Hà Nội: 12°C Hà Nội
Đà Nẵng: 18°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 25°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 16°C Thừa Thiên Huế

Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, tại bon làng Liêng Trang (xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng), nghệ nhân Ntơr Ha Bang vẫn lặng lẽ gắn bó với nghề đan lát truyền thống của người K’ho. Từ những vật dụng sinh hoạt giản dị đến các sản phẩm mang giá trị nghệ thuật, mỗi đường đan của ông không chỉ tạo nên hình hài sản phẩm mà còn lưu giữ ký ức văn hóa, góp phần gìn giữ một nghề truyền thống đang dần mai một.
Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

LNV - Kế thừa nghề gốm truyền thống của gia đình, anh Vũ Khánh Tùng (CEO Bát Tràng Museum) lựa chọn một lối đi khác biệt: ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu sâu hơn giá trị hoa văn, biểu tượng gốm cổ, từ đó sáng tạo, bảo tồn và làm mới nghề gốm trong đời sống đương đại, mà vẫn giữ trọn tinh thần di sản.
Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

LNV - Ở tuổi 80, Nghệ nhân Ưu tú, già làng A Vẽ (thôn Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn miệt mài chế tác và biểu diễn các nhạc cụ dân tộc Giẻ Triêng, mang âm thanh núi rừng hòa vào đời sống đương đại, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào vùng cao.
Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề chạm khắc sừng truyền thống, nghệ nhân, cựu chiến binh Nguyễn Văn Sử (làng Thụy Ứng, xã Thường Tín, TP Hà Nội) vẫn bền bỉ gìn giữ và thổi hồn cho từng sản phẩm thủ công, góp phần bảo tồn tinh hoa làng nghề giữa nhịp sống hiện đại.
Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

LNV - Những ngày cuối năm âm lịch, trên các cánh đồng quất ở phường Hội An Tây (Đà Nẵng), nông dân tất bật cắt tỉa, chăm sóc, hoàn thiện những công đoạn cuối cùng để kịp cung ứng quất cảnh cho thị trường Tết Nguyên đán 2026. Với diện tích trồng lớn, sản lượng dồi dào và đầu ra ổn định, vụ quất năm nay mang lại niềm vui và kỳ vọng về một mùa Tết đủ đầy cho người trồng quất địa phương.
Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán, tại nhiều địa phương trong tỉnh Tây Ninh, không khí sản xuất các đặc sản truyền thống như khô bò, bánh mứt và muối tôm trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Dù đối mặt với biến động chi phí và sức mua chưa thật sự bứt phá, các cơ sở vẫn nỗ lực duy trì nhịp sản xuất, giữ vững chất lượng và hương vị truyền thống, đáp ứng nhu cầu thị trường Tết.

Tin khác

Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

LNV - Thiếp chúc mừng năm mới của Chủ tịch nước là thông điệp mở đầu cho năm 2026 với tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

LNV - Đội ngũ nghệ nhân và người có uy tín được xem là “báu vật nhân văn sống” của Lạng Sơn, giữ vai trò quyết định trong bảo tồn, thực hành và phát huy kho tàng văn hóa truyền thống. Họ đồng thời là cầu nối giữa chính quyền với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo an ninh và thúc đẩy phát triển địa phương.
Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

LNV - Những làng nghề truyền thống như đúc đồng Trà Đông, rèn Tất Tác hay mộc Đạt Tài đang trở thành những “kho tàng sống” của văn hóa xứ Thanh. Dù nghề thủ công phải thích ứng với yêu cầu thị trường và công nghệ mới, người dân nơi đây vẫn bền bỉ giữ nghề, giữ lửa, truyền lại tinh hoa cho thế hệ trẻ, tạo nên sức sống bền vững cho di sản trong nhịp sống hiện đại.
Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

LNV - Những ngày cuối năm, không khí làm việc tại làng nghề may mùng, mền xã Bình Hòa (An Giang) trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Các cơ sở tăng ca sản xuất, còn lao động “vệ tinh” tranh thủ từng giờ rảnh để kịp giao hàng, đáp ứng nhu cầu mua sắm Tết đang tăng mạnh trên thị trường.
Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

LNV - Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở xã Châu Phong (An Giang) đã tồn tại hơn hai thế kỷ, trở thành biểu tượng văn hóa gắn liền với đời sống cộng đồng Hồi giáo Chăm. Được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia vào năm 2023, thổ cẩm Châu Phong ngày càng khẳng định giá trị khi hòa mình vào dòng chảy du lịch, thu hút đông đảo du khách đến khám phá và trải nghiệm.
Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

LNV - Làng nghề được xem là nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa dân tộc và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân. Tuy nhiên, đằng sau những sản phẩm thủ công tinh xảo là nỗi lo về sức khỏe của người lao động, những con người ngày ngày tiếp xúc với khói bụi, hóa chất, tiếng ồn và nhiệt độ cao trong điều kiện làm việc thiếu an toàn.
Nghệ nhân “hoá thân” chất liệu đời thường thành tác phẩm nghệ thuật

Nghệ nhân “hoá thân” chất liệu đời thường thành tác phẩm nghệ thuật

LNV - Qua bàn tay tài hoa và tâm hồn của người nghệ sĩ, nhiều chất liệu giản dị nhất trở thành tác phẩm nghệ thuật, mang hơi thở của đời sống, phản chiếu tâm hồn con người Việt Nam.
Làng nghề Đại Bái nỗ lực vượt khó, đổi mới sản xuất để đáp ứng đơn hàng Tết

Làng nghề Đại Bái nỗ lực vượt khó, đổi mới sản xuất để đáp ứng đơn hàng Tết

LNV - Trước yêu cầu dừng hoạt động các lò đúc nhằm bảo đảm môi trường, các cơ sở sản xuất ở làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) đã nhanh chóng thích ứng, thay đổi phương thức sản xuất và liên kết với cơ sở được cấp phép để duy trì nguồn nguyên liệu. Nhờ chủ động cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, các doanh nghiệp và hộ làm nghề vẫn đáp ứng kịp thời đơn hàng Tết, giữ vững thị trường truyền thống.
Nhộn nhịp sản xuất ở các làng nghề truyền thống dịp cuối năm

Nhộn nhịp sản xuất ở các làng nghề truyền thống dịp cuối năm

LNV - Không khí sản xuất tại các làng nghề truyền thống ở Lạng Sơn đang trở nên nhộn nhịp hơn trong những ngày cận Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Sắc màu lao động hiện diện khắp các nếp nhà, tạo nên bức tranh kinh tế sôi động và nhiều kỳ vọng.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam kỷ niệm 20 năm thành lập và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam kỷ niệm 20 năm thành lập và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân

LNV - Ngày 26/12/2025, tại Hà Nội, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (2005 - 2025) và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân lần thứ XII. Sự kiện là dấu mốc quan trọng để nhìn lại chặng đường hai thập kỷ “kết nối - bảo tồn - phát triển tinh hoa nghề Việt”, đồng thời khẳng định vị thế của làng nghề Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Tranh Kim Hoàng: Nối lại một dòng chảy đã đứt đoạn

Tranh Kim Hoàng: Nối lại một dòng chảy đã đứt đoạn

LNV - Tranh Kim Hoàng - dòng tranh dân gian từng phổ biến ở Bắc Bộ đầu thế kỷ XX đã bị đứt mạch hơn bảy thập kỳ bởi thiên tai, biến động xã hội và sự thay đổi trong đời sống thành thị. Trong bối cảnh di sản vật thể đứng trước nguy cơ mai một, nỗ lực phục dựng âm thầm của một số cá nhân đang mở ra hy vọng mới cho việc nối lại dòng chảy tưởng như đã biến mất của làng nghề Kim Hoàng (Hà Nội).
Làng nghề trước những thay đổi: Giữ bản sắc từ kỹ thuật đến cộng đồng

Làng nghề trước những thay đổi: Giữ bản sắc từ kỹ thuật đến cộng đồng

LNV - Dưới tác động của công nghệ, thị trường và dòng lao động dịch chuyển, cấu trúc sản xuất tại nhiều làng nghề truyền thống đang thay đổi nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, ba trụ cột từng làm nên bản sắc làng nghề Việt Nam gồm truyền nghề, chuẩn tay nghề và đời sống cộng đồng cũng đứng trước những thách thức mới về cách duy trì và tiếp nối.
Khẳng định vai trò nghệ nhân, thợ giỏi trong bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội

Khẳng định vai trò nghệ nhân, thợ giỏi trong bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội

Ngày 26-12, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức hội thảo nhằm làm rõ vai trò của đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi trong việc gìn giữ giá trị truyền thống, truyền nghề và thúc đẩy phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn Thủ đô, qua đó đề xuất các giải pháp phát huy nguồn lực con người trong bối cảnh mới.
LÀNG NGÓI ÂM DƯƠNG QUỲNH SƠN: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TIỀM NĂNG DU LỊCH

LÀNG NGÓI ÂM DƯƠNG QUỲNH SƠN: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TIỀM NĂNG DU LỊCH

LNV - Vượt qua hơn 270 hồ sơ đến từ 65 quốc gia, Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (xã Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) vinh danh là Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025. Là “hồn nghề” lâu đời tại Quỳnh Sơn, làng nghề ngói âm dương trở thành điểm nhấn, vừa gìn giữ hồn nghề truyền thống, vừa phát triển du lịch làng nghề gắn với xúc tiến thương mại.
Nghệ nhân giữ tiếng ngũ âm Khmer

Nghệ nhân giữ tiếng ngũ âm Khmer

LNV - Suốt hơn hai thập kỷ, nghệ nhân Thạch Anh Xuân (Vĩnh Long) miệt mài truyền dạy nhạc ngũ âm Khmer cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer Tây Nam Bộ. Từ tình yêu gia truyền, ông trở thành “cầu nối” bền bỉ giữa di sản và hiện đại, bất chấp nhiều khó khăn trong công tác bảo tồn.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho sản phẩm đặc trưng

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho sản phẩm đặc trưng

LNV - Thông qua việc tổ chức và tham gia nhiều hội chợ, triển lãm, kết nối giao thương trong năm 2025, các sản phẩm đặc sản, OCOP và thương hiệu tiêu biểu của Lâm Đồng đã có thêm cơ hội tiếp cận thị trường, ký kết hợp đồng tiêu thụ và mở rộng chuỗi cung ứ
Bánh kẹo Bảo Minh khẳng định thương hiệu quốc gia với những dấu ấn nổi bật năm 2025

Bánh kẹo Bảo Minh khẳng định thương hiệu quốc gia với những dấu ấn nổi bật năm 2025

LNV - Trải qua hơn ba thập kỷ phát triển, Công ty Cổ phần Bánh mứt kẹo Bảo Minh đã trở thành một trong những thương hiệu tiêu biểu của ngành ẩm thực truyền thống Việt Nam. Năm 2025 là một năm đánh dấu chặng đường phát triển, cho thấy nỗ lực đổi mới của đơ
Thức quà quê tinh túy từ đôi bàn tay người phụ nữ Bình Gia

Thức quà quê tinh túy từ đôi bàn tay người phụ nữ Bình Gia

LNV - Không chỉ là những món bánh dân dã quen thuộc, bánh ngải, bánh rợm, bánh đúc… qua đôi bàn tay khéo léo của người xã Bình Gia, Lạng Sơn đã trở thành tinh hoa ẩm thực, gói trọn hương vị thiên nhiên và bản sắc văn hóa núi rừng xứ Lạng.
Trồng thử nghiệm bí xanh thơm mang lại hiệu quả kinh tế tại Bát Xát

Trồng thử nghiệm bí xanh thơm mang lại hiệu quả kinh tế tại Bát Xát

LNV - Thành công bước đầu từ mô hình trồng thử nghiệm bí xanh thơm đang mở ra hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp tại xã Bát Xát (Lào Cai) góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Xây dựng nông thôn mới tạo sức bật cho nông thôn Cà Mau phát triển bền vững

Xây dựng nông thôn mới tạo sức bật cho nông thôn Cà Mau phát triển bền vững

LNV - Không chỉ hoàn thành các tiêu chí, Chương trình xây dựng nông thôn mới tại Cà Mau đã tạo ra những thay đổi căn bản về hạ tầng, sản xuất, sinh kế và chất lượng sống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn theo hướng bền vững.
Giao diện di động