Hà Nội: 20°C Hà Nội
Đà Nẵng: 23°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 21°C Thừa Thiên Huế

Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân giữ nhịp cồng chiêng K’ho giữa đại ngàn

Nghệ nhân giữ nhịp cồng chiêng K’ho giữa đại ngàn

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với tiếng chiêng buôn làng, Nghệ nhân Ưu tú K’Brel (xã Bảo Thuận, Lâm Đồng) vẫn lặng lẽ giữ nhịp cồng chiêng K’ho bằng tất cả tâm huyết. Từ những đêm hội bên bếp lửa tuổi thơ đến các lớp truyền dạy cho thanh niên hôm nay, ông trở thành cầu nối bền bỉ giữa di sản và thế hệ kế cận.
Đồ mây tre đan lên ngôi trong xu hướng tiêu dùng hiện đại

Đồ mây tre đan lên ngôi trong xu hướng tiêu dùng hiện đại

LNV - Những năm gần đây, cùng với xu hướng tiêu dùng hướng tới sự an toàn và thân thiện với môi trường, các sản phẩm mây tre đan ngày càng được quan tâm lựa chọn. Với ưu điểm sử dụng nguyên liệu tự nhiên và phù hợp với nhiều không gian sinh hoạt, đồ mây tre đan đang dần khẳng định vị trí trên thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng theo hướng bền vững hiện nay.
Nghề vẽ tranh gương xứ Huế

Nghề vẽ tranh gương xứ Huế

LNV - Giữa dòng chảy mỹ thuật truyền thống, tranh gương Huế vẫn lặng lẽ tồn tại như một loại hình đặc biệt với kỹ thuật “vẽ mặt trái, nhìn mặt phải”. Từ những lớp thợ gốc Hoa ở Bao Vinh xưa đến người nghệ nhân hôm nay, hành trình gìn giữ dòng tranh cung đình này là câu chuyện của sự kiên nhẫn, tinh tế và nỗ lực bảo tồn di sản.
Thủ Độ giữ hồn nghề mộc: Vinh danh 5 nghệ nhân, lan tỏa tinh hoa Đất Tổ

Thủ Độ giữ hồn nghề mộc: Vinh danh 5 nghệ nhân, lan tỏa tinh hoa Đất Tổ

LNV - Sáng ngày 4.3, trong không khí trang nghiêm và ấm áp đầu xuân, làng nghề mộc Thủ Độ (xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ) long trọng tổ chức Lễ Báo công – Lễ tạ Đức Thánh Hoàng làng, đồng thời chúc mừng 5 nghệ nhân của làng vinh dự được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam” lần thứ XII do Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức.
Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

LNV - Phát huy lợi thế các nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề lâu đời, xã Lai Vung (Đồng Tháp) đang từng bước bảo tồn giá trị truyền thống gắn với phát triển kinh tế địa phương. Từ nghề làm nem Lai Vung đến làng nghề dệt chiếu Định Yên, nhiều mô hình sản xuất không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

LNV - Những ngày đầu xuân năm Bính Ngọ, làng nghề chuồn chuồn tre Thạch Xá (xã Tây Phương, Hà Nội) rộn ràng không khí sản xuất, mở đầu một năm mới đầy kỳ vọng. Từ món đồ chơi dân gian giản dị, chuồn chuồn tre hôm nay đã trở thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

Tin khác

Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

LNV - Nằm giữa vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), làng dệt thổ cẩm bản Lặn vẫn bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống của người Thái suốt hơn hai thế kỷ. Những khung cửi vang lên mỗi ngày không chỉ tạo nên sản phẩm thủ công tinh xảo mà còn lưu giữ hồn cốt văn hóa bản địa giữa đại ngàn.
Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

LNV - Với kỹ thuật nặn gốm không dùng bàn xoay độc đáo, làng gốm Bình Đức (xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) là một trong số ít nơi còn bảo tồn gần như nguyên vẹn phương thức chế tác cổ xưa của nhân loại. Tuy nhiên, sự suy giảm nghệ nhân và áp lực mưu sinh đang đặt di sản quý này trước nhiều thách thức cần được chung tay gìn giữ.
Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

LNV - Ngày 28/2/2026 (nhằm ngày 12 tháng Giêng năm Bính Ngọ), tại miễu Bàu Đá, xóm Tân Long, thôn Cù Lâm, xã An Nhơn Tây, Hiệp hội rượu Bàu Đá Bình Định, tỉnh Gia Lai cùng bà con Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá trang trọng tổ chức Lễ giỗ Tổ thường niên.
Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

LNV - Trong không khí phấn khởi chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026) và đón Xuân Bính Ngọ 2026, thôn Kiêu Kỵ, xã Gia Lâm đã long trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng – Vinh danh các thế hệ nghệ nhân nghề quỳ vàng bạc tại Nhà Tràng làng nghề.
“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

LNV - Từ một món ăn dân dã, lạp xưởng tươi Cần Đước đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường bằng nền tảng pháp lý vững chắc, mô hình quản lý chuyên nghiệp và định hướng phát triển dài hạn – trở thành niềm tự hào của đặc sản Tây Ninh trong thời kỳ mới.
“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

LNV - Giữa dòng chảy hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường nông sản – thực phẩm, việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Với đặc sản truyền thống mang đậm bản sắc Nam Bộ, “Lạp xưởng tươi Cần Đước” hôm nay không chỉ là một món ăn quen thuộc mà đang từng bước được định vị như một thương hiệu có giá trị pháp lý, giá trị kinh tế và giá trị văn hóa bền vững của tỉnh Tây Ninh và Nam Bộ.
GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

LNV - Trên cánh đồng xã Tân Hưng, tỉnh Đồng Nai, lúa gạo không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn là sinh kế gắn bó với nhiều thế hệ người dân nơi đây. Từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm, người dân địa phương đã từng bước chuyển sang canh tác theo quy trình chuẩn hóa, hướng đến nâng cao chất lượng và kiểm soát truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Trong bối cảnh đó, nhãn hiệu tập thể Gạo An Khương – Hớn Quản ra đời như một bước chuyển mình quan trọng trong hành trình nâng tầm giá trị hạt gạo quê.
BƯỞI DA XANH TÂN HIỆP – HỚN QUẢN: GIỮ MÀU MẬT NGỌT TRÊN VÙNG ĐẤT ĐỎ

BƯỞI DA XANH TÂN HIỆP – HỚN QUẢN: GIỮ MÀU MẬT NGỌT TRÊN VÙNG ĐẤT ĐỎ

LNV - Sáng sớm trên vùng đất đỏ bazan xã Tân Hiệp (nay là xã Tân Khai, tỉnh Đồng Nai), lớp sương mỏng còn đọng trên tán lá bưởi, phản chiếu ánh nắng đầu ngày lên những trái bưởi da xanh đang vào độ thu hoạch. Trái bưởi da xanh phát triển đồng đều, vỏ căng mịn, sắc xanh ánh vàng nhẹ – những đặc điểm cho thấy trái bưởi đã trải qua quá trình sinh trưởng và tích lũy dinh dưỡng tốt.
Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La

Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La

LNV - Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La
Làng hoa giấy Thanh Tiên: Di sản 300 năm rực rỡ sắc xuân

Làng hoa giấy Thanh Tiên: Di sản 300 năm rực rỡ sắc xuân

LNV - Giữa những ngày Tết, khi nhịp sống chậm lại, người ta thường tìm về những thú thưởng ngoạn mang tính chiêm nghiệm: chén trà nóng, nén hương trầm, một cành hoa đặt nơi trang thờ... Ở hạ lưu sông Hương, cách trung tâm cố đô Huế không xa, có một làng nghề mà mỗi độ xuân về lại âm thầm góp sắc, góp hồn cho không gian Tết Việt - làng hoa giấy Thanh Tiên. Những đóa hoa nơi đây không khoe hương nhưng chẳng kém sắc rực rỡ mà bền bỉ, sâu lắng, mang trong mình câu chuyện của một di sản hơn 300 năm tuổi...
10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân

10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân

LNV - 10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân
Ngọt ngào làng nghề mật mía Nghĩa Hành

Ngọt ngào làng nghề mật mía Nghĩa Hành

LNV - Mỗi dịp cuối năm, làng nghề nấu mật mía truyền thống ở xã Nghĩa Hành (Nghệ An) lại tất bật đỏ lửa, cung ứng hàng trăm nghìn lít mật cho thị trường Tết. Nghề nấu mật không chỉ giữ gìn hương vị ẩm thực truyền thống mà còn tạo sinh kế ổn định, giúp nhiều hộ dân vươn lên khá giả ngay trên mảnh đất quê hương.
Bền bỉ giữ nghề trồng đào Nhật Tân giữa làn sóng đô thị hóa

Bền bỉ giữ nghề trồng đào Nhật Tân giữa làn sóng đô thị hóa

LNV - Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nghề trồng đào Nhật Tân vẫn bền bỉ tồn tại, thích nghi và hồi sinh giữa nhịp sống đô thị hóa của Thủ đô. Không chỉ mang giá trị kinh tế, mỗi cành đào nở đúng độ xuân về còn kết tinh tri thức dân gian, tâm huyết của người trồng đào và trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng của Hà Nội mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Toàn Thịnh giữ hương vị ô mai truyền thống

Toàn Thịnh giữ hương vị ô mai truyền thống

LNV - Toàn Thịnh - Thương hiệu ô mai nổi tiếng Hà Nội ra mắt bộ sưu tập “Tết ta- quà Việt” xuân Bính Ngọ 2026, kết hợp di sản và nghệ thuật gỗ độc bản, tôn vinh nét đẹp văn hóa Việt.
Tiếng trống quê vang xa từ làng nghề Đại Đồng

Tiếng trống quê vang xa từ làng nghề Đại Đồng

LNV - Khi nắng xuân bắt đầu hong khô những thân gỗ mới xẻ, các xưởng làm trống tại xã Đại Đồng (Nghệ An) lại tất bật vào vụ cao điểm. Không biển hiệu rực rỡ, không xưởng xí quy mô lớn, nhưng khách hàng từ khắp trong và ngoài tỉnh vẫn tìm về đây đặt mua trống phục vụ đình, chùa, trường học, lễ hội xuân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Áo dài truyền thống thăng hoa giữa lòng Thành phố mang tên Bác

Áo dài truyền thống thăng hoa giữa lòng Thành phố mang tên Bác

LNV - Lễ hội Áo dài TP. Hồ Chí Minh lần thứ 12 năm 2026 với chủ đề “Sợi tơ vàng son - Dệt nên khát vọng” không chỉ là sự kiện văn hóa - du lịch đặc trưng của đô thị năng động phía Nam, mà còn là không gian tôn vinh giá trị truyền thống, khơi dậy niềm tự h
Người trẻ giữ hồn nghề đúc đồng Trà Đông

Người trẻ giữ hồn nghề đúc đồng Trà Đông

LNV - Sinh ra một gia đình có truyền thống đúc đồng lâu đời, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Bá Quý sớm bén duyên với tiếng búa, hơi than và mùi đất sét. Là con trai của Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Bá Châu, anh lớn lên giữa không gian rực lửa lò nung, nơi mỗi sản ph
Lễ hội Lùng Tùng – Sắc xuân trên nương của người Thái Lai Châu

Lễ hội Lùng Tùng – Sắc xuân trên nương của người Thái Lai Châu

LNV - Mỗi độ xuân về, khi những thửa ruộng bậc thang bắt đầu vào vụ mới, đồng bào Thái ở Lai Châu lại tưng bừng tổ chức Lễ hội Lùng Tùng lễ xuống đồng đầu năm. Không chỉ là nghi lễ cầu mùa, đây còn là dịp cộng đồng sum vầy, gửi gắm ước vọng mưa thuận gió
Công bố quyết định kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai

Công bố quyết định kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai

LNV – Ngày 4/3, tại Tỉnh ủy Gia Lai, Đoàn kiểm tra, giám sát số 21 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do đồng chí Lê Hoài Trung - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm Trưởng đoàn đã chủ trì Hội nghị công bố quyết định kiểm tra, giám sát năm 2026 đố
Khai hội làng nghề: Điểm hẹn văn hóa mở màn mùa du lịch mới

Khai hội làng nghề: Điểm hẹn văn hóa mở màn mùa du lịch mới

LNV - Tháng Giêng, các lễ hội làng nghề tại Hội An và vùng lân cận rộn ràng diễn ra, không chỉ là dịp tri ân tổ nghề, cầu mong một năm thuận lợi mà còn trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc. Sự giao hòa giữa nghi lễ truyền thống và trải nghiệm thực tế đang t
Giao diện di động