Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Nghề chằm nón lá

LNV - Có nhiều câu hỏi về nguồn gốc của chiếc nón đan bằng lá đơn sơ ấy có lịch sử từ khi nào? Tổ nghề là ai? Những câu hỏi này đến nay vẫn không ai trả lời được. Nhiều tài liệu cho rằng chiếc nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ 13, đời nhà Trần. Theo các nghiên cứu của các nhà khoa học, hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 – 3000 năm về trước.

“Tôi chưa về con sông quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Trong đoạn thơ “Người con gái chằm nón” bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi. Hình ảnh người con gáivới chiếc nón lá dịu dàng, bình dị đã làm tôn lên vẻ đẹp củaphụ nữ Việt, là cảm hứng nghệ thuật của bao văn nhân, nghệ sĩ cũng như đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ.Chiếc nón lá không chỉ là vật dụng thiết thân, người bạn thủy chung với người lao động dùng để đội đầu che mưa, che nắng khi ra đồng, đi chợ, là chiếc quạt xua đi những giọt mồ hôi dưới nắng hè gay gắt, mà còn là vật làm duyên, tăng nét nữ tính của người phụ nữ.

Nghề chằm nón lá

Nhiều tài liệu cho rằng chiếc nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ 13, đời nhà Trần. Theo các nghiên cứu của các nhà khoa học, hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 – 3000 năm về trước. Dù có nhiều giai thoại, trải qua nhiều sự biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau, từ chiếc nón hình tròn ở miền Bắc xưa đến nón tròn dẹt, nón quai thao và nón chóp Huế. Nón dạng hình chóp vành rộng, tròn,giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng tre, hoặc trúc vừa đủ ôm khít đầu người đội, có dây đeo làm bằng vải để giữ trên cổ. Đây là nón hiện được sử dụng phổ biến bởi mặt tạo khối vững vàng, vừa nâng cao được hiệu quả thẩm mỹ, vừa có chiều sâu để phục vụ được việc che mưa, che nắng nhiều hơn và trở thành một món đồ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người Việt từ bao đời nay.

Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nghề chằm nón thủ công truyền thống vẫn được duy trì và tồn tại truyền nghề từ đời cha mẹ, sau đó đến đời con cháu, cứ thế truyền từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay. Trên đất nước ta cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều có nhiều làngnghề làm nón lá nổi tiếng và mỗi loại nón ở từng địa phương đều mang sắc thái riêng.

Nghề chằm nón lá

Ở miền Bắc nổi tiếng làm nón với làng nón Chuông nằm ở huyện Thanh Oai, Hà Nội là loại nón bền đẹp vào loại nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ; Nón Lai Châu của đồng bào Thái; nón Cao Bằng của đồng bào Tày sơn đỏ; Nón Thanh Hoá có 16-20 vành.

Dọc miền Trung có nón Ba Ðồn (Quảng Bình), làng nón Hạ Thôn, xã Quảng Tân, huyện Quảng Trạch, Quảng Trị. Đến cố đô Huế lại phát triển mạnh mẽ với nhiều làng nón như Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ… Đặc trưng của sản phẩm nón lá Huế không chỉ là những chiếc nón thông thường mà còn là một tác phẩm nghệ thuật, độc đáo nhất trong đó là nón bài thơ. Ở Quảng Nam có làng nón Duy Xuyên; Quế Minh nón được làm ra mỏng nhẹ và dáng thanh thoát. Làng nón Gò Găng, Thuận Hạnh, Phú Gia ở Bình Định có lịch sử lâu đời chuyên sản xuất nón Ngựa cao cấp cung ứng cho triều đình, quan lại, phú gia vào thời phong kiến, ngày nay tùy nhu cầu của khách hàng các làng có thể làm ra những chiếc nón đơn giản hoặc tinh tế cao cấp.

Nghề chằm nón lá

Miền Nam có những xóm nghề, làng nghề chằm nón như: Làng Tằm Lanh, xã Trung lập Thượng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; Ở Tây Ninh có làng nón ấp An Phú, An Hòa (Trảng Bàng); Làng nón lá Ninh Sơn (Thị xã Tây Ninh), nón được làm có độ bền cao, khi gặp mưa vẫn thẳng, không bị dúm lại như các loại nón khác; Nón ở ấp Thới Tân A, huyện Thới Lai (TP.Cần Thơ) nón lá thành phẩm sẽ được quét một lớp dầu bóng pha với xăng nhằm chống thấm nước, tăng độ bóng, độ bền cho sản phẩm. Đây là đặc điểm giúp nón lá Thới Lai được ưu chuộng rộng rãi trên thị trường. Làng nón ở thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long lá nón được làm bằng lá mật cật(loại cây nhỏ, thấp có lá xòe rộng như lá cọ, mọc thành từng đám ở Tây Ninh, Phú Quốc, Cà Mau. Mỗi cây mật cật chỉ có 1 lá non và được người ta chọn để làm nón) và cây trúc là nguyên liệu chính để làm nón. Riêng làng nón Hòa Bình (huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), thì sử dụng lá buông để chằm nón.Những làng nghề này đã tạo ra các sản phẩm công phu cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.

Nghề chằm nón lá

Các làng nghề chằm nón rất phát triển vào những năm sau giải phóng, sản phẩm làm ra vào thời gian này bán rất chạy, vì rẻ và tiện dụng. Cho nên, số hộ làm nghề chằm nón ngày càng tăng. Nhưng thời gian gần đây, cuộc sống ngày càng hiện đại, người dân ít sử dụng nón lá, thì số hộ gia đình tham gia chằm nón trong các làng nghề ngày càng ít.

Nghề chằm nón lá có nhiều công đoạn, nhưng việc chằm nón đòi hỏingười thợ ở các làng nghề phải có sự chăm chỉ, cần mẫn và sự khéo léo của đôi bàn tay. Cho nên, nhân lực trong các làng nghề chủ yếu là phụ nữ, nam giới có chăng chỉ làm mô, vót vành… Vì thế, nghề chằm nón được coi là nghề dành riêng cho phụ nữ.Phụ nữ làm nghề có nhiều độ tuổi khác nhau, làm nhiều công việc khác nhau, nên khi làm nghề thì thời gian tham gia vào công việc cũng không giống nhau. Hiện nay, nghề chằm nón lá có giá thành không cao, nhưng cũng tạo ra thu nhập ổn định cho người làm nghề. Đây cũng là công việc phù hợp cho chị em làm vào thời điểm nông nhàn hay tận dụng những giờ rảnh rỗi để kiếm thêm thu nhập cho gia đình.

Nghề chằm nón lá

Chiếc nón lá vừa đẹp, vừa bền được hoàn thành, là cả một nghệ thuật và công phu của những nghệ nhân, đòi hỏi sự tỉ mỉ trong từng công đoạn của quy trình sản xuất, cần rất nhiều nguyên liệu, vật dụng cũng như công sức và thời gian. Vật dụng làm nón gồm: Lá, chỉ nylon, tre (hoặc trúc, giang), dầu bóng, dây đeo… Dụng cụ để chằm nón gồm các loại như: Mác-dùng để vót niềng; Kéo-dùng để cắt tỉa lá; Kim-dùng để xỏ lá và chằm; Lò than- dùng để hơ nóng lá khi vuốt; Miếng gang hoặc sắt-dùng để kê lá vuốt cho thẳng; Cục vải- dùng để vuốt lá; Mô nón (còn gọi là khuôn, khung) được làm từ loại gỗ nhẹ, mái cong đều hình chóp. Mô chằm được ghép bởi những thanh gỗ theo hình chóp, kích thước bằng chiếc nón lá. Trên mỗi thanh gỗ được khắc sâu xuống 16 vạch theo khoảng cách ngắn dần từ dưới lên trên đỉnh chóp. Để hình dáng của chiếc nón lá sau này cân đối, đẹp mắt, vừa ý, người thợ làm mô nón cần giữ được kỹ thuật tạo dáng, khoảng cách giữa các vành và độ tròn của vành… như một thứ gia bảo cha truyền con nối, theo một thẩm mĩ dân gian “hay mắt” mà thật ra là cả một tỉ lệ thích hợp đã được nhiều đời và nhiều vùng kiểm nghiệm “thuận mắt ta ra mắt người”.

Một chiếc nón lá hoàn hảo được làm ra, người thợ phải tỉ mỉ từ khâu chọn lá, phơi lá, vuốt lá. Lá làm nón tùy mỗi vùng miền và tùy làng nghề có thể dùng lá dừa, lá mật cật, lá buông, lá cọ… Lá phải non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh. Một chiếc nón đạt tiêu chuẩn phải có màu trắng xanh với những gân lá vẫn còn màu xanh nhẹ, mặt lá phải bóng, khi nón đan lên phải nổi những gân lá màu xanh đẹp mắt. Sau khi chọn được lá nón tốt, người thợ phải mang tàu lá nón đi được luộc chín, phơi và vuốt thẳng, bằng cách dùng một miếng gang (sắt)đặt trên bếp lò được đốt nóng, lửa phải vừa độ, không nóng quá, không nguội quá. Sau đó, đặt lá lên dùng cục vải vuốt cho đến khi thẳng bóng, nhưng không được để lá bị ngả vàng và đem phơi rồi ủ khô sao cho luôn giữ màu xanh-trắng tự nhiên.Để làm đươc điều đó, người thợ phải biết sử dụng lực đôi tay, đồng thời biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa tay đè và tay vuốt. Lá sau khi vuốt xong được cắt xéo góc với cùng độ dài là 50cm, rồi kết lại từng xâu.

Nghề chằm nón lá

Ngoài lá nón, vành nón cũng là bộ phận hết sức quan trọng của chiếc nón. Vành nón chính là xương sống của nón.Với cây mác sắt, những người thợ làm nón chuốt từng nan tre (nhiều làng nghề dùng cây trúc, hoặc cây giang) sao cho tròn đều, bóng bẩy và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ lớn hơn que tăm một chút. Mỗi cái nón sẽ có 16 nan tređược uốn thành những vòng tròn. Vòng to nhất có đường kính khoảng 50cm, những vòng tiếp theo càng lên đỉnh càng nhỏ dần, vòng nhỏ nhất chỉ bằng đồng xu. Những vòng ấy sẽ được đặt vào mô theo những vạch khắc sẵn bằng gỗ hình chóp theo vị trí từ dưới lên và từ lớn đến bé. Vành nón phải đều tăm tắp, không được méo mó, xộc xệch thì mới tạo ra được những chiếc nón đẹp.

Sau công đoạn xếp vành lên mô là công đoạn xây (có nơi gọi là lợp) lá trên mô.Công đoạn này rất quan trọng, đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm mới xoay lá đều, đẹp. Mỗi chiếc nón gồm có từ 2 hoặc 3 lớp lá, tùy từng làng nghề. Những chiếc lá được xếp ngay ngắn lên mô nón.Khi xây lá, người làm phải thật sự khéo léo và đều tay để những chiếc lá không bị chồng lên nhau hay xô lệch. Sau đó, người thợ sẽ dùng một cái vành, chụp lên bên ngoài mô nón để giữ cho lá nằm cố định, giúp người thợ chằm được dễ dàng.

Nghề chằm nón lá

Giai đoạn chằm (hay còn gọi là khâu) nón là phần quan trọng nhất. Để làm nên một chiếc nón bền, đẹp đòi hỏi người khâu phải có đôi tay khéo léo giữ cho các lớp lá trên nón không rách và giúp chiếc nón được phẳng, không tạo nên nếp nhăn hoặc lồi lõm. Người thợ bắt đầu chằm nón bằng kim và chỉ nylon dẻo mỏng như sợi chỉ, có độ dai, màu trắng trong suốt. Người thợ cầm kim cũng phải thật mềm mại, mỗi mũi kim phải thẳng, đều như thêutừ trong ra ngoài, khoảng cách giữa những mũi kim vừa phải, không xa quá, không lộ chân kimvà giấu đi được những mối chỉ nối thì mới tạo ra sản phẩm chiếc nón đẹp.Những đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng sẽ gắn chặt lá nón và vành lại với nhauvà xoay tròn để làm sao lá đầu chóp nón cho khéo để chiếc nón lá được thẩm mỹ, thể hiện cái “hồn” của người thợ vào trong nón lá.

Quy trình cuối cùng là nức vành, đây là công đoạn khá quan trọng, người thợ sẽ vót 01 cọng nan có thân dẹp gọi là cây tiến, cặp vào vành nón số 16 để khi nức, vành nón được tròn và chắc chắn, nón sử dụng được lâu bền.Ngoài ra, người thợ còn trang trí bên trong của chóp nón bằng chỉ thêu màu đỏ, xanh, hồng,… hình ngôi sao hay hình cái bông để tăng thêm nét đẹp cho sản phẩm của mình.Chiếc nón hoàn thành xong được quét một lớp dầu bóng để chiếc nón không bị mốc, tăng độ bền lâu và thêm tính thẩm mĩ. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên. Quai nón thường làm từ nhung hoặc lụa với nhiều màu sắc khác nhau: cam, đỏ, hồng, tím…để làm tăng thêm nét duyên cho người đội. Người thợ sau khi làm xong thường sẽ trang trí lên nón những bài thơ bên trong hoặc những hình vẽ mỹ thuật bên trên hay thêu chỉ đẹp mắt.

Nghề chằm nón lá

Trong cuộc sống hiện đại hóa hiện nay, những người thợ thủ công trong các làng nghề vẫn tỉ mỉ, khéo léo từng ngày làm nên những chiếc nón lá đẹp, bền với lòng nhiệt huyết yêu nghề, yêu cái đẹp mộc mạc của chiếc nón lá. Họ vẫn đang âm thầm níu giữ lấy cái nghề làm nên nét đặc sắc quê hương – giữ lấynhững giá trị cốt lõi về văn hóa nón lá Việt Nam. Đặc biệt, nón lá đãgóp phần tôn vinh vẻ đẹp, nét duyên dáng, sự bình dị của người phụ nữ Việt Nam.Giờ đây, nón lá Việt Nam không chỉ phổ biến trong nước mà còn được giới thiệu trên thị trường quốc tế. Hiện nay,nhằm thu hút khách du lịch đồng thời quảng bá nền văn hóa nước nhà, nhà nước đang đẩy mạnh đầu tư để duy trì và phát triển các làng nghề trở thành hình mẫu du lịch lý tưởng trong tương lai.Chắc hẳn khi đặt chân đến dải đất hình chữ S, cầm trên tay một chiếc nón lá, mỗi du khách sẽ có những ấn tượng và trải nghiệm thú vị.

Nguyễn Thị Vân Huệ

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ - Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm - Trưng bày

Nguyễn Thị Vân Huệ

Tin liên quan

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

LNV - Xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững cho làng nghề Hà Nội nói chung và ngành thủ công mỹ nghệ nói riêng đang là bài toán nan giải, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên và giải pháp đồng bộ.
Gìn giữ và phát huy nghề truyền thống của đồng bào Hrê ở huyện Ba Tơ

Gìn giữ và phát huy nghề truyền thống của đồng bào Hrê ở huyện Ba Tơ

LNV - Giữa dòng chảy hiện đại hóa, những nghề truyền thống như dệt thổ cẩm và đan lát của đồng bào Hrê ở huyện Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi) vẫn được gìn giữ bền bỉ qua nhiều thế hệ. Không chỉ mang giá trị thẩm mỹ cao, các sản phẩm thủ công còn là biểu tượng văn hóa độc đáo, gắn liền với đời sống núi rừng và tâm hồn người Hrê. Nhờ đôi bàn tay khéo léo của những nghệ nhân, những nghề xưa không chỉ sống lại mà còn trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch cộng đồng địa phương.
Làng nghề dệt lanh Lùng Tám – Nét văn hóa Mông trên Cao nguyên đá

Làng nghề dệt lanh Lùng Tám – Nét văn hóa Mông trên Cao nguyên đá

LNV - Lên Cao nguyên đá, nhiều du khách sẽ tìm đến với Làng nghề dệt vải lanh Lùng Tám, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ. Nơi đây nổi tiếng với việc gìn giữ, phát huy hiệu quả nghề truyền thống của Hợp tác xã lanh Lùng Tám, với 100% thành viên là phụ nữ người Mông. Sự cần cù, sáng tạo từ những sợi lanh đã cho ra đời nhiều sản phẩm thủ công rất đẹp, mang đậm bản sắc truyền thống. Chính điều này đã giúp cho Làng nghề dệt vải lanh Lùng Tám trở thành một điểm du lịch trải nghiệm cực kỳ hấp dẫn và thu hút rất đông du khách.

Tin mới hơn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện trọng điểm gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

LNV - Với 397 sản phẩm, bộ sản phẩm của 185 tổ chức, cá nhân và nghệ nhân tham gia, Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026 đang cho thấy sức sáng tạo và khả năng thích ứng ngày càng rõ nét của các cơ sở, nghệ nhân làng nghề Thủ đô. Từ những chất liệu quen thuộc, nhiều mẫu sản phẩm đã được làm mới bằng tư duy thiết kế hiện đại, hướng tới thị trường và phát triển bền vững.
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

LNV - Nhiều sản phẩm OCOP có chất lượng, mang đậm bản sắc địa phương nhưng chưa được khai thác hiệu quả trong hoạt động du lịch. Kết nối không gian sản xuất với trải nghiệm, dịch vụ và thị trường được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra và tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

LNV - Ngày 6/10, UBND xã Ninh Phước (tỉnh Khánh Hòa) cho biết công tác chuẩn bị cho Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc lần thứ I năm 2026 đang được gấp rút hoàn thiện. Sự kiện được tổ chức với quy mô cấp xã mở rộng, có sự phối hợp và tham gia của nhiều địa phương lân cận.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Tối 8/10, tại Hà Nội, Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026 chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và tôn vinh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiêu biểu. Sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò của hội chợ làng nghề trong việc đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với thị trường, người tiêu dùng và du khách.

Tin khác

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Hội chợ Làng nghề Việt Nam năm 2026 là dịp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và nhiều sản phẩm đặc trưng vùng miền.
Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nghề khảm trai ở làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, TP. Hà Nội) vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, kết tinh trong từng đường nét chạm khắc tinh xảo. Tuy nhiên, trước sức ép của thị trường và nguy cơ thiếu hụt lao động kế cận, làng nghề đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn những giá trị truyền thống, vừa đổi mới sản phẩm, mở rộng thị trường để tạo động lực phát triển bền vững.
Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng 8/10, tại Cung Triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch xây dựng Quốc gia, Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2026 (Hanoi Giftshow 2026) chính thức khai mạc. Với quy mô 500 gian hàng của 230 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất đến từ Hà Nội và 15 tỉnh, thành phố, Hội chợ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm kết nối quan trọng giữa nghệ nhân, làng nghề, doanh nghiệp với thị trường trong nước và quốc tế.
Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

LNV - Trải qua hơn 200 năm hình thành và phát triển, làng nghề tre trúc Xuân Lai, xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh vẫn gìn giữ kỹ thuật hun tre nguyên cây như một bí quyết riêng. Từ ngọn lửa, làn khói và kinh nghiệm của người thợ, những thân tre xanh được khoác lên sắc nâu trầm đặc trưng, tạo nên dấu ấn khó trộn lẫn của sản phẩm Xuân Lai trên thị trường.
Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

LNV - Nghề làm nón lá truyền thống không chỉ là nghề mưu sinh mà còn là biểu tượng của nét đẹp văn hóa, đang đổi mới để phù hợp với thời đại.
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo tồn không gian sản xuất và từng bước mở hướng phát triển gắn với du lịch trải nghiệm.
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

LNV - Gần 30 năm qua, ngôi nhà của Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh tại ấp Kos Sla, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long luôn rộn ràng với công việc chế tác mão và mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

LNV - Từ những chiếc lá lụi đơn sơ, những thanh tre chẻ nhỏ dẻo dai, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân thôn Đan Du (xã Kỳ Khang, tỉnh Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc, thanh thoát đã được tạo nên. Trải qua bao thăng trầm và đổi thay của thời đại, người dân Đan Du vẫn ngày đêm cần mẫn bên khung nón, vành tre và đường kim quen thuộc. Từ nếp nhà nhỏ bình dị, mỗi chiếc nón ra đời không chỉ che mưa che nắng cho biết bao người, mà còn mang theo vẻ đẹp duyên dáng, tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới  từ thị trường và trải nghiệm

Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm

LNV - Trước sức ép cạnh tranh và sự thay đổi nhanh của thị hiếu tiêu dùng, nhiều làng nghề truyền thống đang chủ động tìm hướng thích ứng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tế tại Đà Nẵng và TP Huế cho thấy, khi nghề truyền thống được đặt trong một không gian phát triển mới, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng mà còn được bồi đắp từ câu chuyện văn hóa, trải nghiệm và bản sắc của mỗi vùng đất.
Tinh hoa làng nghề Hà Nội  Tinh hoa làng nghề Hà Nội   trong dòng chảy sáng tạo

Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo

LNV - Gần 300 sản phẩm, bộ sản phẩm của 183 tác giả đã hội tụ tại Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026. Từ những kỹ thuật được gìn giữ qua nhiều thế hệ đến tư duy thiết kế, thương mại và hội nhập mới, hội thi cho thấy sức sống của làng nghề Thủ đô đang được tiếp nối bằng cả bàn tay tài hoa và khát vọng đổi mới
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Chiều 28/9, tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Lễ trao giải Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Nguồn kinh phí khuyến công tại Quảng Ninh đã phát huy vai trò như một dòng “vốn mồi” quan trọng
Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

hong trào tại Lai Châu ghi nhận thành công nhờ sự đồng thuận và huy động nguồn lực của nhân dân, thúc đẩy phát triển bền vững vùng quê.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026
Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ đàn chim cút thương phẩm quy mô tại Quảng Trị đến việc khôi phục giống vịt bản địa ở Sơn La, các mô hình chăn nuôi phù hợp địa phương đang giúp nâng cao thu nhập cho người dân
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động