Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Phong phú các làng nghề truyền thống tại Quảng Ngãi

TBV - Nghề làm gốm, nghề đúc đồng, nghề chế tác đá...là những làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển lâu đời ở Quảng Ngãi.
1. Nghề làm gốm

Trên vùng đất Quảng Ngãi, nghề gốm đã có từ lâu đời, sản phẩm của nó gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của con người thuở xa xưa. Vào thời tiền sử, dân cư Văn hóa Sa Huỳnh đã sản xuất đồ gốm với nhiều kiểu dáng đẹp, phong phú về loại hình, đường nét hoa văn sắc sảo, họa tiết trang trí công phu, đa dạng, đạt trình độ cao cả về kỹ thuật và tạo dáng. Đồ gốm sản xuất vào thời kỳ này bao gồm các loại: nồi, bát bồng, bình cổ cao, vò gốm táng người chết, đồ minh khí, con lăn... Vào giai đoạn Văn hóa Chămpa, đồ gốm có độ nung cao hơn, có loại nung thành sành, kỹ thuật tráng men nâu, men xanh ngọc, men vàng khá phổ biến trên các đồ dùng sinh hoạt như chén, đĩa, nồi, vò.


Trong các làng gốm ở Quảng Ngãi thì làng gốm ở Mỹ Thiện có nghề làm đồ gốm phát triển nhất. Nơi đây đã sản xuất được những đồ gốm có tráng men từ thế kỷ XIX. Làng gốm Mỹ Thiện nay thuộc địa phận thị trấn Châu Ổ, nằm trên đường Thiên Lý Bắc - Nam (nay là Quốc lộ 1) cho nên việc thông thương buôn bán diễn ra thuận lợi. Mặt khác, làng gốm lại nằm ven sông Trà Bồng, sản phẩm xuất ra khỏi lò được vận chuyển đi nơi khác dễ dàng bằng đường sông, xuôi dòng ra cửa Sa Cần, hay ngược lên nguồn đến các làng miền núi. Xưa kia gốm Mỹ Thiện (dân gian gọi là gốm Châu Ổ) đã có mặt ở khắp nơi trong tỉnh, ở các tỉnh lân cận như Quảng Nam, Đà Nẵng, bắc Bình Định, Tây Nguyên. Qua thăng trầm, nghề gốm Mỹ Thiện tưởng như đã mất, nay có sự hồi phục. Các sản phẩm vò, chum, chậu kiểng tráng men giả cổ Mỹ Thiện đã có khá nhiều ở thị trường. Hàng năm, vào mùng 9 tháng Giêng (Âm lịch), khi bắt đầu khởi công hành nghề, cùng một lúc, các lò tổ chức cúng tổ nghề theo hình thức cúng riêng rẽ. Mỗi lò (gọi là khẩu lò) gồm có thợ lò và bạn lò đứng ra cúng theo trình tự cúng thần, cúng cô hồn rồi đến cúng tổ nghề.

Để có một sản phẩm gốm, đầu tiên người ta phải chọn đất và nhào nhuyễn đất. Nguyên liệu để sản xuất đồ gốm là hai loại đất sét xanh và vàng. Tiếp đến là khâu tạo hình sản phẩm. Khi sản phẩm đã tạo dáng xong, người thợ dùng dao gọt đều để cho da gốm thêm nhẵn. Tất cả các loại sản phẩm khi gia công chuốt gọt xong, người thợ xếp thành ụ, dùng rơm rạ, bao bố ủ cho da đất trở nên vàng mơ (tên nghề nghiệp gọi là phơ). Khi đất trở nên "phơ" đều, người thợ tiến hành chuyển sản phẩm vào lò nung. Gốm được đốt nung trong 3 ngày đêm theo quy tắc đốt ngọn lửa trước nhỏ sau lớn. Kỹ thuật đó nhằm nâng nhiệt độ trong lò tăng dần để chống sự nứt vỡ hoặc cong veo các sản phẩm đang nung. Kỹ thuật nung rất quan trọng, đòi hỏi người thợ phải giàu kinh nghiệm.

Sản phẩm gốm xuất lò có các loại: chum lớn loại 100 lít, ghè loại 60 lít, ché rượu cần, chậu kiểng, thạp hũ, bùng binh, bình hoa, nồi, trả, ấm chè, cối tiêu. Ngoài những đồ gốm thông thường, làng gốm Mỹ Thiện còn sản xuất loại gốm tráng men. Men sử dụng để tráng có các loại: men nâu đen, men vàng và men nâu sành. Men được chế tạo từ đồng, chì, đá trắng, đá son. Các chất này thường được pha trộn, nếu muốn màu vàng thì loại bỏ đồng, màu men nâu thì tăng hàm lượng chì.

Hiện nay, một vài lò gốm ở làng Mỹ Thiện sản xuất chum gốm tráng men giả cổ, sản phẩm mang màu men xanh ngọc, phân bố thành từng cụm trên da gốm, tựa như da báo, khá đẹp.

2. Nghề đúc đồng

Giai thoại về đỉnh chuông Thần(6) ở chùa Thiên Ấn có nói đến chiếc chuông lớn ở chùa này xuất hiện vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) hoặc có thể sớm hơn. Bên cạnh tính chất huyền thoại của câu chuyện, một sự thật hàm chứa trong đó mà ta có thể rút ra: tác giả của chiếc chuông lớn nổi tiếng này không ai khác hơn là những người thợ đúc, những nghệ nhân tài hoa ở làng Chú Tượng, thuộc xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức. Phần ghi chú về Quảng Ngãi trong tập L’Annam en 1906 đã chép: "Ở làng này (tức Chú Tượng) người ta làm ra các đồ đồng khá to lớn, vì vậy quả chuông lớn ở chùa Thiên Ấn cao gần 1m và đường kính 0,5m đã được đúc ở Chú Tượng". Tài liệu Quảng Ngãi tỉnh chí (Nam Phong tạp chí, 1933) còn kể tên các nghệ nhân tài hoa như ông Võ Hiệt, ông thợ Kinh. Đặc biệt, ông thợ Kinh đã từng được vua Khải Định triệu về kinh đúc pho tượng đồng đặt ở Huế; Toàn quyền Paxkiê (Pasquier) cũng yêu cầu ông đến tòa Khâm sứ Pháp để đúc đồ đồng. Tương truyền, thuở xưa có hai người từ xứ Bắc vào vùng đất giữa ba xã Đức Hiệp, Đức Hòa và Hành Thịnh ngày nay để lập nghiệp. Hai người này vào vùng đất mới, và giao ước với nhau rằng sáng sớm hôm sau sẽ cùng dậy "chạy một hơi", ai chạy đến đâu sẽ cắm đất sở hữu đến đó. Sáng sớm một người dậy, cố chạy và được rất nhiều đất, riêng người kia vẫn nằm ngủ ngáy trên đồng. Kết quả là không có đất và vùng đất bàu anh ta nằm sau này được gọi là Bàu Ngáy, nay thuộc xã Đức Hòa. Bởi vậy, về sau người Đức Hiệp, người Hành Thịnh kế bên được rất nhiều đất. Riêng người làng Chú Tượng chỉ có vườn tược. Nhưng người ấy có một nghề, đó là nghề đúc đồng. Người đó tên là Vom, sau này người ta lấy tên ông đặt cho tên núi là núi Vom. Đầu tiên chỉ với nghề đúc ống ngoáy trầu, ông Vom có cuộc sống sung túc hơn những người làm ruộng. Người dân trong vùng có câu: "Đúc một ống ngoáy trầu hơn làm một sào ruộng". Từ ngày đó, ông Vom đã lập ra một nghề mang lại cuộc sống rất sung túc, phồn thịnh: nghề đúc đồng. Cứ đến ngày Đông chí hàng năm, người làng đúc đồng Chú Tượng lại giỗ tổ nghề. Địa danh Chú Tượng có nghĩa là làng đúc. Đây là trường hợp hiếm hoi của Quảng Ngãi tên một nghề thủ công được đặt làm địa danh cho một làng.

Sản phẩm của nghề đúc đồng ở Chú Tượng xưa rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, hình dạng. Thời ấy chưa có đồ gia dụng bằng nhôm hay đồ nhựa như sau này nên sản phẩm đúc đồng ở đây đã cho ra các loi hàng phục vụ ăn uống, sinh hoạt như các loại nồi - từ nồi 1 đến nồi 7, nồi bung, các loại muỗng (ăn cơm), bình rượu, khuôn bánh thuẫn, mâm trệt, mâm quỳ (để dọn cơm, nhồi bột bánh), các loại thau chậu, ống nhổ nước cốt trầu, cơi trầu. Về đồ thờ phổ biến có đèn thờ, lư hương, chuông chùa lớn và chuông nhỏ tụng kinh, tượng Phật... Về công cụ sản xuất thì có đúc khuôn làm ngói, đúc hoa văn trang trí và khuy cho bàn, tủ, sập gụ... Về khí cụ nghệ thuật thì đúc chiêng, cồng (cho vùng cao). Theo bài vè thợ đúc còn lưu truyền, có thể ở làng Chú Tượng xưa kia còn đúc đạn, đúc súng, đúc xà mâu,... là các loại vũ khí chiến đấu. Tùy theo tính chất của đồ dùng và khiếu thẩm mỹ của từng nghệ nhân mà sản phẩm đúc Chú Tượng có nhiều hình dạng và mẫu mã khác nhau. Quan sát các đồ đồng xưa còn lại, người ta dễ nhận thấy tuy có hình dạng giống nhau nhưng các sản phẩm này có sự xê xích về tỷ lệ, về hoa văn. Như lư hương thì có thể tạo dáng và ngăn vạch thẳng quanh thân, cũng có thể đắp thêm hình long ly quy phượng. Các sản phẩm đúc đồng ở Chú Tượng đã chứng tỏ người thợ ở đây có tay nghề rất cao, tập trung nhất ở các loại chuông đồng (cho nhà chùa).

Chính nhu cầu của xã hội và trình độ tay nghề của nghệ nhân thời đó mà sản phẩm đồ đồng Chú Tượng đã mang tính chất hàng hóa. Theo các cụ già xưa kể lại, sản phẩm đúc các vật dụng dùng trong ăn uống, sinh hoạt hằng ngày như nồi, thau, ống nhổ, xanh (chảo), muỗng, cơi trầu, các loại đồ thờ như lư, đèn, chuông lớn, chuông nhỏ, bình hoa của làng Chú Tượng đã được bán đi khắp trong và ngoài tỉnh. Các sản phẩm đúc như nồi, đặc biệt là chiêng, cồng còn được đúc ra để bán lên miền ngược. Chúng ta biết, làng Chú Tượng gần sông Thoa và sông Vệ, rất thuận lợi để giao thương xuôi ngược. Thung lũng sông Vệ là một trong những cửa ngõ chính trong tỉnh, có thể đi lại bằng đường sông lẫn đường bộ, để buôn bán giữa người Kinh và người Thượng. Điều này dẫn đến hệ quả, các sản phẩm đúc đồng ở làng Chú Tượng hầu như có mặt ở mọi vùng trong tỉnh và cũng được khách buôn các tỉnh lân cận mua về. Các nghệ nhân, thợ đúc làng Chú Tượng còn đi hành nghề đúc ở các tỉnh bạn và kinh thành Huế. Như đã nói ở trên, ta có thể nói rằng nghề đúc đồng ở Quảng Ngãi có nguồn gốc lâu đời và hết sức phát triển, đã hình thành các làng đúc đồng chuyên nghiệp, tiêu biểu là làng Chú Tượng. Nghề đúc đồng đã đem lại đời sống sung túc cho nhân dân làng Chú Tượng. Người dân làng Chú Tượng rất tự hào với điều này, nên đã có một bài vè dân gian, trong đó có câu "thợ đúc thợ đúc, trong nhà phú túc...".


3. Nghề rèn

Nghề rèn có mặt trên đất Quảng Ngãi từ rất sớm. Nó đã gắn bó với cư dân Sa Huỳnh từ thời đại đồ sắt trước Công nguyên, cách nay trên 2.000 năm. Hàng loạt các công cụ như: dao, rựa, kiếm, đục,… được tìm thấy trong các chum táng của Sa Huỳnh cổ điển ở Phú Khương chứng tỏ điều đó.

Người Chăm và người Việt kế tiếp nhau cùng thực hiện một nghề mà thiếu nó người lao động sẽ không có trong tay các công cụ sản xuất. Dấu vết để lại của sự sôi động trong nghề luyện sắt xưa kia là những bãi phế sắt rộng lớn ở các lò thổi Bình Khương (huyện Bình Sơn) và lò thổi ở Thiết Trường (huyện Mộ Đức). Những di tích này phản ánh sự vang bóng một thời của nghề luyện sắt của người Chăm và người Việt.

Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, dù đã có những công cụ sắt thép được sản xuất bằng máy móc và dây chuyền hiện đại cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của người dân, nhưng nghề rèn sắt thép cổ truyền vẫn được duy trì ở hầu hết các làng quê, từ đồng bằng đến miền núi, và hoạt động khá sôi động trong một làng chuyên nghề rèn sắt. Đó là xóm lò rèn ở thôn An Khánh, xã Tịnh Minh (huyện Sơn Tịnh). Trong xóm lò rèn có 48 hộ quần tụ thành một làng nghề chỉ nghe thấy tiếng búa gõ đập sắt, tiếng gió từ cánh quạt để nung than, phản ánh sự nhộn nhịp ăn nên làm ra của một làng nghề. Trong làng nghề, sản xuất diễn ra theo từng hộ gia đình. Mỗi gia đình có một lò rèn sắt. Lò luyện sắt tối thiểu phải có ba người: một thợ chính thường là chủ nhà và hai thợ phụ.

Nguyên liệu được lấy từ sắt phế phẩm. Xưa kia chúng được khai thác từ những mỏ quặng sắt lộ thiên ở Trà Lâm, Thanh Trà (huyện Bình Sơn) và ở Thiết Trường (huyện Mộ Đức).

Dụng cụ của nghề gồm có: đe, búa cái, búa tay, thước, giũa, ve đóng cò, đót, chích, bộ quay gió và lò nung. Mỗi loại dụng cụ đều có chức năng riêng.

Quy trình sản xuất trải qua ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Đưa sắt nguyên vào lò nung nóng. Lò nung gồm hai phần: phần thân lò có miệng hình lòng chảo được tạo thành từ đất sét; bộ quay gió gồm trục bánh quay, tay quay, cánh quạt tạo gió.

Giai đoạn 2: Sau khi nung đỏ sắt, lập tức người thợ phải đem ra đập để tạo dáng cho công cụ.

Giai đoạn 3: Cứ tiếp tục tạo dáng công cụ theo các quy trình kỹ thuật đối với từng loại khác nhau. Sau đó đem mài giũa cho lưỡi cuốc, xẻng, liềm, rựa, dao, kéo… thật sắc, bén.

Hiện nay nghề rèn, luyện sắt đang có chiều hướng đi lên. Sản phẩm làm ra của làng nghề được những người buôn bán đặt hàng và tiêu thụ trên thị trường nhiều nơi trong nước.

4. Nghề chế tác đá

Những ngành nghề truyền thống của Quảng Ngãi, trong đó có nghề chế tác đá, tuy không đóng vai trò nổi bật trong nền kinh tế như những ngành nghề khác, nhưng cũng tồn tại suốt một quá trình dài.

Sản phẩm của nghề chế tác đá rất đa dạng, như cối xay, cối giã, các hình tượng thờ cúng, bia mộ, chậu đá… Sản phẩm cối xay có thể xay đậu, xay bột gạo khô hoặc bột gạo ướt; sản phẩm cối giã có thể giã gạo hoặc giã các loại ngũ cốc, những sản phẩm này đã giúp cho con người chế biến lương thực thực phẩm phục vụ cuộc sống, nhưng đến nay đã có thiết bị máy móc thay thế nên không còn tồn tại.


Nghề chế tác đá ở Quảng Ngãi trải qua bao thăng trầm vì các mặt hàng của nó dần bị các loại công cụ, hàng hóa hiện đại thay thế, hiện tại chỉ phổ biến chế tác các hình tượng thờ cúng và khắc bia mộ, được người tiêu dùng ưa chuộng. Với bàn tay khéo léo và óc thẩm mỹ cao của các nghệ nhân chế tác đá, đã tạo dựng được nhiều tấm bia mộ có hình dáng đẹp cả về hoa văn lẫn chữ viết.

Nghề chế tác đá ở Quảng Ngãi hiện có ở các xã như Tịnh Khê, Tịnh Thiện (huyện Sơn Tịnh), thôn An Đại, La Hà (huyện Tư Nghĩa), thôn La Vân (huyện Đức Phổ), Hành Phước, Chợ Chùa (huyện Nghĩa Hành).

5. Nghề chế tác sừng

Nghề làm lược chải tóc và những sản phẩm khác từ sừng trâu (gọi là chế tác sừng), là một nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống có từ rất lâu đời ở làng An Thiết (xã Tịnh Bình), làng Phước Thọ (xã Tịnh Sơn), làng Lâm Lộc Bắc (xã Tịnh Hà), đều thuộc huyện Sơn Tịnh.

Truyền thuyết về ba anh em ông Xá (bàu Ông Xá, cầu Bà Tá, chợ mới Bà Hợp là lấy tên của ba anh em) kể rằng: sau khi đưa dân đến An Thiết, Lâm Lộc, ông Xá đã khuyến khích họ chăm lo các nghề làm thủ công khéo tay bên cạnh nghề làm ruộng như làm nón, chế tác sừng. Ông Xá về sau "rấm binh" rồi "động binh" thất bại, chịu hình phạt tự thăng thiên. Song hai nghề chế tác sừng và nghề làm nón vẫn tiếp tục phát triển và tồn tại đến nay.

Tại thôn Lâm Lộc Bắc, thôn Phước Bình (xã Tịnh Sơn) hiện có xóm Lược là nơi tập trung nhiều nghệ nhân và thợ thủ công làm nghề chế tác sừng. Có hai loại thợ: loại thứ nhất, chuyên vào nghề chế tác sừng, hầu như không làm nghề nông, có những nghệ nhân, sản phẩm của họ giàu tính mỹ thuật; loại thứ hai là những hộ chỉ kết hợp nghề chế tác sừng với nghề nông, sử dụng thời giờ nông nhàn và làm vào ban đêm. Ngoài ra, còn có những người chuyên cung cấp nguyên liệu và mua đi bán lại các sản phẩm từ sừng.

Các sản phẩm của nghề chế tác sừng ở Quảng Ngãi được bán ra khắp thị trường phía Nam, qua cả Lào và Cămpuchia.

6. Nghề mộc dân dụng

Mộc là một nghề phổ thông, thiết yếu trong dân sinh. Ở Quảng Ngãi xưa, hầu như làng quê nào cũng có một vài tốp thợ mộc chuyên dựng nhà, đóng bàn ghế, giường phản cho các gia đình. Đến thời kỳ hiện đại, nghề mộc cổ truyền vẫn được duy trì. Sách Địa dư Quảng Ngãi (1939) chép: "Nghề mộc: rải rác trong tỉnh đâu đâu cũng có thợ làm nhà, thợ đóng bàn ghế. Thợ danh tiếng ở những làng Đồng Viên, Đông Mỹ (huyện Tư Nghĩa), Long Phụng (huyện Mộ Đức) và Vinh Hiển (huyện Đức Phổ). Tại tỉnh lỵ có vài ba cửa hàng đóng bàn ghế theo kiểu tân thời, đánh xi bóng nhoáng trông rất đẹp"(7).


Nghề mộc dân dụng ứng dụng công nghệ mới phát triển khá nhanh ở Quảng Ngãi, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội. Năm 1997, có 606 cơ sở sản xuất, đến năm 2005 có hơn 1.000 cơ sở, sản xuất ra gần 100.000 chiếc giường, tủ, bàn ghế các loại, giải quyết công ăn việc làm cho khá nhiều lao động. Nghề này hiện phát triển ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, trong đó ở xã Nghĩa Hiệp tức Đồng Viên (huyện Tư Nghĩa) là nơi có số lượng lao động tham gia nhiều nhất, người thợ có tay nghề cao và tạo được nhiều sản phẩm có giá trị.

Nguồn nguyên liệu sản xuất đồ mộc dân dụng là gỗ sẵn có tại địa phương, thị trường tiêu thụ thường là ở tại chỗ, bán đi một số tỉnh phía Nam và tham gia xuất khẩu. Công nghệ sản xuất đồ mộc dân dụng dần dần đã có sự chuyển biến tích cực. Trước đây, người thợ chỉ sử dụng sức lao động và kỹ năng nghề nghiệp để tạo ra sản phẩm, thời gian gần đây hầu hết các cơ sở sản xuất đều có máy móc như máy cưa, máy bào, máy đánh bóng, nên năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng cao, kiểu dáng đẹp, giá thành hạ, sản phẩm được nhiều người ưa chuộng.

7. Nghề sản xuất gạch ngói

Các cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công hiện có rải rác ở hầu hết các huyện trong toàn tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất là ở các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Bình Sơn, Sơn Tịnh và Đức Phổ. Thuộc loại nổi tiếng trong truyền thống là gạch ngói Sông Vệ (huyện Tư Nghĩa). Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ chủ yếu tại địa phương. Công nghệ sản xuất từ khâu làm đất sử dụng sức người là chính, khâu ép tạo sản phẩm có sử dụng máy móc thay thế sức người nên năng suất lao động cao hơn trước khá nhiều. Vật liệu nung gạch ngói phần lớn đã dùng than đá thay thế củi, nhưng các cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công nằm gần khu dân cư nên khí thải, bụi công nghiệp, nhiệt độ,… gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng. Nguồn nguyên liệu đất sét sẵn có tại địa phương thông qua cải tạo đồng ruộng là chính, nguồn nguyên liệu này dần dần sẽ cạn kiệt, đang hướng tới khai thác mỏ đất sét.

Hiện nay, sản xuất gạch ngói đã ứng dụng công nghệ sản xuất gạch tuynen. Ở Quảng Ngãi có nhà máy gạch tuynen Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh) tạo được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, vươn xa đến các thị trường Tây Nguyên và các vùng phía Bắc.

8. Nghề làm mắm

Làm mắm là nghề nổi tiếng từ lâu đời ở vùng duyên hải miền Trung. Những cánh đồng muối rộng mênh mông ở Sa Huỳnh, Tịnh Hòa, cá cơm, cá nục, cá trích xuất hiện nhiều vào mùa gió nồm là nguồn nguyên liệu dồi dào của nghề mắm, là điều kiện khách quan dẫn đến sự hình thành nhiều làng nghề làm mắm ở vùng duyên hải Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi có nhiều làng nghề làm mắm, như Thạch Bi, Long Thành, Long Trì, An Phổ, Kỳ Tân, An Chuẩn, Phổ An, Cổ Lũy, Mỹ An, An Vĩnh, Kỳ Xuyên và Tuyết Diêm. Những nơi nghề làm mắm phát triển sôi động nhộn nhịp nhất hiện nay vẫn là các làng: Thạch Bi (xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ), An Chuẩn (xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức); với khoảng 200 hộ chuyên làm nghề mắm.

Nghề làm mắm ở Quảng Ngãi đã gắn bó bao đời với cư dân vùng biển. Đến nay những người làm nghề không còn nhớ rõ ông tổ nghề của mình. Có lẽ, đây chỉ là một quá trình được sàng lọc tự nhiên từ kinh nghiệm thực tế, cộng với sự học hỏi kỹ thuật chế biến ở các nơi khác, để đi đến hình thành những làng nghề hoàn chỉnh.

Nguyên liệu làm mắm là loại cá cơm được thu hoạch từ tháng Giêng, Hai, Ba (Âm lịch). Đây là thời điểm cá cơm làm mắm có hương vị thơm ngon nhất. Riêng mắm nục được làm từ tháng Ba đến tháng Tư, là thời vụ cá nục nổi nhiều, lúc này muối mắm sẽ đem lại hương vị mặn mà. Ngoài hai loại cá chính để làm mắm nói trên, người dân biển còn làm mắm ngừ, mắm mực, mắm kình, mắm nhum, mắm tôm.

Quy trình làm mắm được tiến hành theo công thức 2 cá với 1 muối, hoặc 3 hoặc 4 cá với 1 muối, tùy theo cá to hay cá nhỏ. Cá, muối thường được lường theo mủng để có tỷ lệ thích hợp.

Nghề làm mắm ở Kỳ Tân, An Chuẩn hiện nay đã trở nên sôi động. Mức tiêu thụ nguyên liệu hàng tháng lên đến 20 - 30 tấn chợp (cá tươi). Do nguồn nguyên liệu "chợp" ở vùng biển này cung cấp không đủ, nên chủ yếu là do ngư dân vùng ven biển phía nam như Sa Huỳnh, Bình Thuận cung cấp.

Hiện nay, các làng nghề Kỳ Tân, An Chuẩn đều có sức sản xuất mắm tăng lên đáng kể, cuộc sống làng nghề trở nên khá giả. Sự hồi sinh, phát triển của một làng nghề cổ truyền là một tín hiệu đáng mừng cho nghề truyền thống này ở Quảng Ngãi.

9. Nghề dệt chiếu

Nghề dệt chiếu ở Quảng Ngãi có từ lâu đời. Nghề này đã đi theo những người nông dân Thanh Hóa vào vùng đất xứ Quảng từ thế kỷ XV. Tuy nhiên, sự quần tụ để hình thành làng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng lại diễn ra vào khoảng thời gian tiếp theo. Địa bàn có làng nghề dệt chiếu là vùng ven biển Quảng Ngãi, như các làng Thu Xà, Phú Thọ (xã Nghĩa Hòa, Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa), Cổ Lũy (xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh), các làng phía đông nằm ven biển ở các huyện Đức Phổ, Bình Sơn. Nơi đây con người canh tác và trồng được nguyên liệu cho nghề, đó là cây cói. Cói là loại cây thảo, mọc ở vùng đất trũng thấp dọc ven biển, loại cây này có bộ rễ phát triển rất mạnh, mọc um tùm, thân dài vươn cao. Khi cây cói có chiều cao từ 1 - 1,4m, người ta bắt đầu thu hoạch đem về nhà chẻ ra, phơi khô thành sợi dệt. Nếu chiếu nhiều màu thì sợi cói phải trải qua công đoạn nhuộm với các màu xanh, đỏ, nâu, vàng...

Sau khi chuẩn bị xong nguyên liệu, người thợ tiến hành dựng khung dệt. Khung dệt chiếu cấu tạo gồm có các bộ phận: trục; con ngựa; trân; khổ. Sản phẩm chiếu đa dạng, gồm các loại chiếu đơn, mỏng, dệt đơn giản; chiếu nhiều màu, dày, dệt công phu. Tấm chiếu khi nhuộm phải lựa chọn các màu sắc hài hòa. Chiếu nhiều màu thường dày, phải dệt bằng loại "khổ" khác. Chiếu đơn thường có kích thước từ 0,8 - 1,2m (chiều ngang), chiếu đôi nhiều màu có kích thước từ 1,2 - 1,6m (chiều ngang).

Để in hình lên chiếu, người thợ dùng khuôn in trổ, đúc bằng đồng chạm thủng mô tả các hình hoa loa kèn, đường viền kỷ hà, trái đào, các chữ "hạnh phúc gia đình", "trăm năm hạnh phúc", hình con bướm, trái đào, năm sản xuất, vv.

Hiện nay, ở làng Thu Xà đã dệt được các loại chiếu dày, nhiều màu đẹp, bán ở thị trường các tỉnh miền Nam, rất được người tiêu dùng ưa chuộng.

10. Nghề đan

Nghề đan hầu như có mặt hầu hết ở các làng quê Quảng Ngãi. Làng quê nào cũng có vài người chuyên đan rổ, mủng (thúng), nong, nia, sàng, dần, rá, rế, lờ,… phục vụ cho nhu cầu trong gia đình và người trong làng.

Quảng Ngãi có những làng nghề đan mang tính chất lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển. Đó là các làng Hà Nhai, xóm đan Lâm Lộc, xóm đan Phú Hòa (huyện Sơn Tịnh); xóm đan Hiệp Phổ (huyệnNghĩa Hành). Các làng nghề này đều có ông tổ nghề từ ngoài Bắc vào. Chẳng hạn trong xóm đan Lâm Lộc người dân đều có họ Quách. Trong một xóm chuyên nghề đan, trai gái đều biết đan, còn người già chỉ dẫn nghề cho lớp trẻ.

Nguyên liệu dùng trong nghề đan là tre, mây. Nguồn tre, mây ở Quảng Ngãi hết sức dồi dào và phong phú. Để đan những sản phẩm có giá trị cao, người ta dùng tre già, cật nhỏ để đan, còn đối với những sản phẩm bình thường, người thợ dùng tre non hơn. Tre đốn về, người thợ cưa khúc rồi chẻ ra thành nhiều miếng nhỏ, từ những miếng nhỏ này người thợ tách thành nan, chuốt mỏng sau đó mới bắt đầu đan. Sản phẩm đan thường là các công cụ: rổ, rá, sàng, nong, nia, thúng bơi, mủng, lờ đơm cá, rọ heo, giỏ tre, giỏ cá, giỏ cua,... đan công phu và đẹp mắt như đan xiểng dùng trong đám cưới, rất đa dạng và phong phú.

Các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi cũng rất giỏi nghề đan. Người ta thường đan gùi đi rẫy, đan các công cụ như nơm cá, đụt cua, giỏ gà. Nguyên liệu đan thường lấy từ lồ ô, mây, lùng,… sẵn có trong rừng. Ở dân tộc Cor có đan loại gùi dẹt 3 ngăn của nam, gùi dẹt 1 ngăn dành cho nữ bằng mây, khá tinh xảo, đẹp mắt.

Hiện nay, ở Quảng Ngãi có một số nơi như xã Tịnh Ấn Tây (huyện Sơn Tịnh) mở cơ sở đan các đồ dùng mỹ nghệ bằng mây tre để bán ra thị trường nội địa và xuất khẩu, nhiều vật dụng mang tính thẩm mỹ cao. Tuy nhiên, các kiểu dáng truyền thống chưa được khai thác và phát huy để thành hàng hóa.

11. Nghề dệt

Xưa kia, khi chưa có vải công nghiệp thì nghề trồng bông dệt vải phổ biến hầu khắp các làng quê Quảng Ngãi, ở tất cả các dân tộc. Người Việt thường dệt vải ta, nhuộm đen. Các dân tộc thiểu số miền núi dệt vải thường hoặc thổ cẩm, trên đó có trang trí nhiều hoa văn thể hiện đậm nét bản sắc dân tộc. Trải qua thời gian, hàng hóa công nghiệp phát triển, nghề dệt mất dần.


Làng Teng thuộc xã Ba Thành, cách huyện lỵ Ba Tơ khoảng 7km về phía đông, gần như là làng duy nhất còn giữ được nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi.

Thổ cẩm của người Hrê có nhiều hoa văn họa tiết rất đẹp. Sản phẩm đủ các loại, từ váy (kà tu), khố (ka pen), tấm địu con (ka tăh), khăn đội đầu (mul), dây đeo (si păh), khăn gói trầu cau hoặc gói lễ vật (ta góh), mền đắp (vei xan). Những dịp cúng mừng năm mới, hội làng, lễ cưới của người Hrê không thể thiếu tiếng cồng chiêng, rượu cần và trang phục truyền thống.

Hiện nay, nghề dệt thổ cẩm làng Teng đang được hỗ trợ để duy trì và phát triển. Tuy nhiên, sản phẩm dệt thổ cẩm bán ra còn chậm, giá nhân công thấp, nên sự duy trì nghề chỉ ở mức cầm chừng, chưa có dấu hiệu khởi sắc.

12. Nghề làm đường muỗng

Quảng Ngãi là xứ sở của mía đường. Trồng mía và chế biến đường từ mía là một bộ phận quan trọng của nghề nông gắn kết với tiểu thủ công nghiệp. Đường muỗng là loại đường được cô đặc từ nước ép ra từ cây mía (gọi là nấu đường) và cho kết tủa trong các muỗng (hay muống) bằng đất nung hình chõ. Người địa phương có thói quen nhắc đến những loại đường muỗng gắn liền với địa điểm sản xuất ra nó, ví dụ: đường Suối Bùn (Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành), đường Bình Mỹ (huyện Bình Sơn), đường Trà Bình (huyện Trà Bồng), đường Thọ Lộc (Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh),... với ý niệm về sự tốt xấu khác nhau.


Ba khâu quan trọng của nghề làm đường muỗng là ép mía, nấu đường và ra muỗng. Tương ứng với ba khâu là ba "bộ" dụng cụ: che, chảo và các thùng lóng, bộ lọc, vợt, muỗng.

Quy trình làm đường muỗng truyền thống bao gồm các bước:

Ép mía: Mía cây được róc sạch, đưa vào che ép (qua 3 lần), bã đem phơi khô để làm chất đốt; nước mía gọi là chè, dùng lường đưa nước mía vào chảo.

Thắng đường: Thắng đường là cô đặc nước mía thành đường sacaroza, chủ yếu gồm hai giai đoạn và phần hậu kỳ.

Giai đoạn 1: Đun nước mía sôi lần thứ nhất trong chảo, bỏ một ít vôi vào lần thứ nhất, vớt bọt. Khi sôi lên lóng nước "chè một". Chè trong lóng dùng một chổi bằng rạ đánh cho chạy vòng theo kim đồng hồ rồi để một thời gian cho đất, cáu lắng xuống đáy. Nước mía lúc này gọi là "chè hai".

Giai đoạn 2: Cho "chè hai" xuống lại chảo cô đặc thành mật. Khi mật dẻo và dỡ gáo chè lên thấy ở đáy mật quánh và rơi xuống theo hình cánh dơi. Ăn thử thấy dính răng là có thể đưa ra muỗng. Ở giai đoạn này, người ta thêm vôi, dầu phộng nhiều ít tùy theo chất đất trồng mía, thời tiết, mía non hay đã đúng kỳ. Đường có "ra cát" (kết tinh) hay không là tùy theo cách "xử lý kỹ thuật" ở giai đoạn này. Quá lửa, đường khét; non lửa, "yếu cát"... Tất cả đều phụ thuộc vào kinh nghiệm của người nấu đường.

Ra muỗng: Mật đường đã được đưa ra muỗng, người thợ để cho đường mật nguội dần và kết tủa; trong lúc đó thỉnh thoảng có những tác động phụ thúc đẩy quá trình kết tủa, làm cho hạt tinh thể lớn, kết tinh đều. Khi đổ đường vào muỗng, người thợ đổ ở hiệp thứ nhất không cho đường đầy muỗng. Hiệp sau người thợ mới làm cho muỗng đường đầy lên mặt.

Hậu kỳ: Đường nguội đem về nhà úp mặt xuống nền đất và lắc đều để khối đường rơi ra khỏi muỗng, khối đường rời khỏi muỗng xong ngửa nguyên muỗng đường đặt lên một cái chum để rút mật vào chum. Để mật ra sạch, đường trắng, người ta đổ một lớp bùn non lên mặt đường (có khi là chuối giã dập) để phần nước của bùn hoặc của chuối đẩy dần xuống dưới.

Khi đã rút hết mật (khoảng 7 - 10 ngày) người ta ra đường. Đem phơi đường nguyên khối ngoài nắng rồi sau đó chặt thành từng khối nhỏ mà trong đó nhất thiết phải có hai phần rời riêng mặt đường và đít muỗng. Mặt đường trắng hơn, người ta gọi là đường trắng hay đường bạch, phần đít muỗng còn chứa nhiều mật, người ta gọi là đường đen.

Về sau, khi Nhà máy đường Quảng Ngãi (được xây dựng và đưa vào hoạt động, có tên gọi đầu tiên là Nhà máy đường Thu Phổ) đi vào sản xuất, thu hút một lượng lớn mía trồng trong tỉnh, nhưng ở một số vùng, người nông dân Quảng Ngãi vẫn tiếp tục chế biến đường muỗng để bán ra thị trường. Đường kính trắng (RS) của nhà máy đường dù trắng và đẹp nhưng hương vị riêng của đường muỗng vẫn hấp dẫn với người dùng. Nhưng cho đến nay, nghề nấu đường muỗng hầu như không còn tồn tại nữa. Sự sản xuất ra đường muỗng (hay đường công nghệ RS) chính là cơ sở, là việc tạo nguyên liệu để phát sinh và phát triển một số nghề khác, cho ra nhiều sản phẩm khác, trong đó có các nghề sản xuất đường kẹo đặc sản được giới thiệu sau đây.

13. Nghề nấu đường phèn

"Ngọt như đường cát, mát như đường phèn" là câu nói dân gian thể hiện đặc tính của hai loại đường phổ biến ở Quảng Ngãi là đường cát và đường phèn.

Đường phèn là loại đặc sản nổi tiếng của Quảng Ngãi. Đường ở dạng kết tinh trong suốt, tựa như những thỏi thạch anh, với nhiều hạt đường hình lập thể. Khi ăn, thỏi đường phèn vỡ ra, giòn tan, vị ngọt thanh, thấm dịu vào đầu lưỡi. Nghề nấu đường phèn xưa tập trung ở các làng Ba La, Vạn Tượng (xã Nghĩa Dõng), Chánh Lộ (thành phố Quảng Ngãi). Hiện nay, nghề này theo chân các nghệ nhân tập trung ở tỉnh lỵ Quảng Ngãi.

Nguyên liệu dùng chế biến đường phèn là đường bông (xưa kia) và đường kết tinh (ngày nay). Bên cạnh đó có gia giảm thêm các nguyên liệu phụ gồm: vôi ốc, trứng gà, dầu phộng và về sau còn có thêm thuốc tẩy trắng đường. Vôi ốc có tác dụng như một chất phụ gia quan trọng để tạo phản ứng kết tủa nhanh chóng. Trứng gà là loại dung môi để lóng cặn, kết tủa chất dơ bẩn trong đường để làm cho đường sạch, đồng thời tăng thêm hương vị thơm ngon của đường. Dầu phộng làm cho đường khỏi dính kết vào vành thùng nhằm lấy đường ra dễ dàng. Thuốc tẩy đường làm gia tăng độ trắng. Tuy nhiên, nếu dùng quá liều thuốc tẩy, sẽ làm cho đường kém đi hương vị thơm ngon, có hại cho người dùng.

Đường phèn được chế biến theo các quy trình như sau: người thợ lấy đường bông hoặc đường kết tinh đổ vào chảo, đổ thêm nước trong vào, với tỉ lệ thích hợp, đun sôi để hòa tan đường. Trọng lượng.

Bảo Hân (TH)

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện trọng điểm gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

LNV - Với 397 sản phẩm, bộ sản phẩm của 185 tổ chức, cá nhân và nghệ nhân tham gia, Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026 đang cho thấy sức sáng tạo và khả năng thích ứng ngày càng rõ nét của các cơ sở, nghệ nhân làng nghề Thủ đô. Từ những chất liệu quen thuộc, nhiều mẫu sản phẩm đã được làm mới bằng tư duy thiết kế hiện đại, hướng tới thị trường và phát triển bền vững.
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

LNV - Nhiều sản phẩm OCOP có chất lượng, mang đậm bản sắc địa phương nhưng chưa được khai thác hiệu quả trong hoạt động du lịch. Kết nối không gian sản xuất với trải nghiệm, dịch vụ và thị trường được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra và tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

LNV - Ngày 6/10, UBND xã Ninh Phước (tỉnh Khánh Hòa) cho biết công tác chuẩn bị cho Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc lần thứ I năm 2026 đang được gấp rút hoàn thiện. Sự kiện được tổ chức với quy mô cấp xã mở rộng, có sự phối hợp và tham gia của nhiều địa phương lân cận.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Tối 8/10, tại Hà Nội, Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026 chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và tôn vinh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiêu biểu. Sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò của hội chợ làng nghề trong việc đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với thị trường, người tiêu dùng và du khách.

Tin khác

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Hội chợ Làng nghề Việt Nam năm 2026 là dịp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và nhiều sản phẩm đặc trưng vùng miền.
Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nghề khảm trai ở làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, TP. Hà Nội) vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, kết tinh trong từng đường nét chạm khắc tinh xảo. Tuy nhiên, trước sức ép của thị trường và nguy cơ thiếu hụt lao động kế cận, làng nghề đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn những giá trị truyền thống, vừa đổi mới sản phẩm, mở rộng thị trường để tạo động lực phát triển bền vững.
Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng 8/10, tại Cung Triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch xây dựng Quốc gia, Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2026 (Hanoi Giftshow 2026) chính thức khai mạc. Với quy mô 500 gian hàng của 230 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất đến từ Hà Nội và 15 tỉnh, thành phố, Hội chợ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm kết nối quan trọng giữa nghệ nhân, làng nghề, doanh nghiệp với thị trường trong nước và quốc tế.
Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

LNV - Trải qua hơn 200 năm hình thành và phát triển, làng nghề tre trúc Xuân Lai, xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh vẫn gìn giữ kỹ thuật hun tre nguyên cây như một bí quyết riêng. Từ ngọn lửa, làn khói và kinh nghiệm của người thợ, những thân tre xanh được khoác lên sắc nâu trầm đặc trưng, tạo nên dấu ấn khó trộn lẫn của sản phẩm Xuân Lai trên thị trường.
Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

LNV - Nghề làm nón lá truyền thống không chỉ là nghề mưu sinh mà còn là biểu tượng của nét đẹp văn hóa, đang đổi mới để phù hợp với thời đại.
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo tồn không gian sản xuất và từng bước mở hướng phát triển gắn với du lịch trải nghiệm.
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

LNV - Gần 30 năm qua, ngôi nhà của Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh tại ấp Kos Sla, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long luôn rộn ràng với công việc chế tác mão và mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

LNV - Từ những chiếc lá lụi đơn sơ, những thanh tre chẻ nhỏ dẻo dai, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân thôn Đan Du (xã Kỳ Khang, tỉnh Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc, thanh thoát đã được tạo nên. Trải qua bao thăng trầm và đổi thay của thời đại, người dân Đan Du vẫn ngày đêm cần mẫn bên khung nón, vành tre và đường kim quen thuộc. Từ nếp nhà nhỏ bình dị, mỗi chiếc nón ra đời không chỉ che mưa che nắng cho biết bao người, mà còn mang theo vẻ đẹp duyên dáng, tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới  từ thị trường và trải nghiệm

Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm

LNV - Trước sức ép cạnh tranh và sự thay đổi nhanh của thị hiếu tiêu dùng, nhiều làng nghề truyền thống đang chủ động tìm hướng thích ứng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tế tại Đà Nẵng và TP Huế cho thấy, khi nghề truyền thống được đặt trong một không gian phát triển mới, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng mà còn được bồi đắp từ câu chuyện văn hóa, trải nghiệm và bản sắc của mỗi vùng đất.
Tinh hoa làng nghề Hà Nội  Tinh hoa làng nghề Hà Nội   trong dòng chảy sáng tạo

Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo

LNV - Gần 300 sản phẩm, bộ sản phẩm của 183 tác giả đã hội tụ tại Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026. Từ những kỹ thuật được gìn giữ qua nhiều thế hệ đến tư duy thiết kế, thương mại và hội nhập mới, hội thi cho thấy sức sống của làng nghề Thủ đô đang được tiếp nối bằng cả bàn tay tài hoa và khát vọng đổi mới
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Chiều 28/9, tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Lễ trao giải Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Rộn ràng chương trình đồng diễn dân vũ, hưởng ứng “Tháng Áo dài” năm 2026 tại xã Trung Giã

Rộn ràng chương trình đồng diễn dân vũ, hưởng ứng “Tháng Áo dài” năm 2026 tại xã Trung Giã

LNV - Hòa chung không khí phấn khởi chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2026) và 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2026), Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Trung Giã tổ chức chương trình đồng diễ
Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Nguồn kinh phí khuyến công tại Quảng Ninh đã phát huy vai trò như một dòng “vốn mồi” quan trọng
Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

hong trào tại Lai Châu ghi nhận thành công nhờ sự đồng thuận và huy động nguồn lực của nhân dân, thúc đẩy phát triển bền vững vùng quê.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026
Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ đàn chim cút thương phẩm quy mô tại Quảng Trị đến việc khôi phục giống vịt bản địa ở Sơn La, các mô hình chăn nuôi phù hợp địa phương đang giúp nâng cao thu nhập cho người dân
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động