Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

LVN - Văn Phòng Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng đã bám sát các Làng nghề, nghệ nhân, Hội viên để khôi phục phát triển Làng nghề Việt Nam, mỗi xã một sản phẩm (OCOP), xây dụng nông thôn mới và hoạt động của thành phố Hải Phòng.
Giữ gìn tinh hoa văn hóa, thúc đẩy kinh tế từ làng nghề truyền thống

Giữ gìn tinh hoa văn hóa, thúc đẩy kinh tế từ làng nghề truyền thống

LVN - Mỗi làng nghề truyền thống trên dải đất hình chữ S không chỉ là đơn vị sản xuất kinh tế thuần túy, mà còn là một kho tàng văn hóa sống động, nơi lưu giữ “hồn cốt” của dân tộc qua bao thế hệ. Trong dòng chảy hối hả của nền kinh tế số, việc khơi dậy tiềm năng từ những giá trị văn hoá để tạo nên sức bật mới đang trở thành hướng đi tất yếu, giúp các làng nghề không chỉ “sống khỏe” mà còn vươn tầm thế giới.
Hải Phòng: Một gia đình có hai nghệ nhân Ưu tú

Hải Phòng: Một gia đình có hai nghệ nhân Ưu tú

Hai anh em Dương Minh Đức và Dương Văn Tiến vinh dự đều được Nhà nước phong tặng Nghệ nhân ưu tú, kế thừa và phát huy nghề đắp, vẽ mỹ thuật truyền thống, góp phần giữ gìn làng nghề, bảo tồn di sản văn hóa Hải Phòng.
Hà Nội: Bánh cuốn Thanh Trì di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Hà Nội: Bánh cuốn Thanh Trì di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Vừa qua, phường Vĩnh Hưng tổ chức Lễ công bố Quyết định ghi danh nghề làm bánh cuốn Thanh Trì vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bảo Việt giữ gìn và phát huy di sản truyền thống trong kỷ nguyên mới

Bảo Việt giữ gìn và phát huy di sản truyền thống trong kỷ nguyên mới

Công ty Bảo Việt phối hợp cùng các cấp hiệp hội làng nghề, nghệ nhân, lãnh đạo doanh nghiệp để lan tỏa giá trị di sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của làng nghề.
Ấn tượng không gian trình diễn văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc tại Gia Lai

Ấn tượng không gian trình diễn văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc tại Gia Lai

LNV - Nằm trong chuỗi các hoạt động Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026, không gian trình diễn văn hoá nghệ thuật dân gian các dân tộc để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân và du khách.

Tin khác

Làng nghề khắc in mộc bản gần 600 năm tuổi ở Hải Phòng

Làng nghề khắc in mộc bản gần 600 năm tuổi ở Hải Phòng

LVN - Nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu (thuộc phường Tân Hưng, TP.Hải Dương, nay TP. Hải Phòng) đã xuất hiện đến nay đã gần 600 năm. Tuy nhiên, giống với đa số các nghề truyền thống khác, nghề in khắc mộc bản ở Thanh Liễu cũng đối mặt với nguy cơ mai một. Những nghệ nhân làng Thanh Liễu đang cố gắng gìn giữ và tiếp nối nghề của cha ông để lại.

Đông Giao: Tinh hoa chạm khắc gỗ

LNV - Làng nghề mộc Đông Giao (xã Cẩm Giàng, TP Hải Phòng) không chỉ là nơi hội tụ tinh hoa sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ nhân mà còn là biểu tượng của sức sống bền bỉ trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Trải qua hơn 300 năm hình thành, nghề chạm khắc gỗ nơi đây đã vượt qua những thăng trầm lịch sử để khẳng định giá trị vững chắc trong đời sống đương đại.
Nghề kim hoàn Châu Khê giữ gìn tinh hoa nghề truyền thống

Nghề kim hoàn Châu Khê giữ gìn tinh hoa nghề truyền thống

Nằm giữa vùng đất Kinh Bắc văn hiến, làng Châu Khê (thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, nay là xã Đường An, TP. Hải Phòng) từ lâu đã nổi danh là một trong những cái nôi lớn nhất của nghề kim hoàn Việt Nam. Trải qua hơn 500 năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, nghề vàng bạc Châu Khê không chỉ là một kế sinh nhai mà còn là biểu tượng của sự tinh hoa, khéo léo và tinh thần bền bỉ của người thợ thủ công Việt.
Gia Lai: Tái hiện sống động Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai

Gia Lai: Tái hiện sống động Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai

LNV - Giữa không gian rộn ràng tiếng cồng chiêng, Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai được người dân làng Kép phục dựng công phu, tái hiện sinh động đời sống tinh thần giàu bản sắc qua nhiều thế hệ.
Di sản văn hóa Huế lan tỏa giữa đại ngàn Gia Lai

Di sản văn hóa Huế lan tỏa giữa đại ngàn Gia Lai

LNV - Không gian trưng bày chuyên đề Di sản văn hóa Huế tại Gia Lai trở thành điểm hẹn văn hóa thu hút đông đảo người dân và du khách.
Khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026

Khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026

LNV - Tối ngày 20/4/2026, tại khu vực Lễ hội truyền thống Quốc gia Chùa Tây Phương, Sở Công Thương Hà Nội long trọng tổ chức khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu thành phố Hà Nội gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026. Sự kiện thu hút sự tham dự của đông đảo đại biểu Trung ương, thành phố, địa phương cùng các doanh nghiệp, nghệ nhân và Nhân dân.
Từ lễ hội đến hội chợ: Hành trình lan tỏa giá trị làng nghề Hà Nội

Từ lễ hội đến hội chợ: Hành trình lan tỏa giá trị làng nghề Hà Nội

LNV - Tối ngày 20/4, tại khu vực đường vào chùa Tây Phương (xã Tây Phương, thành phố Hà Nội), Sở Công Thương Hà Nội phối hợp với UBND xã Tây Phương tổ chức Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu thành phố Hà Nội gắn với các hoạt động của Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026. Hội chợ mở cửa từ 09h00 đến 21h00 hằng ngày, hứa hẹn trở thành điểm đến văn hóa – thương mại hấp dẫn đối với người dân và du khách.
Nghề làm nồi đất cổ xưa của Trù Sơn

Nghề làm nồi đất cổ xưa của Trù Sơn

LNV - Làng Trù Sơn, xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An bao năm nay vẫn luôn ấm cúng bởi ánh lửa rực hồng của các lò nung làm nồi đất. Nơi đây là vùng duy nhất làm ra các loại nồi bằng đất ở xứ Nghệ và cũng là nơi hiếm hoi trong cả nước đến nay còn duy trì nghề làm nồi đất.
Quảng Trị: Đặt hàng trước hướng đi giúp nông dân yên tâm sản xuất

Quảng Trị: Đặt hàng trước hướng đi giúp nông dân yên tâm sản xuất

LNV - Tại xã Bắc Trạch (tỉnh Quảng Trị), nhiều nông dân đang dần thay đổi phương thức sản xuất, chuyển từ nhỏ lẻ, phụ thuộc thương lái sang tham gia các chuỗi liên kết. Thông qua mô hình hợp tác xã gắn kết với doanh nghiệp, đầu ra nông sản được đảm bảo ổn định hơn, đồng thời giá trị sản phẩm cũng được nâng lên, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững.
Nghề khảm trai Chuôn Ngọ: Bảo tồn di sản trong thời đại số

Nghề khảm trai Chuôn Ngọ: Bảo tồn di sản trong thời đại số

LNV - Làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ đối mặt thử thách từ công nghiệp hóa, nhưng đang đổi mới để giữ gìn giá trị truyền thống và vươn xa thị trường quốc tế
Làng nghề ủ ấm Sơn Vi hồi sinh nhờ chương trình OCOP

Làng nghề ủ ấm Sơn Vi hồi sinh nhờ chương trình OCOP

OVN - Sản phẩm ủ ấm Sơn Vi đạt chứng nhận 3 sao, mở rộng thị trường quốc tế, tạo việc làm và giữ gìn nét văn hóa truyền thống của địa phương.
Làng gốm Thanh Hà Giữ nhịp thời gian bên dòng Thu Bồn

Làng gốm Thanh Hà Giữ nhịp thời gian bên dòng Thu Bồn

Nằm thanh bình bên dòng sông Thu Bồn thơ mộng, làng gốm Thanh Hà, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng không chỉ là một điểm đến du lịch hấp dẫn mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ nét đẹp lao động và nghệ thuật gốm thủ công truyền thống suốt hơn 500 năm qua.
Không gian di tích ở Hà Nội hồi sinh nghề thủ công truyền thống

Không gian di tích ở Hà Nội hồi sinh nghề thủ công truyền thống

Các không gian sáng tạo trong di tích giúp nghề thủ công Hà Nội sống động, trải nghiệm thực hành, kết hợp công nghệ số và văn hóa địa phương.
"Trăm Nghề Trăm Nghệ” tái hiện sinh động bức tranh làng nghề Việt

"Trăm Nghề Trăm Nghệ” tái hiện sinh động bức tranh làng nghề Việt

Sự kiện “‘Trăm Nghề Trăm Nghệ” tại tại AEON Mall Long Biên (Hà Nội) mang làng nghề vào đời sống đô thị, kết hợp giá trị truyền thống và mỹ thuật ứng dụng để nâng cao nhận thức cộng đồng
“Chạm nghề phố cổ 2026” - Lan tỏa giá trị sơn ta trong dòng chảy di sản và sáng tạo

“Chạm nghề phố cổ 2026” - Lan tỏa giá trị sơn ta trong dòng chảy di sản và sáng tạo

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và hướng tới 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội phối hợp cùng các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa đặc sắc với chủ đề “Chạm nghề phố cổ 2026”.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Tây Ninh

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Tây Ninh

Sáng 27-4 tại Tây Ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn công tác của Trung ương đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm, tri ân các Anh hùng - Liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên.
Cà Mau tăng cường liên kết, nâng cao giá trị chuỗi lúa gạo

Cà Mau tăng cường liên kết, nâng cao giá trị chuỗi lúa gạo

Ngành lúa gạo Cà Mau đang từng bước chuyển đổi theo hướng nâng cao chất lượng, giảm phát thải và xây dựng chuỗi liên kết bền vững
Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Phát triển Làng nghề Việt Nam, mỗi xã một sản phẩm, xây dụng nông thôn mới và hoạt động tại thành phố Hải Phòng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, trò chuyện với nhân dân tại Đền Hùng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, trò chuyện với nhân dân tại Đền Hùng

Trong không khí thiêng liêng của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngay sau Lễ dâng hương tại Đền Thượng, dâng hoa, dâng hương tại Lăng Hùng Vương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ, nói chuyện thân mật với bà con nhân dân tại đây.
Nuôi hàu đại dương - Khát vọng vươn mình ra biển lớn

Nuôi hàu đại dương - Khát vọng vươn mình ra biển lớn

Mô hình nuôi hàu Đại Dương, hướng mới đầy triển vọng, hình mẫu cho tư duy nông nghiệp hiện đại.
Giao diện di động