Thứ năm, 10-06-2021 | 14:26GMT+7

Làng nghề trồng cói, dệt chiếu Công Thạnh

LNV - Đến tham quan làng nghề trồng cói, dệt chiếu khu phố Công Thạnh, chúng tôi rất ấn tương khi thấy những bó cói (lác) mới cắt về, và cả những loại cói mới được nhuộm phẩm màu, với các sắc màu vàng, đỏ, xanh, tím được phơi khắp hai bên lề đường, sân ngõ… Ngoài cánh đồng khu phố Công Thạnh, mới tảng sáng, những người thu hoạch cói đã lom khom trên ruộng, tay liềm tới đâu, cói ngã rạp tới đó. Nắng dần lên, tô màu sáng óng ánh lên từng bó cói xanh um.
Khu phố Công Thạnh, xã Tam Quan Bắc (Hoài Nhơn- Bình Định nguyên là “thôn thuần nông”. Tuy vậy, diện tích đất giành cho sản xuất nông nghiệp ở đây khá hạn chế. Toàn khu phố có gần 80 ha ruộng sản xuất lúa nhưng trong đó có hơn 20 ha mặt nước bị nhiễm phèn nặng, không thể canh tác các loại cây lương thực nào ngoài cây cói và cũng chính nhờ cây này đã giúp cho người dân nơi đây có thêm nghề trồng cói, dệt chiếu. Năm 2008, được UBND tỉnh Bình Định công nhận là làng nghề truyền thống.
 

Một góc làng nghề trồng lát dệt chiếu thôn Công Thạnh 

Theo các bậc cao niên trong làng, cây cói còn gọi là lác, loại cây thân thảo, mềm, xốp, mọc hoang nơi đầm lầy hoặc trồng trên ruộng chua phèn. Khi trưởng thành, cói cao ngang ngực người lớn. Cói là nguyên liệu chính nhưng phải “se duyên” với đay thì cói mới thành chiếu. Cây đay thường mọc ở những vùng bãi bồi. Người ta bóc lớp vỏ mềm và dai của đay để se thành sợi. Nhiều sợi đay căng dọc khung cửi để từng sợi cói đan ngang. Ngoài ra, nhờ tính chất mềm mại, dẻo dai, chịu lực tốt, đay còn được bện thành sợi bằng đầu đũa con để đan võng. Mấy trăm năm rồi, ở vùng quê vẫn còn kẽo kẹt tiếng võng đưa.

Ruộng cói ở của làng nghề dệt chiếu Công Thạnh.

Cư dân khu phố Công Thạnh cho hay, thời gian giữa hai lần thu hoạch cói là trên dưới 100 ngày. Gánh cói về nhà, cói được chẻ làm hai, phơi một nắng rồi nhuộm phẩm bốn màu: đỏ, xanh, vàng, tím. Sự khéo léo của người thợ là phối kết những sợi cói đã nhuộm để dệt nên hình hoa lá và những chữ Nho (thường là Phước, Lộc, Thọ) trên tấm chiếu. Dệt xong, chiếu được cắt biên cho gọn. Cuối cùng là “tém” bốn biên chiếu bằng vải điều, gọi là may biên. Lại phơi thêm vài nắng nữa cho chiếu khô ráo, thơm tho trước khi chào bán. Trong làng, nhà nào có từ 1 đến 2 khung dệt cùng nhiều trang bị máy dệt chiếu. Được biết hộ có sẵn ruộng trồng cói thì có nguồn thu cao hơn so với người làm gia công hoặc mua nguyên liệu lát các nơi về dệt, song công việc sản xuất lác nguyên liệu rất cực nhọc, không phù hợp với những hộ neo đơn, cao tuổi…

Người dân thôn Công Thạnh thu hoạch cây lác 

Hiện nay, khu phố Công Thạnh có hơn 500 khung dệt thủ công và máy dệt. Hàng năm người dân ở nay sản xuất và bán ra thị trường khoảng từ 700 đến 800 ngàn mét vuông chiếu, giải quyết cho hơn 500 lao động nông nhàn của địa phương, giúp tăng thêm nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Nếu thợ giỏi trung bình hàng ngày với hai công lao động phụ, họ có thể làm được từ 2,5 đến 3 đôi chiếu, giá mỗi chiếc chỉ từ 80.000 đến 100.000 đồng (tùy theo khổ). Sau khi trừ chi phí cho thu nhập từ 70.000 đến 100.000 ngàn đồng / người. 

Trước đây, người dân làm nghề theo kiểu thuần thủ công, sức cạnh tranh của sản phẩm kém. Mấy năm gần đây, người dân làm nghề đã đầu tư máy móc, năng suất tăng lên rất nhiều, mỗi ngày một thợ dệt có thể làm ra 10 - 15 chiếc chiếu. Vì vậy hiện nay, các hộ gia đình làm chiếu đều đầu tư thêm máy để tăng năng suất sản xuất và mang lại thu nhập ổn dịnh hơn. 
 

Ruộng cói ở của làng nghề dệt chiếu Công Thạnh.

Những năm qua, chính quyền xã đã quy hoạch và đưa vào khai thác làng nghề dệt chiếu cói Công Thạnh, với chủ trương lưu giữ nét đẹp của nghề truyền thống, đồng thời tạo ra những sản phẩm đặc trưng của người dân địa phương. 

Ông Võ Mai Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương (Bình Định), cho hay, thời gian tới, Sở sẽ phối hợp các đơn vị liên quan tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ máy móc, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại, thành lập các HTX làng nghề, nghề truyền thống để giúp các làng nghề phát triển ổn định, trong đó ưu tiên làng nghề có bề dày văn hóa, lịch sử để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị văn hóa gắn phát triển du lịch cộng đồng.
Bài, ảnh: Văn Kỳ