Nồi đất Trù Sơn trăm năm mộc mạc

LNV - Không tinh xảo, cầu kỳ, rực rỡ như gốm sứ Bát Tràng hay Phù Lãng, làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương, Nghệ An) mộc mạc như chính tên gọi.


Người dân Trù Sơn đến nay vẫn giữ nghề làm nồi đất và chỉ truyền cho phụ nữ.


Qua trăm năm, dụng cụ làm nghề trong tay người thợ vẫn chỉ một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, khoanh nứa mỏng.

Những trưa cháy lửa nung nồi

Quá trưa, trời xứ Nghệ nóng như thiêu, gia đình bà Nguyễn Thị Anh (xóm Trù Sơn, Đô Lương) đội nắng lần lượt xếp những chiếc nồi đất "sống" lên lò nung. Xung quanh đã chuẩn bị sẵn rơm rạ, những cành khô thuộc loại có dầu như thông, vọt, dành dành… và nổi lửa.

Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình làm nồi đất của làng nghề Trù Sơn. Tất cả người trong nhà được huy động để giữ cho lửa cháy liên tục.

Nhào nặn bằng mồ hôi, nung qua lửa cháy, đất nhọc nhằn nuôi người cơ cực. Giờ đây, những hàn vi đã thành quá vãng, người Trù Sơn vẫn đau đáu giữ tên làng nồi. Để trân quý di sản cha ông và không khỏi tự hào về duy nhất làng nghề nồi đất của xứ Nghệ đã bền bỉ qua thăng trầm.

Mồ hôi ướt đẫm, những gương mặt đỏ bừng và loang lổ vết nhọ, dù đã mặc quần áo dài và đeo khẩu trang che bớt sức nóng đốt bỏng da thịt.

"Nung nồi mất khoảng 4 - 5 tiếng đồng hồ, vì vậy chúng tôi thường bắt đầu vào buổi trưa, đến chiều tối là vừa xong. Nhưng không phải cứ cho chất đốt vào cứ thế nung, mà phải qua nhiều lần trở nồi, nên vô cùng vất vả và cực nhọc", bà Anh nói.

Đầu tiên, những chiếc nồi được xếp ngửa, cái nhỏ nằm trong cái to thành từng chồng, rồi đốt từ dưới lên để khói bao trùm toàn bộ lò nung. Sau khoảng 30 – 40 phút thì dừng lại, hạ nồi, đảo trên xuống dưới và nung tiếp cho đều.

Giai đoạn "hơ nồi" trên lâu công nhất, cho đến khi khói ám đen cả trong lẫn ngoài toàn bộ số nồi thì tắt lửa. Lúc này, những người thợ lấy rơm ướt quấn xung quanh làm lớp vỏ lò, dùng thanh sắt và tận dụng những chiếc nồi hỏng làm vật chèn cố định lại, bắt đầu đốt đợt hai. Cứ cháy hết lớp vỏ này lại bồi thêm lớp khác, bao giờ rơm tàn mà ngọn lửa vẫn bốc lên từ miệng nồi nghĩa là đã chín.

Mỗi lần nung như vậy gồm khoảng từ 250 - 300 chiếc nồi. Nhìn mẻ sản phẩm mới ra lò đã được xếp đặt cẩn thận ở góc nhà, bà Nguyễn Thị Anh hài lòng: "Hầu như không có cái nào nứt vỡ, ngày mai có thể gọi người đến nhập".

Rồi bà nói thêm, nghề này cực, các cụ ngày xưa từng bảo đây là nghề "bán xương nuôi thịt". Làng Trù Sơn chiếm ba phần đồi núi, đất đai cằn cỗi. Mỗi nhà chỉ được vài sào ruộng mà còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa mới có gạo ăn. Không làm thêm nghề phụ thì lấy gì để sống, nuôi con cái lúc nông nhàn, giáp hạt. Thế nên đời ông bà đến con cháu kế tục giữ nghề làm kế sinh nhai đến tận bây giờ.


Công đoạn nung nồi chín vô cùng vất vả, kéo dài từ 4 – 5 tiếng.


Nghề chỉ truyền cho phụ nữ

Chẳng ai nhớ làng nồi Trù Sơn chính xác có từ lúc nào, kể cả những người già cũng chỉ biết từ khi sinh ra, đã thấy ông bà, cha mẹ mình cần mẫn bên gánh đất sét.

Tương truyền, xưa kia nghề nồi đất vốn ở vùng Nghi Lộc (Nghệ An) nhưng chỉ truyền cho con dâu. Về sau, có cô con gái nhà nọ lấy chồng về làng Trù Sơn (Đô Lương), vất vả thiếu thốn nên được mẹ đẻ phá lệ, bí mật truyền nghề. Nhờ vậy bà con nơi đây cũng được học theo.

Lại có truyền thuyết cho rằng, chính công chúa con vua Trần đã dạy cho người dân Trù Sơn làm nồi đất để cuộc sống bớt cơ cực. Nhưng với xuất xứ nào, qua hàng trăm năm, đây là làng nồi duy nhất còn lại của xứ Nghệ.

Một điều thú vị là cho đến giờ, nghề nồi đất Trù Sơn vẫn chỉ truyền cho con gái. Lý do đơn giản vì phụ nữ khéo léo, cẩn thận, nhẹ nhàng hơn. Làm nồi đất, muốn nhanh cũng không được, phải từ từ, nhẫn nại, dùng lực không quá nhẹ cũng không quá mạnh, như vậy nồi mới tròn và có độ dày đều. Bà Nguyễn Thị Anh lại không học nghề từ mẹ mình.

"Mẹ là con gái làng khác, theo bố tôi về Trù Sơn nên không biết làm nồi đất. Tôi lớn lên tầm 8, 9 tuổi bắt đầu đi khắp làng bắt chước các bà, các o. Người dạy nghề chính cho tôi là cụ cố Hường – có tiếng nhất làng ngày xưa. Cụ cho tôi ngồi bên đống đất đã được nhào nhuyễn, bảo "cứ nặn cho quen tay, ra hình gì cũng được, rồi bà sửa cho", bà Anh kể.

Cứ đều đặn như vậy đến năm 14 – 15 tuổi, thì Nguyễn Thị Anh đã tự mình làm được trọn vẹn một cái nồi đất đạt chuẩn. Giờ cụ Hường đã về với tiên tổ, nhưng học trò của cụ cũng đã thành tay thợ lão luyện trong nghề.

Cũng vì phụ nữ là thợ chính, nên nhà nào sinh nhiều con trai lại rơi vào cảnh vất vả, thiếu người. Cụ Nguyễn Thị Hoản (87 tuổi, làng Thượng Giáp, xã Trù Sơn) có 6 người con trai, "không được mụn con gái nào", cụ chép miệng.

Chồng mất sớm, một mình cụ nuôi các con bằng mấy sào ruộng và những ngày còng lưng làm nồi. "Nhà họ đông người, làm được nhiều, đi bán khắp nơi. Còn tôi sức lực có hạn, làm được ít thì đến phiên mang ra chợ Trù ngồi bán, chờ thương lái đến nhập. Sau này, con trai lớn, có con dâu mới thêm người phụ giúp", cụ Hoản nhớ lại thuở còn cơ cực.

Ở làng nồi đất Trù Sơn, đàn ông, trai tráng chỉ đóng vai trò phụ việc. Nói là phụ nhưng toàn việc nặng. Đó là đi đào đất, kéo đất sét từ mạn Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) hoặc Sơn Thành (huyện Yên Thành) cách làng 8 – 10km.

Thuở trước, chưa có xe cộ, vai những người đàn ông làng nồi hằn vết chai sần của dây thừng kéo đất. Họ cũng là người dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ.

Là người đi gom lá, cành cây khô về làm củi đốt và cẩn thận xếp hàng trăm chiếc nồi để nung chín trong suốt nửa ngày. Và khi thành phẩm, họ sẽ xếp đủ loại nồi to nhỏ lên xe thồ, cơm đùm cơm nắm, rong ruổi đi bán khắp nơi vào Hà Tĩnh, Quảng Bình hay ra tận Thanh Hóa, Hà Nam.

"Mỗi chuyến đi kéo dài 1 – 2 tuần, bán cho đến khi hết nồi hoặc nếu còn ít thì gửi lại cho các nhà buôn rồi quay về làng, tiếp tục chuẩn bị cho mẻ mới. Tôi cũng từng thồ nồi đất đi bán, nhưng chỉ xuống đến thành phố Vinh rồi quay về vì nhà không có người làm", ông Nguyễn Đình Thảo (xóm 10, xã Trù Sơn) kể lại.

Làng nồi đất Trù Sơn nay còn thành điểm du lịch trải nghiệm cho học sinh.

Thăng trầm làng nghề truyền thống

Bà Nguyễn Thị Hảo (SN 1950, xóm Lưu Mỹ) vẫn không quên những ngày vất vả nhưng cũng hưng thịnh nhất của làng nồi đất Trù Sơn khoảng 20 năm về trước. Khắp xã nhà nào cũng làm nghề. Đầu làng đến cuối làng, những chiếc lò nung luân phiên nổi lửa.

Khói Khói rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.

Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính. rơm rạ, lá thông, cành cây khô của nhiều năm tháng, nhiều đời người đất phủ lên thâm trầm mái ngói làng nồi, hằn lên nước da đen sạm và lưng áo bạc phếch chẳng biết bởi mồ hôi hay màu đất.
Xã Trù Sơn có khoảng 60 hộ làm nghề gốm, tập trung chủ yếu ở các xóm 10, 11, 12, 13, trước gọi là làng Lưu Mỹ và Thượng Giáp. Mỗi tháng, làng nghề làm ra hàng chục nghìn sản phẩm, cao điểm nhất là vào 3 tháng cuối năm.

Hiện chính quyền địa phương cũng khuyến khích các hộ dân duy trì, phát triển làng nghề nồi đất như một ngành kinh tế đặc biệt. Trong đó, tổ chức các cuộc giao lưu, giới thiệu sản phẩm với địa phương khác, hướng đến hoạt động du lịch trải nghiệm - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn Nguyễn Thụy Chính.

Năm tháng qua đi, thời thế thay đổi, lớp trẻ được học hành, rời quê đi khắp Nam ngoài Bắc. Nghề nồi đất chỉ còn dành cho người từ tuổi trung niên. Nhiều nhà lò nung tắt lửa, nguội khói bỏ không. Gia đình bà Nguyễn Thị Hảo cũng không làm nồi đất từ mấy năm trước.

"Ông nhà sức yếu, con cái đi làm ăn xa, một mình tôi không làm được. Nhưng nhớ nghề, rảnh rỗi, tôi lại đi nặn nồi thuê cho các gia đình khác trong làng. Xưa còn trẻ thì ngày làm được 15 cái nồi, nay già rồi chỉ được hơn chục cái thôi", bà Hảo nói.

Đôi tay của bà Hảo đầy vết chai sần của hơn 50 năm nhẫn nại theo nghề, thuần thục nắm đất thành hình con chạch rồi xoay nặn, tì miết tạo hình.

Dụng cụ làm nghề của người thợ chỉ có một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Loáng cái, chiếc nồi đất hiện ra, chục cái tròn đều như một dù hoàn toàn thủ công. Bà cẩn thận đặt qua một bên, chờ hong khô, gọt trơn nhẵn rồi mới đem phơi, khi nồi chuyển sang màu trắng bạc mới có thể cho vào lò.

Nồi đất làng Trù Sơn không cầu kỳ nhiều hình dáng, chỉ đơn giản gồm: Nồi nấu cơm, đồ xôi, ngâm giá đỗ, kho cá, sắc thuốc… với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Nay có thêm chậu hoa, ống đựng tiền tiết kiệm nhưng số lượng ít.

Cũng vì làm thủ công, không pha trộn nguyên liệu nên nồi đất làng Trù Sơn vẫn mộc mạc với màu vàng đỏ, mỏng nhẹ, độ bền cao, giữ nguyên hương vị thức ăn khi nấu. Có lẽ, tính thông dụng đã làm nên sức sống bền bỉ của nồi đất xứ Nghệ.

Theo người dân Trù Sơn, hiện nay, nhu cầu dùng nồi đất vẫn cao, đặc biệt là các nhà hàng, khách sạn thường chủ động liên hệ đặt mua với số lượng lớn. Giá bán từ 8 – 15 nghìn đồng/nồi tùy kích cỡ to nhỏ.

Giữa ngày mùa bận rộn, chị Nguyễn Thị Tâm (làng Thượng Giáp) vẫn tranh thủ làm những chiếc nồi với đường kính khoảng 20cm theo đơn đặt hàng. Ngoài 40 tuổi, nhưng chị được xem là thợ trẻ của làng nồi Trù Sơn.

Nhờ có chồng hỗ trợ nên cứ khoảng 10 ngày gia đình chị lại đốt lò nung một mẻ. Thỉnh thoảng, cậu con trai đang học đại học ở TP Vinh về phụ giúp mẹ nhào đất. Còn 2 cô con gái không theo nghề mẹ nữa.

Quá trình nồi đất bây giờ đã đỡ vất vả hơn ở khâu lấy nguyên vật liệu, chất đốt, bà con có thể mua và thuê người chở về tận nhà. Nhưng những công đoạn cơ bản vẫn không thể rút gọn hoặc công nghiệp hóa được, từ nhào đất, nặn nồi, phơi, nung chín… Vì vậy, dù sản phẩm không thiếu đầu ra, nhưng lớp trẻ ít ai chọn ở lại với nghề truyền thống, mà tìm công việc khác nhẹ nhàng hơn.

"Chỉ có những người làm nông như chúng tôi, không có nghề phụ nào khác thì tiếp tục làm nồi đất kiếm thêm thu nhập. Hơn nữa, gắn bó từ thuở cha sinh mẹ đẻ, để lò bếp nguội cũng day dứt", chị Nguyễn Thị Tâm chia sẻ.

Qua thăng trầm, người dân Trù Sơn vẫn gắn bó và giữ nghề truyền thống. Cái nghề thủ công nhọc nhằn không thể sản xuất bởi một người, mà là công sức của cả gia đình, làng xã tương hỗ. Chính vì vậy, mà trăm năm trước hay về sau này, nơi đây không có nghệ nhân được nhắc đến riêng biệt, mà tất cả nằm chung trong tên gọi đơn giản - làng nồi đất Trù Sơn.

Theo GiaoDucThoiDai​

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

LNV - Ban Tổ chức Hội thi “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam tốt nhất” năm 2026 đề nghị các tỉnh, thành phố lựa chọn, hỗ trợ những điểm đến tiêu biểu hoàn thiện hồ sơ tham gia Hội thi. Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 hồ sơ, thời hạn nộp trước ngày 15/10/2026.
Để người trẻ kể tiếp câu chuyện làng nghề

Để người trẻ kể tiếp câu chuyện làng nghề

LNV - Không chỉ thi kéo đũi, đánh ống, học sinh và thanh thiếu niên xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên còn được làm video, xây dựng ý tưởng du lịch và trực tiếp kể câu chuyện về những làng nghề của quê hương. Hội thi “Yêu làng nghề quê em” đang mở ra một cách tiếp cận mới trong gìn giữ nghề truyền thống: để thế hệ trẻ hiểu nghề, trải nghiệm nghề và trở thành người tiếp tục lan tỏa giá trị của làng nghề.
Hà Nội: Thượng Phúc phát triển làng nghề qua chuyển đổi số

Hà Nội: Thượng Phúc phát triển làng nghề qua chuyển đổi số

LNV - Xã Thượng Phúc đưa di sản Chùa Đậu và tinh hoa thêu Cổ Chất 400 năm tuổi lên môi trường số. Việc kết hợp tri thức dân gian với công nghệ giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy kinh tế số gắn liền bảo tồn di sản.

Tin khác

Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

LNV - Từ những chiếc giỏ tre, khay nứa được làm thủ công ở Thọ Đơn đến những chiếc nón lá được chằm tỉ mỉ ở Tri Lễ, nhiều làng nghề truyền thống đang từng bước tìm đường lên không gian số. Website, mã QR, thư viện số, mạng xã hội, video ngắn hay livestream không làm thay đôi bàn tay người thợ, nhưng đang trở thành cầu nối mới để sản phẩm đến gần hơn với thị trường, đồng thời giúp những câu chuyện nghề được lưu giữ và lan tỏa.
Nghề làm lồng đèn truyền thống  giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

Nghề làm lồng đèn truyền thống giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

LNV - Gần đến rằm Trung thu, một số con hẻm của xóm Phú Bình (phường Hòa Bình, TPHCM) trở nên sôi động, bắt mắt với những chiếc lồng đèn truyền thống nhiều hình dáng và sắc màu. Nhiều năm qua, những người thợ nơi đây vẫn cần mẫn chuốt từng thanh tre, dán từng mảng giấy kính đỏ, vàng như một nỗ lực lưu giữ ký ức thân thương về những mùa trăng, cho cả bản thân lẫn cộng đồng
Làng lụa Vạn Phúc phát huy di sản, mở hướng phát triển mới

Làng lụa Vạn Phúc phát huy di sản, mở hướng phát triển mới

LNV - Việc được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội, cùng dấu mốc tham gia Mạng lưới các Thành phố Thủ công sáng tạo thế giới, đang mở thêm dư địa phát triển cho làng lụa Vạn Phúc. Từ một làng nghề nghìn năm tuổi bên dòng sông Nhuệ, Vạn Phúc từng bước chuyển mình theo hướng vừa gìn giữ di sản, vừa đổi mới sản phẩm, phát triển du lịch trải nghiệm và gia tăng giá trị nghề truyền thống.
OCOP tiếp sức cho thương hiệu làng nghề, nâng vị thế hàng Việt

OCOP tiếp sức cho thương hiệu làng nghề, nâng vị thế hàng Việt

LNV - Với hơn 1.350 làng có nghề, trong đó hơn 300 làng nghề truyền thống, Hà Nội sở hữu nguồn lực lớn để phát triển sản phẩm OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt. Mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn kết tinh kỹ năng nghề, bản sắc văn hóa và sức sáng tạo của người dân Thủ đô, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt trong quá trình hội nhập.
Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai -

Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai - 'Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai'

LNV - Chiều ngày 21/9/2026, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông chủ trì Buổi gặp mặt Ngoại giao đoàn thông tin về Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, với sự tham dự của đại diện các cục, vụ, đơn vị liên quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, UBND thành phố Hà Nội cùng đại diện các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Tranh Khúc: Từ hồn nghề truyền thống đến khát vọng vươn xa

Tranh Khúc: Từ hồn nghề truyền thống đến khát vọng vươn xa

LNV - Giữa những làng nghề ven sông Hồng đang đứng trước yêu cầu vừa gìn giữ giá trị truyền thống, vừa thích ứng với nhịp phát triển đô thị, Tranh Khúc (xã Nam Phù, Hà Nội) mang một dấu ấn riêng.
Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn 2026: Kịch tính những kháp đấu nảy lửa trên sới chọi

Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn 2026: Kịch tính những kháp đấu nảy lửa trên sới chọi

LNV - Sáng 19/9, vòng chung kết Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – VTV 2026 diễn ra tại sân vận động Trung tâm phường Đồ Sơn, Hải Phòng, thu hút đông đảo người dân và du khách. Những kháp đấu quyết liệt, không khí cổ vũ sôi động cùng các nghi lễ truyền thống tạo nên một ngày hội mang đậm dấu ấn văn hóa vùng biển.
Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

LNV - Từ làng Tân An bên dòng Gianh ở Quảng Trị đến Lựu Bảo ở vùng đất Huế, nghề làm bánh tráng đã đi qua hàng trăm năm cùng đời sống của người dân. Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Làng nghề trước áp lực thị trường

Làng nghề trước áp lực thị trường

LNV - Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu lao động mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một do khó khăn về đầu ra cho sản phẩm, thiếu vốn, nguyên liệu, lao động lành nghề...
Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026:  Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026: Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

LNV - Từ tiếng trống khai hội ở đền Nghè ngày 1/8 âm lịch đến kháp đấu quyết định ngày 9/8, trâu số 15 của ông Lê Bá Ngọc (đình Ngọc Xuyên) đăng quang. Nhưng với người Đồ Sơn, chiếc cúp chỉ là một dấu chấm giữa một câu chuyện dài hơn thế nhiều.
Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

LNV - Với hơn 18 năm truyền dạy miễn phí, nghệ nhân ưu tú Bàn Văn Cường đã góp phần bảo tồn chữ Nôm Dao, giữ gìn ký ức văn hóa dân tộc tại Bắc Ninh.
Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa  trong sản xuất công nghiệp nông thôn

Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp nông thôn

LNV - Chương trình hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc tiên tiến giai đoạn 2026–2030 thể hiện định hướng chiến lược trong việc hiện đại hóa khu vực kinh tế nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

LNV -Tối 18-9, UBND xã Thường Tín tổ chức khai mạc triển lãm các sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCop với sự tham dự của đông đảo người dân cùng doanh nghiệp trong và ngoài địa phương. Chương trình có chủ đề “Chạm bản sắc - Mở giao thương - Tựu trường - Trung thu” năm 2026.
Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

LNV - Ngày 18/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Hội nghị chấm thi Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân làng nghề thành phố Hà Nội năm 2026. Hội thi thu hút 183 nghệ nhân, thợ giỏi tham gia với 298 tác phẩm, bộ tác phẩm, qua đó góp phần tôn vinh những giá trị đặc sắc của nghề truyền thống và khuyến khích sáng tạo trong phát triển sản phẩm làng nghề Thủ đô.
Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

LNV - Sự ra mắt Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam, trực thuộc Hiệp hội Chè Việt Nam, mở ra thêm một không gian kết nối giữa các vùng nguyên liệu, người sản xuất và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chè Shan tuyết. Từ những rừng chè cổ thụ gắn bó lâu đời với đời sống đồng bào vùng cao, Chi hội hướng tới xây dựng các tiêu chuẩn chung về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu và từng bước nâng cao giá trị chè Shan tuyết trên thị trường trong nước và quốc tế.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Phó thủ tướng Lê Tiến Châu dự lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc mùa thu

Phó thủ tướng Lê Tiến Châu dự lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc mùa thu

LNV - Tối 26/9 Phó thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu cùng lãnh đạo UBND thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh; các tỉnh Hưng Yên, Cần Thơ… đã tham dự chương trình nghệ thuật: Lễ tưởng niệm 726 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, khai hội C
Rực rỡ đêm hội trăng rằm tại Văn Hội: Đoàn sư tử nhí lan tỏa niềm vui khắp làng quê

Rực rỡ đêm hội trăng rằm tại Văn Hội: Đoàn sư tử nhí lan tỏa niềm vui khắp làng quê

Dưới ánh trăng rằm tháng Tám, làng Văn Hội (xã Thường Tín, Tp. Hà Nội) rộn ràng trong không khí Tết Trung thu truyền thống với chương trình rước đèn, múa sư tử đặc sắc do CLB Sư tử nhí tổ chức. Những bước nhảy sôi động, tiếng trống hội rộn ràng đã mang đến một đêm hội ấm áp, gắn kết cộng đồng.
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
“Lồng đèn thắp sáng ước mơ” năm 2026: Thắp sáng mùa Trung thu cho thiếu nhi cả nước

“Lồng đèn thắp sáng ước mơ” năm 2026: Thắp sáng mùa Trung thu cho thiếu nhi cả nước

LNV - Tối 25-9, Trung ương Đoàn và Hội đồng Đội Trung ương phối hợp với thành phố Cần Thơ tổ chức chương trình Trung thu cho em “Lồng đèn thắp sáng ước mơ” năm 2026.
Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11: Đưa văn hóa thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển

Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11: Đưa văn hóa thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển

LNV - Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 là ngày hội để tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc, trở thành "điểm nhấn" để chuyển hóa nhận thức thành hành động, đưa văn hóa thực sự đi vào đời sống và trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển đất nước.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động