Hà Nội: 25°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

LNV - Cách xa phố thị sầm uất, làng chài Tam Tiến (thôn Hà Lộc, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) đang có những chuyển biến trong cách nghĩ, cách làm kinh tế biển của người dân. Từ những bỡ ngỡ ban đầu, người dân nơi đây ngày càng tự tin phát triển du lịch, mở thêm sinh kế ngay trên bãi biển quê hương.
Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

LNV - Đến tổ dân phố Đông Hồ - Thuận thành - Bắc Ninh, hỏi ông Phùng Đình Giáp thì bất cứ ai cũng đều biết, bởi lẽ đơn giản: ông là người cuối cùng ở xứ Kinh Bắc còn theo nghề nặn Phỗng đất – Món đồ chơi Trung Thu truyền thống xưa và nay.
Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

LNV - Ứng dụng công nghệ giúp nâng cao chất lượng, quản lý và xây dựng niềm tin người tiêu dùng, đưa sản phẩm làng nghề ra thị trường quốc tế.
Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026:

Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026: 'Dòng chảy di sản - Heritage Flow'

LNV - Tối 11/9, tại không gian thiêng liêng của Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa thế giới, TP. Hà Nội tổ chức khai mạc Chương trình Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow".
Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh  Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

LVN - Bưởi Phúc Trạch là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng gắn liền với vùng đất Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

LNV - Cơn lốc công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt vô số làng nghề cổ truyền trước bài toán sinh tồn gay gắt về thị trường, chi phí và sự suy giảm lực lượng lao động.

Tin khác

Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

LNV - Lào Cai tiếp tục chính sách hỗ trợ nghệ nhân, xây dựng câu lạc bộ và nhóm thực hành để giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong cộng đồng.
Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

LNV - Sáng mùng 5 tháng 9, khi tiếng trống khai trường vang lên trên đảo Cát Hải, thì ở sân chượp cách đó mấy trăm mét, những chiếc nắp thùng vẫn được mở ra đón nắng, đúng như bảy mươi năm nay vẫn thế. Hai nhịp thời gian ấy, một năm học và một mẻ mắm, hóa ra cùng đặt ra một câu hỏi: Chúng ta đang chuẩn bị điều gì và cho ai?
Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

LNV - Từng có thời gian những bãi dâu thưa dần, tiếng máy dệt cũng không còn rộn ràng như trước, nghề ươm tơ, dệt lụa ở Phùng Xá đứng trước nguy cơ mai một. Giữa những đổi thay ấy, Nghệ nhân Ưu tú Phan Thị Thuận vẫn lựa chọn gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ những kỹ thuật được trao truyền qua nhiều thế hệ, bà còn không ngừng tìm cách làm mới nghề truyền thống bằng những sáng tạo đặc biệt: để con tằm tự dệt nên những tấm tơ, đưa sợi tơ từ thân sen lên khung cửi và từng bước chuẩn hóa, nâng tầm sản phẩm. Hành trình ấy đã góp phần đưa sản phẩm chăn tơ tằm tự dệt của cơ sở bà Thuận trở thành sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, khẳng định giá trị mới cho nghề tơ lụa Phùng Xá.
Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

LNV - Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã Đại Xuyên (Hà Nội) đang từng bước tạo nên diện mạo mới, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, nông nghiệp chuyển dịch theo hướng xanh, hiện đại; sản phẩm OCOP dần khẳng định thương hiệu.
Từ Tokyo mở rộng cánh cửa xuất khẩu cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

Từ Tokyo mở rộng cánh cửa xuất khẩu cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

LNV - Đoàn Hà Nội đang tham gia Tokyo International Gift Show 2026 tại Tokyo (Nhật Bản), mang theo những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng của Thủ đô, đồng thời chủ động tìm kiếm nhà nhập khẩu, nắm bắt thị hiếu thị trường và mở rộng quan hệ thương mại. Tham gia đoàn có đại diện lãnh đạo Sở Công Thương Hà Nội cùng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có tiềm năng xuất khẩu. Đưa tinh hoa làng nghề đến thị trường quốc tế
Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

LNV - Trong dòng chảy lịch sử và văn hóa Việt Nam, các làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, mà còn là không gian lưu giữ ký ức cộng đồng, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa vùng miền. Mỗi làng nghề đều mang trong mình câu chuyện về con người, thiên nhiên và tinh thần sáng tạo, góp phần tạo nên sức sống bền bỉ cho văn hóa Việt. Liên quan tới chủ đề này, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có những chia sẻ sâu sắc với Tạp chí điện tử Làng nghề Việt Nam
Đèn lồng chim Uyên Ương Làng nghề Sinh Dược

Đèn lồng chim Uyên Ương Làng nghề Sinh Dược

LNV - Phát huy tiềm năng, lợi thế về tài nguyên bản địa, Hợp tác xã Sinh Dược (xã Gia Sinh cũ nay là phường Tây Hoa Lư) đã từng bước khẳng định hiệu quả của mô hình kinh tế tập thể gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống. Không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp địa phương, hợp tác xã còn tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Làng nghề truyền thống Vĩnh Long Nét văn hoá sông nước Nam Bộ

Làng nghề truyền thống Vĩnh Long Nét văn hoá sông nước Nam Bộ

LNV - Vĩnh Long, vùng đất trù phú bên dòng sông Cửu Long, không chỉ nổi tiếng với miệt vườn trái cây sum suê mà còn hấp dẫn du khách bởi những làng nghề truyền thống độc đáo. Nơi đây nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước Nam Bộ
Vượt khỏi lũy tre làng: Nâng tầm nhận thức, kiến tạo thương hiệu cá nhân

Vượt khỏi lũy tre làng: Nâng tầm nhận thức, kiến tạo thương hiệu cá nhân

LNV - Làng nghề không chỉ là nơi lưu giữ kỹ nghệ truyền thống. Đó còn là một hệ sinh thái kinh tế – văn hóa, nơi mỗi nghệ nhân vừa là người giữ nghề, vừa là người tạo ra giá trị và ngày càng trở thành một chủ thể tích cực trên thị trường. Muốn đi xa hơn, những người thợ tài hoa hôm nay cần vượt qua giới hạn của “lũy tre làng”, mở rộng nhận thức, tham gia vào các diễn đàn chính sách, các hoạt động xúc tiến thương mại và từng bước kiến tạo thương hiệu cho chính mình.
Làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng  Hội tụ tinh hoa, vươn mình trong thời đại số

Làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng Hội tụ tinh hoa, vươn mình trong thời đại số

LNV - Nằm cách trung tâm Hà Nội hơn 10km, làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng (Hà Nội) không chỉ là nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa lâu đời mà còn là điểm tựa sinh kế vững chắc cho hàng nghìn lao động địa phương. Trên hành trình phát triển, Hội làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng đã trở thành "hạt nhân" kết nối các nghệ nhân, xây dựng thương hiệu tập thể và tạo bệ phóng giúp sản phẩm truyền thống vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số hóa.
Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

LNV - Không chỉ được biết đến là một nhà thiết kế áo dài giàu tâm huyết, Nghệ nhân Ưu tú – Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam, Nhà thiết kế Lan Hương còn là người bền bỉ trên hành trình đưa văn hóa truyền thống, chất liệu dân gian và tinh hoa nghề thủ công vào đời sống đương đại. Qua mỗi tà áo dài, chị góp phần kể những câu chuyện về đất nước, con người Việt Nam, đồng thời mở ra những hướng đi mới trong bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống.
Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc làng nghề gắn với đổi mới sản phẩm

Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc làng nghề gắn với đổi mới sản phẩm

LNV - Từ lâu, vùng đất Kinh Bắc đã nổi danh là thủ phủ của những làng nghề thủ công mỹ nghệ và ẩm thực truyền thống mang đậm nét văn hóa dân gian. Những cái tên như tranh Đông Hồ, đồ gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, tre trúc Xuân Lai, mỳ Thủ Dương, rượu làng Vân hay bún bánh Đa Mai… không chỉ đóng vai trò là động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn mà còn là nơi lưu giữ “linh hồn” di sản qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trước làn sóng công nghiệp hóa và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, bài toán giữ nghề truyền thống đang đặt ra nhiều thách thức cấp thiết, đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ từ hạ tầng, môi trường cho đến tư duy sản xuất.
Cần Thơ : Làng nghề truyền thống, góp phần xây dựng nông thôn mới

Cần Thơ : Làng nghề truyền thống, góp phần xây dựng nông thôn mới

LNV - Làng nghề đa dạng tại Cần Thơ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, đồng thời phát huy giá trị văn hóa địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng thành công tốt đẹp

Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng thành công tốt đẹp

LNV - Trong 02 ngày 21-22/8/2026, được sự nhất trí của Trung ương Hiệp hội Làng nghề Việt Nam; sự nhất trí của Đảng ủy, HĐND - UBND xã Sơn Đồng, Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng - Thành phố Hà Nội long trọng tổ chức Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng - Thành phố Hà Nội lần thứ I (nhiệm kỳ 2026 - 2031) thành công tốt đẹp. Địa điểm tổ chức tại Hội trường UBND xã Sơn Đồng (cũ), thôn Nội, xã Sơn Đồng, Thành phố Hà Nội.
Làng nghề truyền thống, giữ sinh kế bền vững ở Cao Bằng

Làng nghề truyền thống, giữ sinh kế bền vững ở Cao Bằng

LNV - Nghề thủ công tại Cao Bằng phát triển bền vững qua chuẩn hóa sản phẩm, du lịch trải nghiệm và thương mại điện tử, nâng cao đời sống cộng đồng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thanh Hóa: Chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và các đợt mưa lớn

Thanh Hóa: Chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và các đợt mưa lớn

LNV – UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Công điện số 05/CĐ-UBND về việc về việc tập trung ứng phó với áp thấp nhiệt đới và đợt mưa lớn trên địa bàn tỉnh trong những ngày tới.
Dũng Đào Quán: Địa chỉ ẩm thực quen thuộc tại Tam Nông

Dũng Đào Quán: Địa chỉ ẩm thực quen thuộc tại Tam Nông

LNV - Nằm trên trục đường liên xã Tam Nông - Đào Xá, Dũng Đào Quán tại thôn 10, xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ là địa chỉ ăn uống quen thuộc của nhiều người dân địa phương và khách qua đường. Sau khoảng 8 năm hoạt động, nhà hàng từng bước tạo dựng được lượng k
Hà Nội tạo chuyển biến rõ nét trong kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm

Hà Nội tạo chuyển biến rõ nét trong kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm

LNV - Từ một địa bàn có hàng trăm điểm giết mổ nhỏ lẻ, phân tán, Hà Nội đang từng bước tổ chức lại hoạt động giết mổ theo hướng tập trung, có kiểm soát. Đến ngày 9/9/2026, Thành phố đã chỉ đạo chấm dứt hoạt động của các hộ giết mổ nhỏ lẻ, duy trì 71 cơ sở
Khai mạc “Lưu trăng phố cổ 2026” - trao truyền tình yêu văn hóa qua những mùa trăng.

Khai mạc “Lưu trăng phố cổ 2026” - trao truyền tình yêu văn hóa qua những mùa trăng.

Chiều 11/9, tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội (50 Đào Duy Từ), Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội khai mạc Chuỗi hoạt động văn hóa Tết Trung thu truyền thống “Lưu trăng phố cổ 2026”, nhằm bảo tồn, trao truyền và lan tỏa các giá trị văn hóa Trung thu trong đời sống hiện đại.
Khám phá chương trình "Nét Kinh kỳ" tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Khám phá chương trình "Nét Kinh kỳ" tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, từ ngày 12 – 19/9/2026, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức chương trình “Nét Kinh kỳ”. Lấy cảm hứng từ hình ảnh phố phường, phố nghề và đời sống Thăng Long xưa, chương trình giới thiệu tới công chúng những hình ảnh, tư liệu về 36 phố phường Hà Nội, đồng thời kết nối với các hoạt động trải nghiệm nghề truyền thống, qua đó gợi mở câu chuyện về một Hà Nội vừa giàu chiều sâu lịch sử, vừa luôn vận động và tiếp nối trong đời sống hôm nay.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động