10 làng nghề truyền thống nổi tiếng đất Cố đô

LNV - Huế, là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên–Huế, nơi đây từng là vùng đất mộng mơ, phong cảnh hữu tình, có chút cổ kính, dịu dàng và trầm lặng nổi tiếng với nhiều công trình văn hóa đặc sắc có bề dày lịch sử. Ngoài ra vùng đất Cố đô nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống với các sản phẩm thủ công đặc trưng là một trong những nơi lưu giữ các giá trị đó một cách rõ nét.


Làng Hương Thủy Xuân

Nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km về phía Tây Nam, đó chính là làng hương lớn nhất của Huế - Thủy Xuân. Người dân vùng này sống bằng nghề làm hương cung cấp cho các đại lý trong thành phố. Nhiều năm trở lại đây, khi du lịch phát triển, làng Hương Thủy Xuân trở thành một điểm đến ở Huế thu hút rất nhiều du khách.


(Ảnh: Internet)


Ghé thăm ngôi làng này, bạn sẽ có dịp trầm trồ trước những bông hoa hương muôn sắc bắt mắt và ngập tràn trong mùi hương trầm thơm ngát, được những người thợ tinh tế sắp xếp thành từng, từng chùm, có những tỏa ra như những đóa hoa đẹp rực rỡ. Đặc biệt, sẽ cảm thấy thích thú khi được người dân tạo điều kiện để tìm hiểu và trực tiếp tham gia vào việc làm hương.

Làng tranh làng Sình

Làng Sình nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 9 km về phía Đông, được nhiều người biết đến với nghề làm tranh dân gian nổi tiếng. Tranh làng Sình gồm hơn 50 đề tài, chia thành 3 nhóm chủ đề chính là tranh nhân vật, tranh đồ vật và tranh súc vật. Tranh này đặc biệt ở chỗ là không dùng bút hay màu để vẽ mà dùng khuôn vẽ, một bức tranh hoàn thiện sẽ cần rất nhiều khuôn màu in lên giấy.


(Ảnh: Internet)


Giấy in tranh là loại giống giấy in báo, màu là mua ở chợ. Khuôn in bằng gỗ mít, họ tự khắc hoặc thuê thợ khắc. Khi làm ra một bức tranh, bản khắc gỗ chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính. Những màu sắc còn lại được nghệ nhân vẽ thủ công, tạo nên nét riêng biệt cho những bức tranh nơi đây. Với sự dày công và khéo léo, tranh làng Sình không chỉ được đánh giá cao về nghệ thuật tạo hình tranh dân gian mà còn gắn liền với văn hóa tâm linh của xứ Huế.

Ghé thăm Làng Sình, bạn không những được tận mắt chứng kiến quá trình các nghệ nhân làm tranh mà còn phần nào hiểu thêm về văn hóa tín ngưỡng cổ sơ và tư tưởng người Việt cổ.

Làng nghề đúc đồng

Làng nghề đúc đồng ở Huế vốn được biết đến với cái tên “Phường Đúc”. Phường Đúc ở Huế có nguồn gốc từ tổ chức của những thợ thuyền cùng nghề đúc dưới thời Chúa Nguyễn. Hai làng nghề đúc đồng lớn nhất và có danh tiếng nhất là Kinh Nhơn và Bổn Bộ.

Khi Chúa Trịnh và Tây Sơn đánh chiếm Phú Xuân thì các Công tượng đúc đồng bị tan rã. Riêng chỉ có họ Nguyễn ở Kinh Nhơn vẫn tiếp tục nghề đúc của cha ông. Từ những lò đúc của các anh em trong dòng họ Nguyễn, nghề đúc vẫn được duy trì và phát triển cho tới ngày nay.

Đến thăm Phường Đúc, bạn có cơ hội chứng kiến công đoạn của người thợ đúc tạo nên các sản phẩm bằng đồng.

Làng nghề kim hoàn Kế Môn

Làng kim hoàn Kế Môn thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, nằm cách trung tâm thành phố Huế tầm 40 km hướng Đông Bắc. Nghề kim hoàn ở nơi đây là nghề gia công cổ truyền đồ trang sức, trang trí bằng chất liệu vàng hoặc bạc, bao gồm: ngành trơn – các sản phẩm đơn giản, không chạm trổ nhiều, ngành đậu – thường làm các hình hoa văn kỷ hà để gắn lên mặt sản phẩm và ngành chạm – chạm trổ các hình và hoa văn trên các sản phẩm.


(Ảnh: Internet)


Các sản phẩm kim hoàn do người thợ Kế Môn chế tác rất đa dạng, từ mẫu mã đến kiểu dáng, như nhẫn, bông tai, khuyên, xuyến, vòng, kiềng, lắc, dây chuyền… được chạm trổ tinh xảo, có nạm ngọc hoặc đá sa-phia óng ánh rất bắt mắt.

Làng nghề Nón lá

Nón là một vật dụng dùng để che nắng che mưa đặc trưng của người người Việt. Từ lâu hình ảnh chiếc nón lá đã gắn liền với hình ảnh người Việt Nam, nó tuy không nằm trong những biểu tượng quốc gia nhưng chỉ cần nhìn thấy chiếc nón thì ngay lập tức người ta sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh đất nước Việt Nam.

Trên đất nước Việt Nam chúng ta hầu như ở địa phương nào cũng có nghề làm nón. Những chiếc nón được sản xuất ra với mục đích đội đầu che nắng che mưa, nhưng ở mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng trong cách sản xuất nhưng có thể nói Huế là trung tâm sản xuất nón lá của cả nước.

Nghề làm nón lá hình thành và phát triển ở Huế từ hàng trăm năm nay, với rất nhiều làng nón nổi tiếng như: Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Sịa... Ngày nay, các làng nghề nổi tiếng như Tây Hồ Xã Phú Hồ, Mỹ Lam xã Phú Mỹ huyện Phú vang, Phú Cam, Phước Vĩnh, Đốc Sơ, Triều Tây, Hương Sơ, TP Huế cho ra thị trường hàng triệu chiếc nón, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân, mà còn là món quà lưu niệm đặc sắc cho du khách bốn phương khi đến Huế.

Nón lá Huế, đặc biệt là nón bài thơ, nó không chỉ là chiếc nón đơn thuần mà là một tác phẩm nghệ thuật thực sự. Để có được chiếc nón ưng ý, các nghệ nhân làm nón Huế phải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi sự cần mẫn, khéo léo của người thợ. Từ chọn khung, uốn vành, lợp lá, cắt hoa văn, đến chằm hoàn thiện chiếc nón và cuối cùng là đánh bóng bảo quản…Có lẽ vì thế mà nón Huế rất được nhiều du khách ưu chuộng.

Du lịch phát triển mạnh ở Huế, nón lá trở thành mặt hàng lưu niệm mang nét văn hóa đặc sắc của Huế được du khách ưa chuộng. Rất nhiều du khách đã về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón. Không ít người đã thực sự bất ngờ và thích thú khi được người thợ nón lưu ảnh, tên của mình trên chiếc nón bài thơ mang về làm kỷ niệm.

Nón lá là sản phẩm thủ công mỹ nghệ đầu tiên được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý vào tháng 8/2010.

Làng nghề gốm Phước Tích


(Ảnh: Internet)


Phước Phú thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, do hai thôn Phước Tích và Phú Xuân nhập lại.

Tên xã Phong Hòa xưa là xã Phong Lâu (do ở bên bờ sông Ô Lâu). Làng Phước Tích tiện cho việc thông thương bằng đường thủy để khai thác nguyên liệu và chở sản phẩm gốm đi bán. Quanh làng không có đất sét và rất hiếm củi, nhưng theo các gia phả và ký ức người già thì suốt từ đời Minh Mạng đến đời Khải Định, hàng tháng làng phải dâng nộp triều đình Huế 30 chiếc “om ngự” làm nồi nấu cơm cho vua, ăn xong vứt bỏ. Do đó làng được đặc ân đi các nơi khai thác những gì cần cho nghề: vào rừng ở truông Đôộc (Đôộc: gốm) (nay thuộc Mỹ Xuyên cùng xã) lấy củi, sang cồn Gióng (nay xã Hải Chánh) sau sang Dương Khánh (nay xã Hải Dương) huyện Hải Lăng, Quảng Trị lấy đất sét. Sản phẩm truyền thống “độc Phước Tích” có lu (chum), ghè, thạp, thống, om (niêu), bùng binh (ống tiết kiệm), tu huýt (còi) và ông táo nung chín thành sành, không có thấm nước. Những sản phẩm trên được chở bán từ Nghệ An vào đến Nam Bộ. Các sản phẩm gốm không tráng men như lọ hoa...cũng đã được bán sang Nhật Bản và được sử dụng trân trọng trong các buổi tiệc trà của Nhật.

Ngày nay, tuy có thời kỳ đã vắng dần hình ảnh thân quen của mặt hàng độc Phước Tích, nhưng khả năng kế tục truyền thống làm gốm vẫn là một quyết tâm cao. Phước Tích vẫn là ngôi làng được nhiều người biết đến, bởi sản phẩm thủ công của họ vẫn là vật gần gũi, thân quen với mọi người.

Làng nghề thếp vàng, sơn mài Tiên Nộn

Cùng với kiến trúc, điêu khắc, sơn mài có mặt khắp nơi: từ các đình chùa làng xã, đến đền đài lăng tẩm, cung điện của vua chúa đều được sơn thếp vàng son lộng lẫy. Các vật dụng từ trong dân dã cho đến các gia đình quyền quý, các nhà thờ họ như: Hoành phi, câu đối, đáp, hộp, kiệu võng, án thư, sạp tử đều được sơn mài tô điểm trang trọng.

Nguồn gốc của sơn mài Huế là ở các làng Triều Sơn, Địa Linh, Tiên Nộn. Làng Tiên Nộn ( xã Phú Mậu - huyện Phú Vang) cách Huế 10km, nơi đây là làng nghề sơn mài truyền thống Huế. Vua Khải Định từng giao trách nhiệm cho gia đình cụ Nguyễn Đức Bùi phục chế sơn son thếp vàng ở Đại Nội Huế.

Trong kỹ thuật làm sơn ta, chất liệu chính là sơn sống được lấy từ cây sơn của vùng Phú Thọ. Để chế ra các màu, người thợ phải đánh sơn rất vất vả, nếu ai không quen sẽ bị phù mặt. Người ta lấy nhựa trắng từ cây sơn về, để vài ba tháng trong thùng gỗ hoặc tre, lúc này sơn chia thành 3 lớp: lớp 1 gọi là “dọi nhất” (không bao giờ khô) dùng để tăng độ của sơn; lớp 2 gọi là “dọi nhì” dùng để đánh sơn cánh dán, sơn then; lớp 3 gọi là “sơn thịt” dùng để vốc, để bó, để hom và dùng để trát thuyền. Để tạo sơn cánh dán, dùng chậu gỗ và mỏ vầy đánh sơn trong 48g sau đó chế với nhựa thông tươi với tỷ lệ vừa phải; để tạo ra màu sơn đen (còn gọi là sơn then) người ta đánh trong chậu gang và mỏ vầy bằng sắt.

Sơn mài truyền thống Huế có thể chia thành ba loại: sơn quang, sơn son thếp vàng và sơn mài đắp nổi. Gam màu cổ truyền và căn bản của những tác phẩm sơn mài là cánh dán, đỏ, đen, màu của vàng, bạc nguyên chất dưới dạng bột hay được dát mỏng thành lá. Về sau, hệ màu này được bổ sung thêm sắc độ xanh, xám, màu trắng vỏ trứng, màu hồng vỏ cua, vỏ trai, vỏ ốc…

Ngày nay, làng Tiên Nộn không còn người làm nghề sơn mài nhưng sức sống của nghề sơn mài vẫn được duy trì và phát triển như là một bộ môn nghệ thuật độc đáo của Huế. Do vật liệu bằng vàng thật rất đắt nên những người làm nghề không còn sơn son thếp vàng các vật dụng hoành phi, câu đối, đồ thờ tự theo đúng kỹ thuật sơn mài truyền thống. Tại trường Đại học Nghệ thuật Huế, để giữ gìn kỹ thuật làm sơn mài truyền thống Huế, nhà trường đã thành lập bộ môn trang trí truyền thống nhằm dạy cho sinh viên về kỹ thuật sơn mài của Huế. Để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật thì phải sơn và mài 5 đến 7 lần. Sau khi vẽ chồng hoặc tráng lên các lớp sơn, người ta tiến hành mài xuống và bức tranh sẽ hoàn thành ở tầng sâu cho hiệu quả tốt nhất.

Sức sống của sơn mài truyền thống Huế được thể hiện mạnh mẽ ở những cách tân về đề tài, mẫu mã, công năng sử dụng... Các họa sĩ đã mạnh dạn sáng tác những tác phẩm sơn mài mang ý tưởng mới, phục vụ cho đời sống hiện đại, sơn mài còn xuất hiện trong đồ dùng làm trang sức, dây đeo cổ, đeo tay, đồ mỹ nghệ ...

Làng nghề Điêu khắc gỗ Mỹ Xuyên

Mỹ Xuyên thuộc huyện Phong Ðiền, cách Huế khoảng 40km về phía Bắc. Vào giữa thế kỷ XIX, nơi đây đã tập trung những người thợ chạm tài hoa. Họ đã chạm trổ nhiều công trình nổi tiếng cho triều đình và nhân dân.


(Ảnh: Internet)


Những sản phẩm mỹ nghệ của họ làm cho nhiều công trình kiến trúc và đồ dùng cao cấp đạt tới giá trị tuyệt phẩm. Trước kia làm ăn cá thể, những người thợ điêu khắc với đồ nghề gọn nhẹ để trong cái tráp nhỏ, họ xách theo đến những nơi được mời để hóa thân cho những đoạn ngà voi và gỗ qúy, thành những đồ vật bền và có cuộc sống vượt cả thời gian. Nghề điêu khắc ở đây không có trường dạy. Những người thành thạo trực tiếp kèm cặp người học nghề qua thực hành.

Nhiều sản phẩm của Mỹ Xuyên đã giành huy chương vàng, bạc tại các triển lãm trong tỉnh và toàn quốc. Thị trường của họ rất rộng, có mẫu hàng phải ký hợp đồng hàng nghìn sản phẩm. Họ chạm người, chạm thú, chạm đồ vật... cái gì cũng sống động. Xưa kia vật liệu chính là ngà voi, ngày nay thường là gỗ rất hiếm quí. Từ thớ gỗ vô tri họ đã làm ra những rồng, phượng, ngựa, voi, mèo... những thuyền rồng, anh hùng tương ngộ... về những ông Di Lặc, tiên đánh cờ, người đi câu, người úp nơm, người cầm chùi... cả những anh hùng như Phù Ðổng Thiên Vương... Kỹ thuật chạm lọng, chạm chìm, chạm nổi, chạm xếp lớp, chạm sâu, chạm cạn, chạm chấm phá, chạm khảm (gỗ trên gỗ)...là những nét độc đáo của thợ Mỹ Xuyên. Phần lớn những ngôi nhà Rường nổi tiếng của Huế có sự tham gia của người thợ Mỹ Xuyên trong phần chạm khắc. Mỗi đề tài lại có nhiều cách thể hiện, cũng là ngựa của một nơi sản xuất mà có hàng chục dáng hình khác nhau, con nào cũng sống động lạ thường.

Làng nghề Hoa giấy Thanh Tiên

Làng Thanh Tiên thuộc xã Phú Mậu, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, làng có vị trí khá đặc biệt, phía Bắc giáp thôn Mậu Tài, Nam giáp Thế Vinh, Đông giáp Vọng Trì, Đông Tây giáp sông Hương, cách trung tâm thành phố 10 km. Làng vốn có truyền thống làm nghề nông, tuy nhiên, vào tháng chạp, Thanh Tiên lại rộn rã với nghề làm hoa giấy. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi Nghề hoa giấy Thanh Tiên trong danh mục thống kê của các nghề thủ công từ thế kỷ XVI-XIX.

Sản phẩm hoa giấy thường được trang trí ở những nơi thờ tự trong nhà, các miếu, trang bà, am, bàn thờ ông địa, táo quân, thần bếp... Ưu điểm của hoa giấy Thanh Tiên là: phong phú về màu sắc, hình thức đẹp, để được lâu lại thể hiện sự trang nghiêm, một năm chỉ thay một lần vào dịp tết nên nó dễ được chấp nhận và tồn tại dài lâu. Cũng chính những đặc điểm đó mà thời gian sản xuất chính thức của nghề thủ công này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn vào cuối năm, chủ yếu vào tháng Chạp. Ngày nay, loại hoa sen đã được phục hồi, quanh năm sản xuất, trở thành loại hoa trang trí độc đáo. Một bó hoa sen gồm hoa, lá, nụ đứng ở tầm xa khoảng vài mét mà người ta cứ ngỡ tưởng là bó hoa sen thật và Hoa sen giấy Thanh Tiên, biểu tượng đặc trưng của văn hóa Việt Nam đã sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc qua các lượt khách du lịch khi đến Huế.

Với sự phong phú và đa dạng, hoa giấy Thanh Tiên đã đáp ứng được nhu cầu về tín ngưỡng dân gian và ngày nay cả nhu cầu trang trí nội thất của người dân xứ Huế.

Liễn làng Chuồn

Chuồn là tên nôm của làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, là làng nông nghiệp nhưng có nhiều người học cao đỗ đạt làm quan to trong triều. Tính hiếu học đã ảnh hưởng đến nghề làm liễn: Viết chữ đẹp, biết cái đẹp của nghệ thuật viết chữ, và phát huy một lối chơi sang treo liễn ngày Tết hay để tặng mừng nhau. Ở đây rất nhiều gia đình biết in liễn Tết, họ tập trung làm từ tháng mười đến giáp Tết, mỗi gia đình trong vụ liễn in từ vài trăm đến vài nghìn bộ. Cho đến nay, liễn Chuồn vẫn phát triển và cần khuyến khích.

Giấy in liễn là loại giấy để in báo, mua về phải nhuộm các màu đỏ, vàng hoặc xanh. Còn màu là các phẩm bột mua ở chợ về hòa với hồ cho dính, cũng có dùng bột điệp nhưng không để nguyên màu trắng ánh mà pha thêm màu xanh dương theo tỷ lệ 10 điệp + 1 dương để có màu sáng dịu. Do có hai đoạn liễn với kích thước khác nhau nên có hai lối in ngửa hay úp ván. Liễn bông (hoa) mỗi bộ gồm có bốn con (bức) toàn cảnh họa tiết dài như bộ tranh tứ quý. Liễn chữ gồm một đại tự và câu đối. Đại tự là chữ to cần ván lớn.

Liễn được treo trên tường hay trên cột, chạy dọc như theo câu đối hay theo tranh tứ quý. Riêng đại tự có thể treo riêng hoặc giữa hai liễn câu đối như bức hoành cầu phúc. Đấy là lối chơi đẹp.

Đức Bảo TH

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

LNV - Với 397 sản phẩm, bộ sản phẩm của 185 tổ chức, cá nhân và nghệ nhân tham gia, Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026 đang cho thấy sức sáng tạo và khả năng thích ứng ngày càng rõ nét của các cơ sở, nghệ nhân làng nghề Thủ đô. Từ những chất liệu quen thuộc, nhiều mẫu sản phẩm đã được làm mới bằng tư duy thiết kế hiện đại, hướng tới thị trường và phát triển bền vững.
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

LNV - Nhiều sản phẩm OCOP có chất lượng, mang đậm bản sắc địa phương nhưng chưa được khai thác hiệu quả trong hoạt động du lịch. Kết nối không gian sản xuất với trải nghiệm, dịch vụ và thị trường được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra và tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

LNV - Ngày 6/10, UBND xã Ninh Phước (tỉnh Khánh Hòa) cho biết công tác chuẩn bị cho Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc lần thứ I năm 2026 đang được gấp rút hoàn thiện. Sự kiện được tổ chức với quy mô cấp xã mở rộng, có sự phối hợp và tham gia của nhiều địa phương lân cận.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Tối 8/10, tại Hà Nội, Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026 chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và tôn vinh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiêu biểu. Sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò của hội chợ làng nghề trong việc đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với thị trường, người tiêu dùng và du khách.
Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Hội chợ Làng nghề Việt Nam năm 2026 là dịp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và nhiều sản phẩm đặc trưng vùng miền.

Tin khác

Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nghề khảm trai ở làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, TP. Hà Nội) vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, kết tinh trong từng đường nét chạm khắc tinh xảo. Tuy nhiên, trước sức ép của thị trường và nguy cơ thiếu hụt lao động kế cận, làng nghề đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn những giá trị truyền thống, vừa đổi mới sản phẩm, mở rộng thị trường để tạo động lực phát triển bền vững.
Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng 8/10, tại Cung Triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch xây dựng Quốc gia, Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2026 (Hanoi Giftshow 2026) chính thức khai mạc. Với quy mô 500 gian hàng của 230 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất đến từ Hà Nội và 15 tỉnh, thành phố, Hội chợ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm kết nối quan trọng giữa nghệ nhân, làng nghề, doanh nghiệp với thị trường trong nước và quốc tế.
Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

LNV - Trải qua hơn 200 năm hình thành và phát triển, làng nghề tre trúc Xuân Lai, xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh vẫn gìn giữ kỹ thuật hun tre nguyên cây như một bí quyết riêng. Từ ngọn lửa, làn khói và kinh nghiệm của người thợ, những thân tre xanh được khoác lên sắc nâu trầm đặc trưng, tạo nên dấu ấn khó trộn lẫn của sản phẩm Xuân Lai trên thị trường.
Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

LNV - Nghề làm nón lá truyền thống không chỉ là nghề mưu sinh mà còn là biểu tượng của nét đẹp văn hóa, đang đổi mới để phù hợp với thời đại.
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo tồn không gian sản xuất và từng bước mở hướng phát triển gắn với du lịch trải nghiệm.
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

LNV - Gần 30 năm qua, ngôi nhà của Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh tại ấp Kos Sla, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long luôn rộn ràng với công việc chế tác mão và mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

LNV - Từ những chiếc lá lụi đơn sơ, những thanh tre chẻ nhỏ dẻo dai, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân thôn Đan Du (xã Kỳ Khang, tỉnh Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc, thanh thoát đã được tạo nên. Trải qua bao thăng trầm và đổi thay của thời đại, người dân Đan Du vẫn ngày đêm cần mẫn bên khung nón, vành tre và đường kim quen thuộc. Từ nếp nhà nhỏ bình dị, mỗi chiếc nón ra đời không chỉ che mưa che nắng cho biết bao người, mà còn mang theo vẻ đẹp duyên dáng, tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới  từ thị trường và trải nghiệm

Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm

LNV - Trước sức ép cạnh tranh và sự thay đổi nhanh của thị hiếu tiêu dùng, nhiều làng nghề truyền thống đang chủ động tìm hướng thích ứng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tế tại Đà Nẵng và TP Huế cho thấy, khi nghề truyền thống được đặt trong một không gian phát triển mới, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng mà còn được bồi đắp từ câu chuyện văn hóa, trải nghiệm và bản sắc của mỗi vùng đất.
Tinh hoa làng nghề Hà Nội  Tinh hoa làng nghề Hà Nội   trong dòng chảy sáng tạo

Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo

LNV - Gần 300 sản phẩm, bộ sản phẩm của 183 tác giả đã hội tụ tại Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026. Từ những kỹ thuật được gìn giữ qua nhiều thế hệ đến tư duy thiết kế, thương mại và hội nhập mới, hội thi cho thấy sức sống của làng nghề Thủ đô đang được tiếp nối bằng cả bàn tay tài hoa và khát vọng đổi mới
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Chiều 28/9, tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Lễ trao giải Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

LNV - Ban Tổ chức Hội thi “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam tốt nhất” năm 2026 đề nghị các tỉnh, thành phố lựa chọn, hỗ trợ những điểm đến tiêu biểu hoàn thiện hồ sơ tham gia Hội thi. Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 hồ sơ, thời hạn nộp trước ngày 15/10/2026.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ khuyến công năm 2026: Đổi mới tư duy từ “hỗ trợ hạng mục” sang “tạo năng lực phát triển”

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ khuyến công năm 2026: Đổi mới tư duy từ “hỗ trợ hạng mục” sang “tạo năng lực phát triển”

Thực hiện chương trình công tác năm 2026, ngày 9/10, tại tỉnh Sơn La, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác khuyến công.
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

LNV - Với 397 sản phẩm, bộ sản phẩm của 185 tổ chức, cá nhân và nghệ nhân tham gia, Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026 đang cho thấy sức sáng tạo và khả năng thích ứng ngày càng rõ nét của các cơ sở, nghệ nhân làng nghề Th
Gần 500 gian hàng tham gia Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc năm 2026

Gần 500 gian hàng tham gia Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc năm 2026

Hải Phòng đã diễn ra Hội chợ triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc năm 2026.
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

LNV - Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp tổ chức Hội nghị quảng bá, kết nối và xúc tiến thương mại du lịch nông thôn Việt Nam, nhằm tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp và chủ thể du lịch; thúc đẩy quảng bá,
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động