Nón lá Sai Nga
Điều dễ nhận thấy nhất khi về Sai Nga là những khoảng sân trắng màu lá cọ, tre nứa đã chẻ sẵn, dùng để đan nón. Trước kia, khi kinh tế còn khó khăn, lá cọ được dùng để lợp nhà, nhưng ngày nay, cọ chỉ được dùng làm nguyên liệu khâu nón. Những chiếc nón lá nhờ đôi bàn tay khéo léo của người Sai Nga tạo nên được khách hàng khắp nơi ưa chuộng.
Những người già nhất ở Sai Nga cũng chẳng còn nhớ nghề làm nón xuất hiện tự bao giờ, lại càng không thể nhớ ai là người đưa nghề nón từ làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) đến với người Sai Nga. Cũng không có sách nào ghi chép về cụ tổ nghề, những người thợ chỉ truyền bằng miệng và nghề đã tồn tại cho đến bây giờ. Nhưng với người Sai Nga hôm nay nghề làm nón không chỉ giúp họ ổn định cuộc sống, mà còn gìn giữ một nét văn hoá của vùng đất Tổ.
Xã Sai Nga được chia thành mười hai đội, mỗi đội tương đương với một thôn. Theo thống kê của xã, hơn 90% số hộ trong xã duy trì nghề làm nón truyền thống. Ở Sai Nga, một học sinh tiểu học cũng có thể nói vanh vách về quy trình làm nón, bởi đây là công việc nhẹ nhàng ai cũng có thể làm được nếu chịu khó quan sát học hỏi, nhưng để tạo được những chiếc nón đẹp, bán giá cao lại phụ thuộc vào sự khéo tay của mỗi người thợ.

(Ảnh: TL)
Để làm ra một chiếc nón phải trải qua rất nhiều công đoạn như tìm chọn mua nguyên vật liệu, làm vành, là lá, quay khâu, nức, nhôi, sấy... Nguyên liệu làm nón gồm: lá, khuôn, vành, mo tre hoặc mo nứa, sợi cước, sợi len để nhôi và một lưỡi cày để là lá. Khi có đủ nguyên liệu thì bắt tay vào làm từng công đoạn. Lá làm nón là lá thanh được bà con mang từ Hà Tây về theo chợ phiên, cứ năm ngày chợ họp một lần. Điều đặc biệt và khá ngạc nhiên về sự giản đơn trong công đoạn làm nón là khâu là lá: chỉ cần một chiếc lưỡi cày, một nụt vải được bó chặt, kèm theo ít củi để hơ nóng lưỡi cày. Hơ lưỡi cày dùng củi thì mới nóng đều chứ không dùng than. Khi lưỡi cày đã nóng, chiếc lá được đặt lên và cầm nụt vải là miết trên lá. Thế là một chiếc lá xoắn đã trở nên phẳng hiện những đường gân thẳng trên nền trắng. Để chiếc lá đẹp, người là phải nhanh tay vì nếu đặt lá lâu trên lưỡi cày sẽ làm lá có màu úa mất đi tính thẩm mỹ. Một chiếc nón được hoàn thành phải mất khoảng 3 giờ, muốn nón được trắng hơn khi làm xong hơ qua diêm sinh. Bình quân một ngày mỗi người làm được 3 chiếc. Người “giỏi nghề” may nhanh tay thì 2 giờ được một chiếc, có ngày làm được từ 5 đến 6 chiếc.

(Ảnh: TL)
Nón Sai Nga không được nổi tiếng như nón Bài Thơ, nhưng không ai có thể phủ nhận chất lượng của nó. Nón Sai Nga bền, đẹp bởi nó được may từ trái tim và tấm lòng người thợ. Nếu nón Bài Thơ mỏng manh yếu ớt chỉ hợp với thời tiết nắng đẹp, thì nón Sai Nga lai vô cùng chắc chắn và là vật che mưa hữu hiệu, vì giữa 2 lớp lá còn có một lớp mo mỏng mà bền. Sản phẩm làm ra đều được thương lái thu mua tận nơi hoặc bán tại chợ phiên, đa phần người làm nón ở Sai Nga vẫn thích đem nón đến chợ phiên và coi đó như một nét văn hóa truyền thống của làng mình. Chợ phiên Sai Nga họp 5 ngày hai phiên chợ (vào Âm lịch) chủ yếu mua bán nón, vật liệu làm nón: lá, cước, len, vành, hoa nón... Nón làng Sai Nga ngày nay cũng đã sánh kịp với nón làng Chuông nổi tiếng ở miền Bắc, nón Sai Nga không chỉ góp mặt ở các phiên chợ quê mà còn được đưa đi các nơi như: Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và cả Hà Nội..
Làm nón chỉ là nghề phụ và mang tính thời vụ. Mùa hè nắng người ta thích đội nón, trẻ con lại được nghỉ hè nên nhiều nhân công vì thế chủ yếu tập trung may vào mùa này. Còn mùa đông may ít và phải làm thêm nghề khác. Dù vất vả nhưng dân làng ai cũng muốn bám chặt lấy nghề nón. Họ vẫn hàng ngày truyền kinh nghiệm cho con cháu. Nó như thứ của hồi môn quý báu cho con gái trước khi về nhà chồng. Có nhiều nghề sẽ bị quên lãng theo thời gian, nhưng khi nào còn người trên đất Sai Nga thì nghề nón vẫn tồn tại. Và hơn thế nữa nghề còn được truyền đi cả các làng lân cận. Khắp huyện Cẩm Khê xã nào cũng có người may nón.

Năm 2004, Sai Nga chính thức được công nhận là làng nghề, với 40% thu nhập từ làm nón. Sự hy sinh của cha ông, ý thức gìn giữ của con cháu, mồ hôi và cả máu đã tô đậm cái danh “làng nghề”. Tuy nhiên, làng nghề cũng đang đứng trước thực trạng thiếu nguồn nguyên liệu trầm trọng khi diện tích cọ ngày càng thu hẹp, nhường đất cho những công trình mới, khu công nghiệp, khu chế xuất... Hơn nữa, ngày nay, do nhu cầu của cuộc sống, thói quen dùng nón che mưa che, nắng của người dân đã có những đổi thay nên nghề làm nón ở đây quy mô nhỏ hơn trước. Một hướng đi mới để nghề phụ phát triển, khuyến khích làm nón, mở rộng thị trường tiêu thụ đồng thời người dân có cơ hội giao lưu với các làng nghề. Đặc biệt, nâng cao tay nghề về mẫu mã để nghề nón lá Sai Nga có “thương hiệu”, giữ được nét văn hóa của làng nghề truyền thống, đem lại hiệu quả kinh tế giúp bà con có cuộc sống ổn định.
Bài và ảnh: Thúy Anh
Tin liên quan
Tin mới hơn
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam
16:47 | 09/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026
12:22 | 09/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp
12:08 | 09/10/2026 OCOP
Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ
07:00 | 09/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch
06:00 | 09/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề
23:00 | 08/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Tin khác
Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại
15:58 | 08/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ
15:33 | 08/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây
07:00 | 08/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống
00:00 | 08/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển
12:18 | 06/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
07:00 | 03/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian
07:00 | 02/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm
11:40 | 01/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo
11:33 | 01/10/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường
12:22 | 30/09/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa
17:50 | 28/09/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm
09:04 | 26/09/2026 Tin tức
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc
12:06 | 25/09/2026 Tin tức
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh
11:20 | 25/09/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu
11:09 | 25/09/2026 Du lịch làng nghề
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam
16:47 Làng nghề, nghệ nhân
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ khuyến công năm 2026: Đổi mới tư duy từ “hỗ trợ hạng mục” sang “tạo năng lực phát triển”
16:46 Khuyến công
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026
12:22 Làng nghề, nghệ nhân
Gần 500 gian hàng tham gia Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc năm 2026
12:13 Khuyến công
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp
12:08 OCOP



