Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Phú Nghĩa: Làng nghề mây tre đan Phú Vinh đón đoàn Hội đồng Thủ công Thế Giới tới thăm và làm việc

Phú Nghĩa: Làng nghề mây tre đan Phú Vinh đón đoàn Hội đồng Thủ công Thế Giới tới thăm và làm việc

LNV - Chiều ngày 9/5/2026, Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới cùng đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã tới thăm, khảo sát thực tế và làm việc tại làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng nhằm quảng bá, kết nối và đưa các giá trị thủ công truyền thống của địa phương vươn tầm quốc tế.
Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới tham quan làng nghề áo dài truyền thống Trạch Xá

Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới tham quan làng nghề áo dài truyền thống Trạch Xá

LNV - Chiều 10/5, Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới cùng đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tới tham quan làng nghề may áo dài truyền thống thôn Trạch Xá, xã Ứng Hòa.
Khôi phục và phát triển làng gốm Phù Lãng: Giữ hồn đất, giữ lửa nghề trong thời đại mới

Khôi phục và phát triển làng gốm Phù Lãng: Giữ hồn đất, giữ lửa nghề trong thời đại mới

LNV - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Lộc biển

Lộc biển

LVN - Những ngày này, vùng biển Đồ Sơn bước vào chính vụ sứa. Từ sáng sớm, khu vực cảng cá Ngọc Hải rộn ràng tiếng máy nổ, tiếng gọi nhau í ới của ngư dân sau mỗi chuyến ra khơi. Không cần đi xa, chỉ quanh vùng nước gần bờ, những chiếc bè, mảng nhỏ vẫn đều đặn mang về từng mẻ sứa, thứ “lộc biển” ngắn ngày nhưng đủ sức nuôi sống nhiều gia đình ven biển.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

LVN - Ngày 28/4/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức cuộc họp Thường vụ nhằm tổng kết công tác 4 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 5, 6 năm 2026. Cuộc họp do ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội, Hội đồng Tư vấn và Văn phòng.
Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới” của hai làng nghề Sơn Đồng và Chuyên Mỹ

Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới” của hai làng nghề Sơn Đồng và Chuyên Mỹ

LNV - Tối 8-5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn và tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.

Tin khác

Hà Nội đón thêm 2 làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội đón thêm 2 làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Tối 8/5, tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Ba Đình, Hà Nội), UBND TP Hà Nội tổ chức lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của Mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới. Sự kiện diễn ra từ ngày 8 đến 10/5, gắn với hoạt động trưng bày, trình diễn và tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
Giữ lửa nghề mứt gừng truyền thống ở Mỹ Chánh

Giữ lửa nghề mứt gừng truyền thống ở Mỹ Chánh

LNV - Những ngày giáp Tết, thôn Mỹ Chánh, xã Nam Hải Lăng lại rộn ràng vào mùa làm mứt gừng truyền thống. Khắp xóm làng, những bếp than đỏ lửa suốt ngày đêm, hương gừng cay nồng hòa quyện trong không khí như báo hiệu mùa xuân đang cận kề.
Người giữ “hồn” tò he Phú Xuyên

Người giữ “hồn” tò he Phú Xuyên

LNV - Hơn 20 năm gắn bó với những nắm bột đầy sắc màu, anh Đặng Văn Hậu (sinh năm 1985, làng Phượng Dực, xã Phượng Dực, thành phố Hà Nội) không chỉ là một nghệ nhân làm tò he, mà còn là người kiên trì gìn giữ và thổi sức sống mới cho một loại hình nghệ thuật dân gian đang đứng trước nhiều thách thức. Với anh, “truyền thống không chỉ là quá khứ, mà còn là tương lai”.
Giữ bản sắc người Hà Nội: Nối dài dòng chảy ngàn năm

Giữ bản sắc người Hà Nội: Nối dài dòng chảy ngàn năm

LNV - Phát triển văn hóa chính là phát triển con người, và ngược lại, con người là nền tảng để bồi đắp, lan tỏa các giá trị văn hóa. Vì vậy, gìn giữ bản sắc người Hà Nội cũng chính là cách tiếp nối dòng chảy văn hiến ngàn năm, để văn hóa trở thành “nguồn lực mềm”, góp phần khẳng định vị thế và bản sắc riêng của Thủ đô trong khu vực và trên thế giới.
Gia Lai: Độc đáo Lễ cúng mừng nhà Rông mới của người Jrai tại làng Ơp

Gia Lai: Độc đáo Lễ cúng mừng nhà Rông mới của người Jrai tại làng Ơp

LNV - Lễ cúng mừng nhà Rông mới có ý nghĩa cảm tạ thần linh đã luôn giúp đỡ dân làng. Đồng thời cầu mong khi về nhà rông mới, thần sẽ tiếp tục phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, bình an.
Người Vĩnh Chánh bền bỉ giữ nghề bó chổi cọng dừa

Người Vĩnh Chánh bền bỉ giữ nghề bó chổi cọng dừa

LNV - Suốt hơn 30 năm qua, làng nghề bó chổi cọng dừa Vĩnh Chánh (xã Phú Hòa, tỉnh An Giang) vẫn bền bỉ giữ gìn phương thức sản xuất truyền thống, không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn tạo sinh kế ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Kết nối du lịch làng nghề Đà Nẵng: Từ tiềm năng đến chuỗi giá trị trải nghiệm

Kết nối du lịch làng nghề Đà Nẵng: Từ tiềm năng đến chuỗi giá trị trải nghiệm

LNV - Được xem là loại hình du lịch giàu trải nghiệm gắn với văn hóa bản địa, du lịch làng nghề đang dần trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của Đà Nẵng. Trong bối cảnh không gian đô thị ngày càng mở rộng và kết nối thuận lợi hơn, việc khai thác hiệu quả các làng nghề được kỳ vọng sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến.
Gốm Thanh Hà: Kết tinh của tâm huyết, tình yêu và hành trình gìn giữ nghề truyền thống

Gốm Thanh Hà: Kết tinh của tâm huyết, tình yêu và hành trình gìn giữ nghề truyền thống

LNV - Nằm nép mình bên dòng sông Thu Bồn hiền hòa, làng gốm Thanh Hà (Hội An) không chỉ là một làng nghề truyền thống mà còn là nơi lưu giữ linh hồn văn hóa của xứ Quảng. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, từng sản phẩm gốm nơi đây vẫn mang theo hơi thở của đất, của con người và của một tình yêu nghề bền bỉ qua bao thế hệ.
Nghệ nhân làng nghề: Mong “đãi ngộ xứng đáng” để giữ lửa nghề

Nghệ nhân làng nghề: Mong “đãi ngộ xứng đáng” để giữ lửa nghề

LNV - Trong căn xưởng nhỏ ở làng Chuyên Mỹ (Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Xuân Dũng vẫn miệt mài khảm ốc xà cừ từng chi tiết trên bức tranh chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với ông, mỗi sản phẩm không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là cách giữ gìn ký ức và hồn cốt của nghề truyền thống. Nhưng phía sau những tác phẩm tinh xảo ấy, không ít nghệ nhân vẫn đang đối mặt với bài toán mưu sinh.
Định giá lại thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Khi di sản trở thành giá trị toàn cầu

Định giá lại thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Khi di sản trở thành giá trị toàn cầu

LNV - Một chiếc khăn thổ cẩm có thể chỉ được bán với giá vài chục nghìn đồng trong nước, nhưng khi bước ra thị trường quốc tế, giá trị của nó có thể lên tới hàng trăm USD. Khoảng cách ấy không nằm ở chi phí nguyên liệu hay công sức, mà được tạo nên từ câu chuyện văn hóa và thông điệp bền vững mà sản phẩm mang theo. Với hàng nghìn làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang sở hữu một “mỏ vàng” nhưng chưa được khai thác đúng mức.
Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn (Hà Nội)

Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn (Hà Nội)

LNV- Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 756/QĐ-TTg ngày 28/4/2026 phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn, xã Hát Môn, thành phố Hà Nội.
Điện Biên chú trọng phát triển nghề, làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Điện Biên chú trọng phát triển nghề, làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

LNV - Tỉnh Điện Biên hiện có 44 nghề và làng nghề truyền thống, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa của các dân tộc và giá trị văn hóa bản địa đặc trưng. Nhằm duy trì và phát triển các nghề này, đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể sống được bằng nghề và gắn bó lâu dài, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp như hỗ trợ bảo tồn, phục dựng cũng như công nhận các nghề, làng nghề truyền thống.
Trát Cầu - nơi nhịp trống hội hòa cùng nhịp thở của làng nghề

Trát Cầu - nơi nhịp trống hội hòa cùng nhịp thở của làng nghề

Mỗi độ tháng Ba âm lịch, khi tiết xuân còn vương trên những triền sông Nhuệ, làng Trát Cầu lại thức dậy trong một nhịp điệu rất riêng. Đó là nhịp trống hội vang lên từ Đền làng, hòa cùng tiếng máy may, máy chần bông rộn ràng trong từng xưởng nhỏ. Một không gian vừa linh thiêng, vừa đời thường - nơi truyền thống và hiện đại cùng song hành trong một mạch chảy không ngừng.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

LNV - Ngày 28/4/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức cuộc họp Thường vụ nhằm tổng kết công tác 4 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 5, 6 năm 2026. Cuộc họp do ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội, Hội đồng Tư vấn và Văn phòng.
Làng Xuân Trạch văn hiến tiên phong trong số hóa di sản

Làng Xuân Trạch văn hiến tiên phong trong số hóa di sản

LNV- Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, mỗi làng quê Việt Nam luôn là nơi kết tinh những giá trị văn hóa bền vững – từ truyền thống gia đình, dòng họ đến những ký ức cộng đồng được gìn giữ qua bao thế hệ. Xuân Trạch, mảnh đất giàu truyền thống, cũng đang lưu giữ trong mình một kho tàng di sản quý báu, từ đình làng, lễ hội, gia phả cho đến những câu chuyện đời thường đầy ý nghĩa.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Gia Lai: Quy Nhơn Đông tổ chức Lễ hội du lịch lần thứ I với nhiều hoạt động đặc sắc

Gia Lai: Quy Nhơn Đông tổ chức Lễ hội du lịch lần thứ I với nhiều hoạt động đặc sắc

LNV - Lễ hội du lịch phường Quy Nhơn Đông lần thứ I diễn ra từ ngày 29 – 30/5/206. Đây là sự kiện hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia Gia Lai 2026.
Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài tiếp tục giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam khóa XI

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài tiếp tục giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI

LNV - Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương,
Ảnh: Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI

Ảnh: Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI

LNV - Sáng 13/5, tại Trung tâm hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, tiến hành phiên bế mạc.
Gia Lai xếp thứ 16 cả nước về chỉ số cải cách hành chính năm 2025

Gia Lai xếp thứ 16 cả nước về chỉ số cải cách hành chính năm 2025

LNV - Theo kết quả công bố Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2025, tỉnh Gia Lai đứng thứ 16/34 tỉnh, thành trên cả nước với mức điểm đạt 90,2%.
Đại đoàn kết, sức mạnh nội sinh cho phát triển quốc gia

Đại đoàn kết, sức mạnh nội sinh cho phát triển quốc gia

LNV - Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI đã gợi mở một bước chuyển rất đáng chú ý trong nhận thức về đại đoàn kết toàn dân tộc
Giao diện di động