Hà Nội: 18°C Hà Nội
Đà Nẵng: 23°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 23°C Thừa Thiên Huế

10 làng nghề truyền thống nổi tiếng đất Cố đô

LNV - Huế, là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên–Huế, nơi đây từng là vùng đất mộng mơ, phong cảnh hữu tình, có chút cổ kính, dịu dàng và trầm lặng nổi tiếng với nhiều công trình văn hóa đặc sắc có bề dày lịch sử. Ngoài ra vùng đất Cố đô nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống với các sản phẩm thủ công đặc trưng là một trong những nơi lưu giữ các giá trị đó một cách rõ nét.


Làng Hương Thủy Xuân

Nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km về phía Tây Nam, đó chính là làng hương lớn nhất của Huế - Thủy Xuân. Người dân vùng này sống bằng nghề làm hương cung cấp cho các đại lý trong thành phố. Nhiều năm trở lại đây, khi du lịch phát triển, làng Hương Thủy Xuân trở thành một điểm đến ở Huế thu hút rất nhiều du khách.


(Ảnh: Internet)


Ghé thăm ngôi làng này, bạn sẽ có dịp trầm trồ trước những bông hoa hương muôn sắc bắt mắt và ngập tràn trong mùi hương trầm thơm ngát, được những người thợ tinh tế sắp xếp thành từng, từng chùm, có những tỏa ra như những đóa hoa đẹp rực rỡ. Đặc biệt, sẽ cảm thấy thích thú khi được người dân tạo điều kiện để tìm hiểu và trực tiếp tham gia vào việc làm hương.

Làng tranh làng Sình

Làng Sình nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 9 km về phía Đông, được nhiều người biết đến với nghề làm tranh dân gian nổi tiếng. Tranh làng Sình gồm hơn 50 đề tài, chia thành 3 nhóm chủ đề chính là tranh nhân vật, tranh đồ vật và tranh súc vật. Tranh này đặc biệt ở chỗ là không dùng bút hay màu để vẽ mà dùng khuôn vẽ, một bức tranh hoàn thiện sẽ cần rất nhiều khuôn màu in lên giấy.


(Ảnh: Internet)


Giấy in tranh là loại giống giấy in báo, màu là mua ở chợ. Khuôn in bằng gỗ mít, họ tự khắc hoặc thuê thợ khắc. Khi làm ra một bức tranh, bản khắc gỗ chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính. Những màu sắc còn lại được nghệ nhân vẽ thủ công, tạo nên nét riêng biệt cho những bức tranh nơi đây. Với sự dày công và khéo léo, tranh làng Sình không chỉ được đánh giá cao về nghệ thuật tạo hình tranh dân gian mà còn gắn liền với văn hóa tâm linh của xứ Huế.

Ghé thăm Làng Sình, bạn không những được tận mắt chứng kiến quá trình các nghệ nhân làm tranh mà còn phần nào hiểu thêm về văn hóa tín ngưỡng cổ sơ và tư tưởng người Việt cổ.

Làng nghề đúc đồng

Làng nghề đúc đồng ở Huế vốn được biết đến với cái tên “Phường Đúc”. Phường Đúc ở Huế có nguồn gốc từ tổ chức của những thợ thuyền cùng nghề đúc dưới thời Chúa Nguyễn. Hai làng nghề đúc đồng lớn nhất và có danh tiếng nhất là Kinh Nhơn và Bổn Bộ.

Khi Chúa Trịnh và Tây Sơn đánh chiếm Phú Xuân thì các Công tượng đúc đồng bị tan rã. Riêng chỉ có họ Nguyễn ở Kinh Nhơn vẫn tiếp tục nghề đúc của cha ông. Từ những lò đúc của các anh em trong dòng họ Nguyễn, nghề đúc vẫn được duy trì và phát triển cho tới ngày nay.

Đến thăm Phường Đúc, bạn có cơ hội chứng kiến công đoạn của người thợ đúc tạo nên các sản phẩm bằng đồng.

Làng nghề kim hoàn Kế Môn

Làng kim hoàn Kế Môn thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, nằm cách trung tâm thành phố Huế tầm 40 km hướng Đông Bắc. Nghề kim hoàn ở nơi đây là nghề gia công cổ truyền đồ trang sức, trang trí bằng chất liệu vàng hoặc bạc, bao gồm: ngành trơn – các sản phẩm đơn giản, không chạm trổ nhiều, ngành đậu – thường làm các hình hoa văn kỷ hà để gắn lên mặt sản phẩm và ngành chạm – chạm trổ các hình và hoa văn trên các sản phẩm.


(Ảnh: Internet)


Các sản phẩm kim hoàn do người thợ Kế Môn chế tác rất đa dạng, từ mẫu mã đến kiểu dáng, như nhẫn, bông tai, khuyên, xuyến, vòng, kiềng, lắc, dây chuyền… được chạm trổ tinh xảo, có nạm ngọc hoặc đá sa-phia óng ánh rất bắt mắt.

Làng nghề Nón lá

Nón là một vật dụng dùng để che nắng che mưa đặc trưng của người người Việt. Từ lâu hình ảnh chiếc nón lá đã gắn liền với hình ảnh người Việt Nam, nó tuy không nằm trong những biểu tượng quốc gia nhưng chỉ cần nhìn thấy chiếc nón thì ngay lập tức người ta sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh đất nước Việt Nam.

Trên đất nước Việt Nam chúng ta hầu như ở địa phương nào cũng có nghề làm nón. Những chiếc nón được sản xuất ra với mục đích đội đầu che nắng che mưa, nhưng ở mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng trong cách sản xuất nhưng có thể nói Huế là trung tâm sản xuất nón lá của cả nước.

Nghề làm nón lá hình thành và phát triển ở Huế từ hàng trăm năm nay, với rất nhiều làng nón nổi tiếng như: Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Sịa... Ngày nay, các làng nghề nổi tiếng như Tây Hồ Xã Phú Hồ, Mỹ Lam xã Phú Mỹ huyện Phú vang, Phú Cam, Phước Vĩnh, Đốc Sơ, Triều Tây, Hương Sơ, TP Huế cho ra thị trường hàng triệu chiếc nón, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân, mà còn là món quà lưu niệm đặc sắc cho du khách bốn phương khi đến Huế.

Nón lá Huế, đặc biệt là nón bài thơ, nó không chỉ là chiếc nón đơn thuần mà là một tác phẩm nghệ thuật thực sự. Để có được chiếc nón ưng ý, các nghệ nhân làm nón Huế phải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi sự cần mẫn, khéo léo của người thợ. Từ chọn khung, uốn vành, lợp lá, cắt hoa văn, đến chằm hoàn thiện chiếc nón và cuối cùng là đánh bóng bảo quản…Có lẽ vì thế mà nón Huế rất được nhiều du khách ưu chuộng.

Du lịch phát triển mạnh ở Huế, nón lá trở thành mặt hàng lưu niệm mang nét văn hóa đặc sắc của Huế được du khách ưa chuộng. Rất nhiều du khách đã về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón. Không ít người đã thực sự bất ngờ và thích thú khi được người thợ nón lưu ảnh, tên của mình trên chiếc nón bài thơ mang về làm kỷ niệm.

Nón lá là sản phẩm thủ công mỹ nghệ đầu tiên được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý vào tháng 8/2010.

Làng nghề gốm Phước Tích


(Ảnh: Internet)


Phước Phú thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, do hai thôn Phước Tích và Phú Xuân nhập lại.

Tên xã Phong Hòa xưa là xã Phong Lâu (do ở bên bờ sông Ô Lâu). Làng Phước Tích tiện cho việc thông thương bằng đường thủy để khai thác nguyên liệu và chở sản phẩm gốm đi bán. Quanh làng không có đất sét và rất hiếm củi, nhưng theo các gia phả và ký ức người già thì suốt từ đời Minh Mạng đến đời Khải Định, hàng tháng làng phải dâng nộp triều đình Huế 30 chiếc “om ngự” làm nồi nấu cơm cho vua, ăn xong vứt bỏ. Do đó làng được đặc ân đi các nơi khai thác những gì cần cho nghề: vào rừng ở truông Đôộc (Đôộc: gốm) (nay thuộc Mỹ Xuyên cùng xã) lấy củi, sang cồn Gióng (nay xã Hải Chánh) sau sang Dương Khánh (nay xã Hải Dương) huyện Hải Lăng, Quảng Trị lấy đất sét. Sản phẩm truyền thống “độc Phước Tích” có lu (chum), ghè, thạp, thống, om (niêu), bùng binh (ống tiết kiệm), tu huýt (còi) và ông táo nung chín thành sành, không có thấm nước. Những sản phẩm trên được chở bán từ Nghệ An vào đến Nam Bộ. Các sản phẩm gốm không tráng men như lọ hoa...cũng đã được bán sang Nhật Bản và được sử dụng trân trọng trong các buổi tiệc trà của Nhật.

Ngày nay, tuy có thời kỳ đã vắng dần hình ảnh thân quen của mặt hàng độc Phước Tích, nhưng khả năng kế tục truyền thống làm gốm vẫn là một quyết tâm cao. Phước Tích vẫn là ngôi làng được nhiều người biết đến, bởi sản phẩm thủ công của họ vẫn là vật gần gũi, thân quen với mọi người.

Làng nghề thếp vàng, sơn mài Tiên Nộn

Cùng với kiến trúc, điêu khắc, sơn mài có mặt khắp nơi: từ các đình chùa làng xã, đến đền đài lăng tẩm, cung điện của vua chúa đều được sơn thếp vàng son lộng lẫy. Các vật dụng từ trong dân dã cho đến các gia đình quyền quý, các nhà thờ họ như: Hoành phi, câu đối, đáp, hộp, kiệu võng, án thư, sạp tử đều được sơn mài tô điểm trang trọng.

Nguồn gốc của sơn mài Huế là ở các làng Triều Sơn, Địa Linh, Tiên Nộn. Làng Tiên Nộn ( xã Phú Mậu - huyện Phú Vang) cách Huế 10km, nơi đây là làng nghề sơn mài truyền thống Huế. Vua Khải Định từng giao trách nhiệm cho gia đình cụ Nguyễn Đức Bùi phục chế sơn son thếp vàng ở Đại Nội Huế.

Trong kỹ thuật làm sơn ta, chất liệu chính là sơn sống được lấy từ cây sơn của vùng Phú Thọ. Để chế ra các màu, người thợ phải đánh sơn rất vất vả, nếu ai không quen sẽ bị phù mặt. Người ta lấy nhựa trắng từ cây sơn về, để vài ba tháng trong thùng gỗ hoặc tre, lúc này sơn chia thành 3 lớp: lớp 1 gọi là “dọi nhất” (không bao giờ khô) dùng để tăng độ của sơn; lớp 2 gọi là “dọi nhì” dùng để đánh sơn cánh dán, sơn then; lớp 3 gọi là “sơn thịt” dùng để vốc, để bó, để hom và dùng để trát thuyền. Để tạo sơn cánh dán, dùng chậu gỗ và mỏ vầy đánh sơn trong 48g sau đó chế với nhựa thông tươi với tỷ lệ vừa phải; để tạo ra màu sơn đen (còn gọi là sơn then) người ta đánh trong chậu gang và mỏ vầy bằng sắt.

Sơn mài truyền thống Huế có thể chia thành ba loại: sơn quang, sơn son thếp vàng và sơn mài đắp nổi. Gam màu cổ truyền và căn bản của những tác phẩm sơn mài là cánh dán, đỏ, đen, màu của vàng, bạc nguyên chất dưới dạng bột hay được dát mỏng thành lá. Về sau, hệ màu này được bổ sung thêm sắc độ xanh, xám, màu trắng vỏ trứng, màu hồng vỏ cua, vỏ trai, vỏ ốc…

Ngày nay, làng Tiên Nộn không còn người làm nghề sơn mài nhưng sức sống của nghề sơn mài vẫn được duy trì và phát triển như là một bộ môn nghệ thuật độc đáo của Huế. Do vật liệu bằng vàng thật rất đắt nên những người làm nghề không còn sơn son thếp vàng các vật dụng hoành phi, câu đối, đồ thờ tự theo đúng kỹ thuật sơn mài truyền thống. Tại trường Đại học Nghệ thuật Huế, để giữ gìn kỹ thuật làm sơn mài truyền thống Huế, nhà trường đã thành lập bộ môn trang trí truyền thống nhằm dạy cho sinh viên về kỹ thuật sơn mài của Huế. Để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật thì phải sơn và mài 5 đến 7 lần. Sau khi vẽ chồng hoặc tráng lên các lớp sơn, người ta tiến hành mài xuống và bức tranh sẽ hoàn thành ở tầng sâu cho hiệu quả tốt nhất.

Sức sống của sơn mài truyền thống Huế được thể hiện mạnh mẽ ở những cách tân về đề tài, mẫu mã, công năng sử dụng... Các họa sĩ đã mạnh dạn sáng tác những tác phẩm sơn mài mang ý tưởng mới, phục vụ cho đời sống hiện đại, sơn mài còn xuất hiện trong đồ dùng làm trang sức, dây đeo cổ, đeo tay, đồ mỹ nghệ ...

Làng nghề Điêu khắc gỗ Mỹ Xuyên

Mỹ Xuyên thuộc huyện Phong Ðiền, cách Huế khoảng 40km về phía Bắc. Vào giữa thế kỷ XIX, nơi đây đã tập trung những người thợ chạm tài hoa. Họ đã chạm trổ nhiều công trình nổi tiếng cho triều đình và nhân dân.


(Ảnh: Internet)


Những sản phẩm mỹ nghệ của họ làm cho nhiều công trình kiến trúc và đồ dùng cao cấp đạt tới giá trị tuyệt phẩm. Trước kia làm ăn cá thể, những người thợ điêu khắc với đồ nghề gọn nhẹ để trong cái tráp nhỏ, họ xách theo đến những nơi được mời để hóa thân cho những đoạn ngà voi và gỗ qúy, thành những đồ vật bền và có cuộc sống vượt cả thời gian. Nghề điêu khắc ở đây không có trường dạy. Những người thành thạo trực tiếp kèm cặp người học nghề qua thực hành.

Nhiều sản phẩm của Mỹ Xuyên đã giành huy chương vàng, bạc tại các triển lãm trong tỉnh và toàn quốc. Thị trường của họ rất rộng, có mẫu hàng phải ký hợp đồng hàng nghìn sản phẩm. Họ chạm người, chạm thú, chạm đồ vật... cái gì cũng sống động. Xưa kia vật liệu chính là ngà voi, ngày nay thường là gỗ rất hiếm quí. Từ thớ gỗ vô tri họ đã làm ra những rồng, phượng, ngựa, voi, mèo... những thuyền rồng, anh hùng tương ngộ... về những ông Di Lặc, tiên đánh cờ, người đi câu, người úp nơm, người cầm chùi... cả những anh hùng như Phù Ðổng Thiên Vương... Kỹ thuật chạm lọng, chạm chìm, chạm nổi, chạm xếp lớp, chạm sâu, chạm cạn, chạm chấm phá, chạm khảm (gỗ trên gỗ)...là những nét độc đáo của thợ Mỹ Xuyên. Phần lớn những ngôi nhà Rường nổi tiếng của Huế có sự tham gia của người thợ Mỹ Xuyên trong phần chạm khắc. Mỗi đề tài lại có nhiều cách thể hiện, cũng là ngựa của một nơi sản xuất mà có hàng chục dáng hình khác nhau, con nào cũng sống động lạ thường.

Làng nghề Hoa giấy Thanh Tiên

Làng Thanh Tiên thuộc xã Phú Mậu, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, làng có vị trí khá đặc biệt, phía Bắc giáp thôn Mậu Tài, Nam giáp Thế Vinh, Đông giáp Vọng Trì, Đông Tây giáp sông Hương, cách trung tâm thành phố 10 km. Làng vốn có truyền thống làm nghề nông, tuy nhiên, vào tháng chạp, Thanh Tiên lại rộn rã với nghề làm hoa giấy. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi Nghề hoa giấy Thanh Tiên trong danh mục thống kê của các nghề thủ công từ thế kỷ XVI-XIX.

Sản phẩm hoa giấy thường được trang trí ở những nơi thờ tự trong nhà, các miếu, trang bà, am, bàn thờ ông địa, táo quân, thần bếp... Ưu điểm của hoa giấy Thanh Tiên là: phong phú về màu sắc, hình thức đẹp, để được lâu lại thể hiện sự trang nghiêm, một năm chỉ thay một lần vào dịp tết nên nó dễ được chấp nhận và tồn tại dài lâu. Cũng chính những đặc điểm đó mà thời gian sản xuất chính thức của nghề thủ công này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn vào cuối năm, chủ yếu vào tháng Chạp. Ngày nay, loại hoa sen đã được phục hồi, quanh năm sản xuất, trở thành loại hoa trang trí độc đáo. Một bó hoa sen gồm hoa, lá, nụ đứng ở tầm xa khoảng vài mét mà người ta cứ ngỡ tưởng là bó hoa sen thật và Hoa sen giấy Thanh Tiên, biểu tượng đặc trưng của văn hóa Việt Nam đã sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc qua các lượt khách du lịch khi đến Huế.

Với sự phong phú và đa dạng, hoa giấy Thanh Tiên đã đáp ứng được nhu cầu về tín ngưỡng dân gian và ngày nay cả nhu cầu trang trí nội thất của người dân xứ Huế.

Liễn làng Chuồn

Chuồn là tên nôm của làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, là làng nông nghiệp nhưng có nhiều người học cao đỗ đạt làm quan to trong triều. Tính hiếu học đã ảnh hưởng đến nghề làm liễn: Viết chữ đẹp, biết cái đẹp của nghệ thuật viết chữ, và phát huy một lối chơi sang treo liễn ngày Tết hay để tặng mừng nhau. Ở đây rất nhiều gia đình biết in liễn Tết, họ tập trung làm từ tháng mười đến giáp Tết, mỗi gia đình trong vụ liễn in từ vài trăm đến vài nghìn bộ. Cho đến nay, liễn Chuồn vẫn phát triển và cần khuyến khích.

Giấy in liễn là loại giấy để in báo, mua về phải nhuộm các màu đỏ, vàng hoặc xanh. Còn màu là các phẩm bột mua ở chợ về hòa với hồ cho dính, cũng có dùng bột điệp nhưng không để nguyên màu trắng ánh mà pha thêm màu xanh dương theo tỷ lệ 10 điệp + 1 dương để có màu sáng dịu. Do có hai đoạn liễn với kích thước khác nhau nên có hai lối in ngửa hay úp ván. Liễn bông (hoa) mỗi bộ gồm có bốn con (bức) toàn cảnh họa tiết dài như bộ tranh tứ quý. Liễn chữ gồm một đại tự và câu đối. Đại tự là chữ to cần ván lớn.

Liễn được treo trên tường hay trên cột, chạy dọc như theo câu đối hay theo tranh tứ quý. Riêng đại tự có thể treo riêng hoặc giữa hai liễn câu đối như bức hoành cầu phúc. Đấy là lối chơi đẹp.

Đức Bảo TH

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

LNV - Làng nghề đường phèn ở Ba La - Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng.
Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

LNV - Làng nghề hoa giấy Phù Đổng bắt đầu từ những năm 2010, khi xã được chọn là địa phương điểm xây dựng nông thôn mới. Nhận thấy tiềm năng của đất đai và khí hậu, người dân Phù Đổng đã chọn hoa giấy làm cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, con đường phát triển của làng nghề không hề bằng phẳng.
Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

LNV - Trong những ngày cuối năm, làng nghề đúc đồng Đại Bái (xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) sôi động, đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu Tết và giữ gìn truyền thống lâu đời.
Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

LNV - Dù còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2026 nhưng không khí sản xuất tại làng nghề bánh tráng Thuận Hưng (TP Cần Thơ) đã trở nên tất bật. Các hộ làm nghề tăng ca liên tục để kịp những đơn hàng Tết được đặt sớm từ khắp nơi
Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (2005 - 2025) và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân lần thứ XII. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã phát biểu trong Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Tạp chí Làng nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài phát biểu của ông.
Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

LNV - Từ thuở con người biết lấy đất nặn hình, nung trong lửa để tạo nên vật dụng, gốm đã trở thành chứng nhân của nền văn minh Việt. Qua hàng nghìn năm, từ bàn tay khéo léo của người thợ, từ lò gốm thô sơ nơi làng quê đến những xưởng hiện đại hôm nay, nghề gốm Việt vẫn bền bỉ giữ hồn đất, hồn người qua từng thớ men, từng đường nét tinh xảo.

Tin khác

Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

LNV - Chiều ngày 08/01/2026 tại Nhà văn hoá xã Phù Lãng (Bắc Ninh), UBND xã Phù Lãng phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Hội nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”, xét đặc cách cho 03 nghệ nhân tiêu biểu, không chỉ là sự ghi nhận tài năng cá nhân mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của một dòng gốm di sản vùng Kinh Bắc.
Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

LNV - Tiên Kiều từng được mệnh danh là “thủ phủ” chiếu cói của vùng đồng chiêm trũng của xã Hà Đông (thành phố Hải Phòng) nhưng nay đã mai một. Từ việc cả làng làm chiếu cói, nay chỉ còn vài hộ. Trong sâu thẳm của những người còn giữ nghề, mỗi tấm chiếu như một sản phẩm tinh thần gắn trọn cuộc đời với họ, không dễ gì phôi pha dù giờ đây khung dệt không còn nhiều.
Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại đang ngày một hối hả, tại Làng nghề nón lá Gò Găng phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai (trước đây là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), những nghệ nhân vẫn lặng lẽ chằm nên những chiếc nón lá trắng ngà, mộc mạc mà tinh tế.
Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, tại bon làng Liêng Trang (xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng), nghệ nhân Ntơr Ha Bang vẫn lặng lẽ gắn bó với nghề đan lát truyền thống của người K’ho. Từ những vật dụng sinh hoạt giản dị đến các sản phẩm mang giá trị nghệ thuật, mỗi đường đan của ông không chỉ tạo nên hình hài sản phẩm mà còn lưu giữ ký ức văn hóa, góp phần gìn giữ một nghề truyền thống đang dần mai một.
Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

LNV - Kế thừa nghề gốm truyền thống của gia đình, anh Vũ Khánh Tùng (CEO Bát Tràng Museum) lựa chọn một lối đi khác biệt: ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu sâu hơn giá trị hoa văn, biểu tượng gốm cổ, từ đó sáng tạo, bảo tồn và làm mới nghề gốm trong đời sống đương đại, mà vẫn giữ trọn tinh thần di sản.
Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

LNV - Ở tuổi 80, Nghệ nhân Ưu tú, già làng A Vẽ (thôn Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn miệt mài chế tác và biểu diễn các nhạc cụ dân tộc Giẻ Triêng, mang âm thanh núi rừng hòa vào đời sống đương đại, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào vùng cao.
Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề chạm khắc sừng truyền thống, nghệ nhân, cựu chiến binh Nguyễn Văn Sử (làng Thụy Ứng, xã Thường Tín, TP Hà Nội) vẫn bền bỉ gìn giữ và thổi hồn cho từng sản phẩm thủ công, góp phần bảo tồn tinh hoa làng nghề giữa nhịp sống hiện đại.
Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

LNV - Những ngày cuối năm âm lịch, trên các cánh đồng quất ở phường Hội An Tây (Đà Nẵng), nông dân tất bật cắt tỉa, chăm sóc, hoàn thiện những công đoạn cuối cùng để kịp cung ứng quất cảnh cho thị trường Tết Nguyên đán 2026. Với diện tích trồng lớn, sản lượng dồi dào và đầu ra ổn định, vụ quất năm nay mang lại niềm vui và kỳ vọng về một mùa Tết đủ đầy cho người trồng quất địa phương.
Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán, tại nhiều địa phương trong tỉnh Tây Ninh, không khí sản xuất các đặc sản truyền thống như khô bò, bánh mứt và muối tôm trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Dù đối mặt với biến động chi phí và sức mua chưa thật sự bứt phá, các cơ sở vẫn nỗ lực duy trì nhịp sản xuất, giữ vững chất lượng và hương vị truyền thống, đáp ứng nhu cầu thị trường Tết.
Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

LNV - Thiếp chúc mừng năm mới của Chủ tịch nước là thông điệp mở đầu cho năm 2026 với tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

LNV - Đội ngũ nghệ nhân và người có uy tín được xem là “báu vật nhân văn sống” của Lạng Sơn, giữ vai trò quyết định trong bảo tồn, thực hành và phát huy kho tàng văn hóa truyền thống. Họ đồng thời là cầu nối giữa chính quyền với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo an ninh và thúc đẩy phát triển địa phương.
Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

LNV - Những làng nghề truyền thống như đúc đồng Trà Đông, rèn Tất Tác hay mộc Đạt Tài đang trở thành những “kho tàng sống” của văn hóa xứ Thanh. Dù nghề thủ công phải thích ứng với yêu cầu thị trường và công nghệ mới, người dân nơi đây vẫn bền bỉ giữ nghề, giữ lửa, truyền lại tinh hoa cho thế hệ trẻ, tạo nên sức sống bền vững cho di sản trong nhịp sống hiện đại.
Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

LNV - Những ngày cuối năm, không khí làm việc tại làng nghề may mùng, mền xã Bình Hòa (An Giang) trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Các cơ sở tăng ca sản xuất, còn lao động “vệ tinh” tranh thủ từng giờ rảnh để kịp giao hàng, đáp ứng nhu cầu mua sắm Tết đang tăng mạnh trên thị trường.
Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

LNV - Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở xã Châu Phong (An Giang) đã tồn tại hơn hai thế kỷ, trở thành biểu tượng văn hóa gắn liền với đời sống cộng đồng Hồi giáo Chăm. Được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia vào năm 2023, thổ cẩm Châu Phong ngày càng khẳng định giá trị khi hòa mình vào dòng chảy du lịch, thu hút đông đảo du khách đến khám phá và trải nghiệm.
Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

LNV - Làng nghề được xem là nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa dân tộc và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân. Tuy nhiên, đằng sau những sản phẩm thủ công tinh xảo là nỗi lo về sức khỏe của người lao động, những con người ngày ngày tiếp xúc với khói bụi, hóa chất, tiếng ồn và nhiệt độ cao trong điều kiện làm việc thiếu an toàn.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
TP. HCM năm 2025 - Năm bản lề kiến tạo siêu đô thị

TP. HCM năm 2025 - Năm bản lề kiến tạo siêu đô thị

(LNV) - Ngày 10/1, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) công bố 12 dấu ấn nổi bật của Thành phố trong năm 2025, phản ánh một năm bản lề với
Chuyện nhà “ Hải sản” ở xóm Đồng

Chuyện nhà “ Hải sản” ở xóm Đồng

LNV - Xóm Đồng thôn An Khoái (xã Thanh Miện, thành phố Hải Phòng) vốn là một mảnh đất thuần nông, nơi tiếng gà trưa và tiếng lạch cạch của xưởng may đôi khi là thanh âm chủ đạo. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, bầu không khí xóm nhỏ bỗng trở nên “mặn mòi”
Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

LNV - Làng nghề đường phèn ở Ba La - Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng.
Hà Nội - Điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới

Hà Nội - Điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới

LNV - Dấu ấn nổi bật là Thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cấp Thành phố năm 2024 (về trước 1 năm so với kế hoạch). Đồng thời là địa phương ch). Đồng thời là địa phương đứng đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới với các con số
Ninh Bình công nhận 34 sản phẩm OCOP

Ninh Bình công nhận 34 sản phẩm OCOP

OVN - Mới đây UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành quyết định số 1882/QĐ – UBND về việc công nhận kết quả đánh giá sản phẩm OCOP trên địa bàn toàn tỉnh năm 2025 đối với 34 sản phẩm.
Giao diện di động