Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

LNV - Từ làng Tân An bên dòng Gianh ở Quảng Trị đến Lựu Bảo ở vùng đất Huế, nghề làm bánh tráng đã đi qua hàng trăm năm cùng đời sống của người dân. Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Làng nghề trước áp lực thị trường

Làng nghề trước áp lực thị trường

LNV - Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu lao động mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một do khó khăn về đầu ra cho sản phẩm, thiếu vốn, nguyên liệu, lao động lành nghề...
Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026:  Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026: Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

LNV - Từ tiếng trống khai hội ở đền Nghè ngày 1/8 âm lịch đến kháp đấu quyết định ngày 9/8, trâu số 15 của ông Lê Bá Ngọc (đình Ngọc Xuyên) đăng quang. Nhưng với người Đồ Sơn, chiếc cúp chỉ là một dấu chấm giữa một câu chuyện dài hơn thế nhiều.
Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

LNV - Với hơn 18 năm truyền dạy miễn phí, nghệ nhân ưu tú Bàn Văn Cường đã góp phần bảo tồn chữ Nôm Dao, giữ gìn ký ức văn hóa dân tộc tại Bắc Ninh.
Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa  trong sản xuất công nghiệp nông thôn

Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp nông thôn

LNV - Chương trình hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc tiên tiến giai đoạn 2026–2030 thể hiện định hướng chiến lược trong việc hiện đại hóa khu vực kinh tế nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

LNV -Tối 18-9, UBND xã Thường Tín tổ chức khai mạc triển lãm các sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCop với sự tham dự của đông đảo người dân cùng doanh nghiệp trong và ngoài địa phương. Chương trình có chủ đề “Chạm bản sắc - Mở giao thương - Tựu trường - Trung thu” năm 2026.

Tin khác

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

LNV - Ngày 18/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Hội nghị chấm thi Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân làng nghề thành phố Hà Nội năm 2026. Hội thi thu hút 183 nghệ nhân, thợ giỏi tham gia với 298 tác phẩm, bộ tác phẩm, qua đó góp phần tôn vinh những giá trị đặc sắc của nghề truyền thống và khuyến khích sáng tạo trong phát triển sản phẩm làng nghề Thủ đô.
Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

LNV - Sự ra mắt Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam, trực thuộc Hiệp hội Chè Việt Nam, mở ra thêm một không gian kết nối giữa các vùng nguyên liệu, người sản xuất và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chè Shan tuyết. Từ những rừng chè cổ thụ gắn bó lâu đời với đời sống đồng bào vùng cao, Chi hội hướng tới xây dựng các tiêu chuẩn chung về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu và từng bước nâng cao giá trị chè Shan tuyết trên thị trường trong nước và quốc tế.
Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

LNV - Không chỉ là câu chuyện đưa hàng Việt ra nước ngoài, “Tuần lễ hàng Việt Nam tại Thái Lan 2026” đang mở thêm một không gian để doanh nghiệp Hà Nội trực tiếp gặp gỡ nhà thu mua, tìm hiểu thị hiếu và thử sức với những yêu cầu của thị trường khu vực. Với những sản phẩm mang đậm bản sắc như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, đồ gỗ – đồ thờ Sơn Đồng hay mây tre đan Phú Vinh, cơ hội xuất khẩu không chỉ nằm ở một đơn hàng, mà còn ở khả năng biến giá trị văn hóa của làng nghề thành giá trị thương mại bền vững.
Hướng tới Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 chất lượng, giàu sức sáng tạo

Hướng tới Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 chất lượng, giàu sức sáng tạo

LNV - Với 644 tác phẩm được gửi về từ khắp các tỉnh, thành phố, Cuộc thi và Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 năm 2026 đang bước vào giai đoạn quan trọng. Trong số những tác phẩm tham dự, sự hiện diện của các nghệ nhân, sản phẩm từ các làng nghề truyền thống tiếp tục cho thấy mối quan hệ ngày càng gắn bó giữa nghề thủ công, sáng tạo nghệ thuật và mỹ thuật ứng dụng đương đại.
Làng nghề nước mắm Mỹ Thủy  Hành trình 500 năm giữ gìn truyền thống

Làng nghề nước mắm Mỹ Thủy Hành trình 500 năm giữ gìn truyền thống

LMV - Nghề làm nước mắm truyền thống tại Mỹ Thủy, tỉnh Quảng Trị đã tồn tại hơn 500 năm, mang lại nguồn thu nhập ổn định và phát triển thương hiệu ra thị trường quốc tế.
Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

LNV - Cách xa phố thị sầm uất, làng chài Tam Tiến (thôn Hà Lộc, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) đang có những chuyển biến trong cách nghĩ, cách làm kinh tế biển của người dân. Từ những bỡ ngỡ ban đầu, người dân nơi đây ngày càng tự tin phát triển du lịch, mở thêm sinh kế ngay trên bãi biển quê hương.
Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

LNV - Đến tổ dân phố Đông Hồ - Thuận thành - Bắc Ninh, hỏi ông Phùng Đình Giáp thì bất cứ ai cũng đều biết, bởi lẽ đơn giản: ông là người cuối cùng ở xứ Kinh Bắc còn theo nghề nặn Phỗng đất – Món đồ chơi Trung Thu truyền thống xưa và nay.
Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

LNV - Ứng dụng công nghệ giúp nâng cao chất lượng, quản lý và xây dựng niềm tin người tiêu dùng, đưa sản phẩm làng nghề ra thị trường quốc tế.
Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026:

Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026: 'Dòng chảy di sản - Heritage Flow'

LNV - Tối 11/9, tại không gian thiêng liêng của Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa thế giới, TP. Hà Nội tổ chức khai mạc Chương trình Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow".
Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh  Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

LVN - Bưởi Phúc Trạch là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng gắn liền với vùng đất Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

LNV - Cơn lốc công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt vô số làng nghề cổ truyền trước bài toán sinh tồn gay gắt về thị trường, chi phí và sự suy giảm lực lượng lao động.
Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

LNV - Lào Cai tiếp tục chính sách hỗ trợ nghệ nhân, xây dựng câu lạc bộ và nhóm thực hành để giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong cộng đồng.
Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

LNV - Sáng mùng 5 tháng 9, khi tiếng trống khai trường vang lên trên đảo Cát Hải, thì ở sân chượp cách đó mấy trăm mét, những chiếc nắp thùng vẫn được mở ra đón nắng, đúng như bảy mươi năm nay vẫn thế. Hai nhịp thời gian ấy, một năm học và một mẻ mắm, hóa ra cùng đặt ra một câu hỏi: Chúng ta đang chuẩn bị điều gì và cho ai?
Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

LNV - Từng có thời gian những bãi dâu thưa dần, tiếng máy dệt cũng không còn rộn ràng như trước, nghề ươm tơ, dệt lụa ở Phùng Xá đứng trước nguy cơ mai một. Giữa những đổi thay ấy, Nghệ nhân Ưu tú Phan Thị Thuận vẫn lựa chọn gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ những kỹ thuật được trao truyền qua nhiều thế hệ, bà còn không ngừng tìm cách làm mới nghề truyền thống bằng những sáng tạo đặc biệt: để con tằm tự dệt nên những tấm tơ, đưa sợi tơ từ thân sen lên khung cửi và từng bước chuẩn hóa, nâng tầm sản phẩm. Hành trình ấy đã góp phần đưa sản phẩm chăn tơ tằm tự dệt của cơ sở bà Thuận trở thành sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, khẳng định giá trị mới cho nghề tơ lụa Phùng Xá.
Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

LNV - Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã Đại Xuyên (Hà Nội) đang từng bước tạo nên diện mạo mới, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, nông nghiệp chuyển dịch theo hướng xanh, hiện đại; sản phẩm OCOP dần khẳng định thương hiệu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 19/9/2026, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Bắc Ninh long trọng tổ chức Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại buổi lễ.
Vinh danh 26 gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu

Vinh danh 26 gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Thanh niên Khuyết tật Việt Nam và Công ty TCP Việt Nam phối hợp tổ chức Chương trình “Tỏa sáng Nghị lực Việt” năm 2026. Chương trình tôn vinh 26 thanh niên khuyết tật giàu nghị lực, vượt qua nghịch cảnh, lan tỏa cảm hứng sống tích cực và khẳng định những đóng góp thiết thực cho cộng đồng.
Góp phần tôn vinh, quảng bá giá trị của di sản văn hóa

Góp phần tôn vinh, quảng bá giá trị của di sản văn hóa

Nằm trong khuôn khổ chuỗi hoạt động của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Hà Nội - Dòng chảy di sản”, từ ngày 18-20/9, Bảo tàng Hà Nội tổ chức các hoạt động Văn hóa nghệ thuật, tôn vinh giá trị của di sản.
Thủ tướng: Tuyệt đối không để lợi ích cục bộ, lợi ích ngành, lợi ích nhóm chi phối chính sách

Thủ tướng: Tuyệt đối không để lợi ích cục bộ, lợi ích ngành, lợi ích nhóm chi phối chính sách

LNV - Chiều 16/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 9/2026, xem xét, cho ý kiến đối với 8 dự án luật, nghị quyết chuẩn bị trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Cũng tại phiên họp, Thủ tướng đã chỉ đạo một số nhi
An Giang tìm cơ hội đưa nông sản, thủy sản vào sâu hơn thị trường Quảng Tây

An Giang tìm cơ hội đưa nông sản, thủy sản vào sâu hơn thị trường Quảng Tây

LNV - Tham gia Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO) lần thứ 23 năm 2026 tại Nam Ninh (Trung Quốc), tỉnh An Giang không chỉ quảng bá hình ảnh, sản phẩm đặc trưng mà còn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho nông sản, thủy sản, kết nối logistics, du lịch và
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động