sản xuất xi măng, gạch ngói, khai thác chế biến khoáng sản,... Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất còn thủ công nhiều, hàm lượng công nghệ chưa cao.

CNHT nhóm cơ khí đóng tàu: Các sản phẩm như vỏ lãi, xuồng, tàu, bồn nước các loại, chi tiết máy đánh bắt thủy sản, chân vịt, máy ép chân vịt, ép tôn, trục tiến tới hộp số phục vụ công nghiệp đóng, sửa chữa tàu, thuyền

Ngành sản xuất phụ tùng điện, linh kiện điện tử, CNTT, viễn thông

Nghệ An với lợi thế có điều kiện về mặt hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực CNTT, môi trường tổ chức - chính sách thuộc loại khá so với các tỉnh thành đứng đầu cả nước nhưng công nghiệp điện-điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông phát triển còn chậm kéo theo CNHT cho ngành này chưa phát triển. CNHT lĩnh vực này có 06 cơ sở sản xuất trên tổng số 17 doanh nghiệp ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử, CNTT, viễn thông, sản phẩm chủ yếu là thiết bị điện tử, viễn thông và các thiết bị ứng dụng trong điện thoại di động, vi mạch bán dẫn công nghệ cao. Còn có một số cơ sở sản xuất thiết bị điện, linh kiện điên tử nội địa nhưng quy mô còn nhỏ, sản phẩm chất lượng chưa cao, thị trường tiêu thụ khó nên hoạt động sản xuất cầm chừng, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

CNHT ngành sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy

Trên địa bàn tỉnh chưa có tập đoàn nào sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy do vậy, công nghiệp hỗ trợ lĩnh vực này không đáng kể và phát triển chậm. Ngành sản xuất xe có động cơ, rơ moóc và các phương tiện vận tải khác có 12 doanh nghiệp, tạo việc làm cho 548 lao động. Trong số đó, chỉ có 03 doanh nghiệp và một số cơ sở nhỏ lẻ sản xuất các phụ tùng linh kiện.

CNHT ngành dệt may-da giày

Công nghiệp dệt may - da giày Nghệ An là ngành chủ lực về tạo ra nhiều việc làm, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao cho tỉnh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 65 cơ sở/nhà máy may mặc đang hoạt động trải khắp các huyện, thành, thị; 01 nhà máy thuộc gia và 01 dự án sản xuất giày da xuất khẩu.

Với quy mô phát triển hiện nay của công nghiệp dệt may - da giày là điều kiện thuận lợi cơ bản cho ngành CNHT ngành này phát triển. Tuy nhiên, lĩnh vực này nhìn chung đang yếu và thiếu do các doanh nghiệp dệt may - da giày của Nghệ An chủ yếu là gia công nên nguồn nguyên phụ liệu phải phụ thuộc vào sự chỉ định của nhà nhập khẩu, các nhà sản xuất CNHT trong nước thấy không có lãi nên không quan tâm đầu tư. Mặt khác, phát triển CNHT ngành dệt may - da giày đòi hỏi chi phí cho xử lý môi trường rất cao, nhất là công đoạn nhuộm vải và thuộc da, do đó sản phẩm làm ra có giá thành cao hơn sản phẩm nhập khẩu

CNHT sản xuất bao bì, in ấn và tem nhãn

Lĩnh vực CNHT sản xuất bao bì, in ấn và tem nhãn có khoảng 20 DN đang hoạt động, chủ yếu là doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ và vừa. Đây cũng là lĩnh vực CNHT phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp hạ nguồn khác nhau như bao bì giấy carton, bao bì nhựa và in ấn trên bao bì...


Làng nghề gốm cổ Trù Sơn


Thực trạng về lao động trong ngành CNHT

Tổng số lao động CNHT trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất khiêm tốn, khoảng 10.783 người, chiếm chưa đầy 17% tổng số lao động ngành công nghiệp tỉnh và chiếm 27,7%. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chủ yếu là lao động qua trình độ sơ cấp, trung cấp chiếm tỷ trọng lớn trên 86,79% trong tổng số lao động. Điều đó phản ánh số lao động hiện nay phần lớn mới qua đào tạo cơ bản, thực hiện các công việc không yêu cầu cao về trình độ và kỹ năng như gia công, lắp ráp là chính, điển hình là số lượng lao động công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may-da giày chỉ chiếm 3,8% tổng số lao động làm việc trong ngành.

Trình độ công nghệ, tổ chức sản xuất và khả năng liên kết

- Lĩnh vực CNHT sản xuất nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện kim loại (cơ khí) nhìn chung máy móc thiết bị đã lạc hậu vài thế hệ, ít được đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nên chỉ có khả năng cung cấp các sản phẩm CNHT không có yêu cầu cao về kỹ thuật, độ chính xác thấp, các sản phẩm CNHT thuộc lớp cung ứng 3,4. Quy mô các doanh nghiệp cơ khí nhỏ và vừa, mặt bằng nhà xưởng chật hẹp, tổ chức sản xuất đơn chiếc, chủ yếu là gia công các sản phẩm cơ khí phục vụ nhu cầu của địa phương; Chưa có doanh nghiệp qui mô lớn làm vai trò hạ nhân thúc đẩy phát triển ngành.

Lĩnh vực CNHT điện - điện tử, CNTT, các DN trong nước chủ yếu sản xuất dây cáp, dây điện từ... Trình độ công nghệ của các DN trong nước đạt trình độ trung bình.

Công nghệ sản xuất lĩnh vực CNHT ngành dệt may-da giày: Công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập. Năng lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong ngành. Dây chuyền sản xuất lạc hậu,

CNHT sản xuất bao bì, in tem, nhãn mác nhìn chung đã trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến mặc dù lĩnh vực này chiếm tỷ trọng thấp trong giá trị sản phẩm nhưng các doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp hạ nguồn.

Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ

Trên thực tế phát triển công nghiệp hỗ trợ song song với các ngành công nghiệp chính có lợi thế của tỉnh phù hợp với quy hoạch và chính sách phát triển CNHT của cả nước, quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An. Phù hợp với thị trường và xu thế phân công quốc tế, được các nhà lắp ráp, sản xuất sản phẩm cuối cùng quan tâm do đáp ứng được nhu cầu nội địa hoá. Xem phát triển CNHT là một trong những khâu đột phá để nâng cao giá trị gia tăng và tạo nền tảng phát triển ngành công nghiệp bền vững. Phát triển CNHT có chọn lọc phù hợp với điều kiện thực tế của Nghệ An trong tổng 6 nhóm ngành hàng được Chính phủ quy định hỗ trợ nhằm phục vụ một số lĩnh vưc công nghiệp ưu tiên của tỉnh và hướng tới mục tiêu tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ưu tiên thu hút các Tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Nghệ An đầu tư để tạo điều kiện cho công nghiệp hỗ trợ phát triển. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Để CNHT Nghệ An phát triển, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 23/4/2019 UBND về việc phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2018 - 2025, xác định các ngành và sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển, như: Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, da-giày; Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử-tin học-viễn thông; Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo; CNHT ngành sản xuất, lắp ráp ô tô; Công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất vật liệu xây dựng; Lĩnh vực sản xuất bao bì, in ấn, nhãn dán; CNHT công nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra việc tạo điều kiện để các công ty FDI với các doanh nghiệp trong nước (quốc doanh và tư nhân) có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu và hợp tác làm ăn, tạo điều kiện cho công nghiệp phụ trợ phát triển.

Xúc tiến và hỗ trợ mở rộng thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tạo mối liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp trong tỉnh với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước và nước ngoài.Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp CNHT đóng trên địa bàn tỉnh.

Hỗ trợ cho doanh nghiệp CNHT trong nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nhất là các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất thấp để mua máy móc thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất sản phẩm CNHT. Hỗ trợ hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư các nhà cung cấp FDI vào các ngành CNHT ưu tiên phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Công bố thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ trên trang thông tin điện tử của ngành Công Thương và cổng thông tin điện tử tỉnh. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về chính sách phát triển CNHT để thu hút đầu tư nguồn lực xã hội vào phát triển CNHT.

Bài, ảnh: Nguyễn Công Nhâm

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.

Tin khác

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Câu lạc bộ mỹ thuật Cổ Đô bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí hè 2026

Câu lạc bộ mỹ thuật Cổ Đô bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí hè 2026

LNV - Sáng 2/8/2026, Câu lạc bộ Mỹ thuật Cổ Đô xã Vật Lại, Hà Nội đã tổ chức lễ bế giảng lớp dạy vẽ miễn phí mùa hè năm 2026 cho 50 em học sinh trên địa bàn. Đây là hoạt động thường niên đầy ý nghĩa nhằm gìn giữ, phát huy nét đẹp truyền thống và tiếp lửa
Thông qua hồ sơ Đề án thành lập TP Bắc Ninh trực thuộc Trung ương

Thông qua hồ sơ Đề án thành lập TP Bắc Ninh trực thuộc Trung ương

LNV - Tại Nghị quyết số 205/NQ-CP ngày 1/8/2026, Chính phủ thông qua hồ sơ Đề án thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương theo đề nghị của Bộ Nội vụ.
Khai mạc Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội

Khai mạc Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội

LNV - Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI họp phiên trù bị và khai mạc vào sáng 3/8, dự kiến bế mạc vào ngày 24/8.
Những đột phá trong Nghị quyết mới về đất đai

Những đột phá trong Nghị quyết mới về đất đai

LNV - Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan không chỉ đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai. Nghị quyết mở ra một bước chuyển căn bản trong tư duy: Từ quản lý chủ yếu bằ
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động