Hà Nội: 13°C Hà Nội
Đà Nẵng: 23°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 18°C Thừa Thiên Huế

Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nông dân phường An Phú tất bật chuẩn bị nguồn hàng cho thị trường Tết

Nông dân phường An Phú tất bật chuẩn bị nguồn hàng cho thị trường Tết

LNV - Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Thời điểm này, bà con nông dân phường An Phú (tỉnh Gia Lai) đang tất bật bước vào giai đoạn “nước rút”, tập trung chăm sóc cây trồng với kỳ vọng hoa nở đúng dịp, rau đạt chất lượng, góp phần mang lại thu nhập ổn định trong mùa Tết.
Gia tộc nghệ nhân Vinhcoba và hành trình bốn thế hệ bảo tồn, phát triển nghề kính nghệ thuật

Gia tộc nghệ nhân Vinhcoba và hành trình bốn thế hệ bảo tồn, phát triển nghề kính nghệ thuật

LNV - Trong dòng chảy bền bỉ của các làng nghề Việt Nam, không nhiều nghề mới có thể hình thành, đứng vững và phát triển theo mô hình “cha truyền – con nối” qua nhiều thế hệ. Đặc biệt hơn, càng hiếm những nghề sáng tạo đương đại nhưng lại được xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển bền vững trên nền tảng gia tộc. Nghề kính nghệ thuật Vinhcoba là một trường hợp tiêu biểu như thế – một nghề mới của thời đại, song mang trong mình tinh thần truyền thống, kỷ luật nghề nghiệp và đạo lý gia phong, từng bước trở thành mô hình phát triển đáng chú ý của làng nghề Thủ đô Hà Nội.
Hương sắc mùa xuân về ở làng nghề Bắc Ninh

Hương sắc mùa xuân về ở làng nghề Bắc Ninh

LNV - Từ bánh đa nem Thổ Hà trắng ngà hong gió ven sông Cầu, đến lò gốm Phù Lãng đỏ lửa ngày đêm, mạch nghề truyền thống vẫn lặng lẽ chảy, nuôi dưỡng sinh kế, gìn giữ bản sắc và thắp lên sắc xuân ấm áp của vùng đất trăm nghề Bắc Ninh.
Gia Lai: Làng hoa Bình Lâm tất bật mùa vụ Tết

Gia Lai: Làng hoa Bình Lâm tất bật mùa vụ Tết

LNV - Trong hành trình vực dậy làng hoa Bình Lâm sau cơn bão số 13 và trận mưa lũ lịch sử năm 2025, người dân trồng hoa không đơn độc, bởi chính quyền địa phương kịp thời đồng hành, chia sẻ khó khăn bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, để làng hoa có vụ Tết trọn vẹn với cái Tết đủ đầy, an vui cho những người đã kiên cường bám đất, bám nghề trồng hoa.
Rộn ràng mùa cá chép đỏ làng Thủy Trầm trước Tết ông Công, ông Táo

Rộn ràng mùa cá chép đỏ làng Thủy Trầm trước Tết ông Công, ông Táo

LNV - Dù mới đầu tháng Chạp âm lịch, không khí vào vụ đã rộn ràng khắp làng Thủy Trầm (xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ). Trên những ao nuôi truyền thống, người dân tất bật chăm sóc cá chép đỏ, chuẩn bị cung ứng cho thị trường Tết ông Công, ông Táo – mùa vụ không chỉ mang lại sinh kế mà còn gìn giữ một nét đẹp văn hóa tâm linh lâu đời của làng quê.
Đỏ lửa xóm bánh tét Hội Gia ngày giáp Tết

Đỏ lửa xóm bánh tét Hội Gia ngày giáp Tết

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán, Làng nghề bánh tét Hội Gia (phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp) lại rộn ràng hơn bao giờ hết. Từ sáng sớm đến khuya, bếp lửa đỏ hồng, khói quyện hương nếp mới lan tỏa khắp xóm nhỏ, nơi mỗi đòn bánh tét ra lò không chỉ kịp đơn hàng cuối năm mà còn gói trọn hương vị Tết quê và ký ức nghề truyền thống hơn nửa thế kỷ.

Tin khác

Đại Đồng đổi mới nghề đúc đồng và nâng tầm làng nghề truyền thống

Đại Đồng đổi mới nghề đúc đồng và nâng tầm làng nghề truyền thống

LNV - Phát huy giá trị nghề đúc đồng truyền thống gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ và liên kết sản xuất, xã Đại Đồng (Hưng Yên) đã từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm đúc đồng trên thị trường. Sự đổi mới trong tư duy sản xuất, tiêu thụ không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo việc làm ổn định, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Làng nghề Hà Nội 2026: Bảo tồn truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn

Làng nghề Hà Nội 2026: Bảo tồn truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn

LNV - Hà Nội hiện là nơi có số lượng làng nghề và làng có nghề lớn nhất cả nước, với hệ thống làng nghề đa dạng, phong phú, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống và tạo việc làm cho người dân nông thôn. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế sâu rộng, việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển làng nghề đang được Hà Nội chú trọng bằng các chính sách mang tầm chiến lược, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.
Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên – Gìn giữ truyền thống, lan tỏa giá trị làng nghề Thủ đô

Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên – Gìn giữ truyền thống, lan tỏa giá trị làng nghề Thủ đô

LNV - Trong không khí phấn khởi chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Lễ khai mạc Lễ hội “Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên” đã được long trọng tổ chức tại phường Hồng Hà (Hà Nội). Sự kiện là hoạt động văn hóa – kinh tế tiêu biểu, góp phần tôn vinh giá trị truyền thống, quảng bá thương hiệu quất cảnh Tứ Liên – một làng nghề đặc trưng lâu đời của Thăng Long – Hà Nội.
Làng nghề cá khô Bình Thắng

Làng nghề cá khô Bình Thắng

LNV - Được hình thành từ nhu cầu bảo quản hải sản của ngư dân ven biển, làng nghề cá khô Bình Thắng không chỉ tạo việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn lưu giữ giá trị văn hóa truyền thống. Trước yêu cầu mới của thị trường, địa phương đang từng bước hỗ trợ các cơ sở nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra cho sản phẩm cá khô.
Mở đường cho làng nghề Hà Nội vươn xa

Mở đường cho làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Hà Nội là địa phương có số lượng làng nghề và làng có nghề thuộc nhóm lớn nhất cả nước, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và gìn giữ bản sắc văn hóa Thủ đô. Trong bối cảnh khu vực làng nghề vẫn đối mặt nhiều khó khăn,Nghị quyết 49 được kỳ vọng sẽ tạo cú hích chính sách mạnh mẽ, hiện thực hóa các định hướng của Luật Thủ đô sửa đổi, mở ra dư địa phát triển bền vững cho làng nghề và ngành nghề nông thôn.
Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

LNV - Những ngày giáp Tết Nguyên đán, làng nghề bánh đa Dụ Đại (xã Quỳnh An) rộn ràng tiếng máy, đỏ lửa suốt ngày đêm để kịp phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, vừa giữ gìn hương vị truyền thống từ hạt gạo quê, vừa tạo sinh kế bền vững cho hàng trăm lao động nông thôn.
Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

LNV - UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc. Quy hoạch nhằm bảo tồn không gian làng nghề truyền thống, phát huy giá trị văn hóa lịch sử của nghề dệt lụa, đồng thời tạo nền tảng phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống người dân địa phương.
Gốm Ngọc Phù Lãng:  Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

Gốm Ngọc Phù Lãng: Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

LNV - Từ nguồn đất đỏ quý của vùng Cung Kiệm, qua bàn tay sáng tạo của thế hệ nghệ nhân trẻ, cơ sở Gốm Ngọc Phù Lãng (Bắc Ninh) đang thổi một diện mạo mới cho gốm truyền thống Kinh Bắc. Đón Tết cổ truyền 2026, đơn vị đã ra mắt linh vật “Ngựa hoan hỉ” cùng nhiều dòng sản phẩm sinh thái, kết hợp giữa tinh hoa thủ công và triết lý văn hóa Việt.
Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

LNV - Giữa làn sóng đô thị hóa và sự cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường hiện đại, nghề gốm truyền thống vẫn âm thầm tồn tại và chuyển mình nhờ những người trẻ dám dấn thân, dám đổi mới và kiên trì với giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Trong số đó, hành trình của họa sĩ thiết kế Hải Gốm – Nguyễn Văn Hải, người sáng lập thương hiệu Hceramic, là một lát cắt sinh động về cách thế hệ trẻ đang viết tiếp câu chuyện làng nghề bằng tinh thần sáng tạo, khoa học và trách nhiệm xã hội.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

LNV - Năm 2025, danh hiệu Nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng cho Nguyễn Tấn Phát đã để lại nhiều xúc động trong giới thủ công mỹ nghệ. Không chỉ bởi những cống hiến bền bỉ với nghề sơn mài, mà còn bởi anh là nghệ nhân ưu tú trẻ nhất được vinh danh trong đợt phong tặng này – một dấu mốc cho thấy sự tiếp nối đầy triển vọng của các làng nghề truyền thống Việt Nam.
“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

LNV - Hà Nội đang đẩy mạnh “xanh hóa” các làng nghề truyền thống thông qua quy hoạch đồng bộ, ứng dụng công nghệ sạch, hoàn thiện chính sách và nâng cao ý thức cộng đồng.
Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

LNV - Làng nghề sản xuất bánh tráng, nước mắm, mộc mỹ nghệ rộn ràng đón Tết, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người dân.
Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

LNV - Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới nay thuộc xã Chợ Lách (tỉnh Vĩnh Long), vào những ngày này, nhiều luống hoa mới hé nở, khoe điểm sắc vàng lấm tấm khiến nhà vườn càng nôn nao, khấp khởi đón chờ vụ hoa cúc Tết.
Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

LNV - Làng nghề đường phèn ở Ba La - Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng.
Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

LNV - Làng nghề hoa giấy Phù Đổng bắt đầu từ những năm 2010, khi xã được chọn là địa phương điểm xây dựng nông thôn mới. Nhận thấy tiềm năng của đất đai và khí hậu, người dân Phù Đổng đã chọn hoa giấy làm cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, con đường phát triển của làng nghề không hề bằng phẳng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Sự kiện Đường hoa TP. HCM năm đầu tiên sau sáp nhập có gì?

Sự kiện Đường hoa TP. HCM năm đầu tiên sau sáp nhập có gì?

LNV – Sau hơn hai thập kỷ trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu của người dân, sự kiện Đường hoa xuân thường niên tại TP. HCM nay đã khoác lên mình một
"Thủ phủ" hoa Xuân Quan nhộn nhịp vào dịp cận Tết

"Thủ phủ" hoa Xuân Quan nhộn nhịp vào dịp cận Tết

LNV - Những ngày cận Tết, xã Xuân Quan (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) – được mệnh danh là một trong những “thủ phủ hoa” của miền Bắc đang khoác lên mình diện mạo rực rỡ và nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Dọc các tuyến đường liên xã, liên thôn, dòng người và
Vườn hoa An Cơ bừng sắc giữa vùng đất nắng gió

Vườn hoa An Cơ bừng sắc giữa vùng đất nắng gió

LNV - Những ngày cuối năm, vườn hoa An Cơ (tỉnh Tây Ninh) rực rỡ sắc màu, nhộn nhịp người ra vào. Trên những luống hoa thẳng tắp, cúc mâm xôi, vạn thọ, mào gà, dạ yến thảo… đồng loạt bung nở, tạo nên bức tranh xuân tươi mới giữa vùng đất nắng gió miền Đôn
Khuyến công tạo động lực đổi mới cho công nghiệp nông thôn

Khuyến công tạo động lực đổi mới cho công nghiệp nông thôn

LNV - Giai đoạn 2021 – 2025, chương trình khuyến công đã hỗ trợ mạnh mẽ các cơ sở công nghiệp nông thôn Đắk Lắk đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước mở rộng thị trường. Bước sang giai đoạn 2026 – 2030, khuyến công được kỳ vọng tiếp
Quảng Ninh đầu tư mạnh cho làng nghề, thúc đẩy kinh tế xanh gắn với du lịch văn hóa

Quảng Ninh đầu tư mạnh cho làng nghề, thúc đẩy kinh tế xanh gắn với du lịch văn hóa

LNV - UBND tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt Đề án phát triển các làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026–2030 với tổng kinh phí 124,5 tỷ đồng. Đề án hướng tới bảo tồn, phát huy giá trị di sản làng nghề, hình thành các mô hình du
Giao diện di động