Hà Nội: 20°C Hà Nội
Đà Nẵng: 23°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 24°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 22°C Thừa Thiên Huế

Lãng mạn chuồn chuồn tre

LNV - Thân thiện mời khách ly trà nóng, nghệ nhân Nguyên Văn Tái, một trong những người có “thương hiệu” với nghề chế tác chuồn chuồn tre xuất khẩu ở xóm chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội) xúc động mở lời tâm tình: “Cái nghề sản xuất - kinh doanh chuồn chuồn tre với tôi cũng như bà con nơi đây nó chả khác nào một cái duyên tình đã được mặc định từ đời nảo đời nào ấy nhé!”.

“Chuồn chuồn có cánh thì bay

Kẻo thằng cu Tý thò tay bắt chuồn!”.

Nhấp ngụm trà thơm, bất giác anh Tái đưa mắt nhìn vào xa xăm như tìm kiếm điều gì đó. Và rồi ngay sau đó, những dòng hồi ức tinh khôi hiện ra trước mắt người nghệ nhân “có tiếng có tăm” ấy. Chuyện rằng, cách đây hơn 20 năm trời có lẻ, một ngày đẹp trời đó, cái xóm nhỏ thanh bình dân dã nằm dưới chân núi Câu Lâu trầm mặc uy nghiêm nơi có ngôi chùa cổ Tây Phương độc nhất vô nhị chợt trở nên sống động khác thường. Có cái sự ấy là bởi trong đoàn du khách viếng thăm chùa có một nhân vật mang theo chú chuồn chuồn chế tác bằng tre nhỏ xinh.

Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chú chuồn chuồn tre lạ mắt, đáng yêu tức thì người dân xóm chùa Tây Phương nổi máu hiếu kỳ xúm đen xúm đỏ quanh người lữ khách kia mà trầm trồ ngắm nghía, chỉ trỏ dẫu rằng cái sản phẩm đồ chơi đó chả lấy gì làm tinh xảo cho lắm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái mủm mỉm thổ lộ, lúc đầu chỉ là nhằm thỏa mãn cảm giác tò mò mà anh tìm cách ngó nghiêng con chuồn chuồn tre đó mà thôi.

Thế rồi, trong giây khắc ngắn ngủi đầy xúc cảm, ký ức tuổi thơ với những trưa hè tháng 5 râm ran tiếng ve sầu, đầu trần chân đất, Tái trốn cha, trốn mẹ lỉnh ra khỏi nhà để tìm tới hàng rào râm bụt trước ngõ; tới bụi tre gai sau nhà rón rén hồi hộp thò tay bắt những chú chuồn chuồn kim, chuồn chuồn ớt và chuồn chuồn ngô,... trong thế giới tự nhiên bao la, với muôn vàn sắc thái hưng phấn đầy thi vị.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái - một trong những người đầu tiên đến với nghề chế tác chuồn chuồn tre ở Thạch Xá.

Những kỷ niệm thuần khiết ấy chợt cựa quậy trỗi dậy bừng thức trong tâm thức thiêng liêng của anh Tái. Không dừng lại ở đó, nó thôi thúc anh tìm về với tuổi niên thiếu đầy hạnh phúc của mình. May sao, lúc bấy giờ trong nhà lại sẵn nguyên liệu tre pheo bởi nghề mây tre đan xuất khẩu trước đó vừa mới rã đám, anh Tái mò mẫm chế tác chú chuồn tre đầu tiên trong đời.

Anh Tái kể, mới đầu khi được nhìn con chuồn chuồn tre của vị khách nước ngoài ấy thấy nó thật đơn giản, chắc mẩm “một phát ăn ngay”, sẽ cho ra đời tức thì cả núi sản phẩm. Nhưng khi bập vào làm mới thấy vô cùng nan giải, thậm khó. Mà khó nhất là ở cái khoản làm thế nào để chú chuồn chuồn tre ấy giống y thật và đặc biệt, phải khiến cho nó trở nên thăng bằng trong mọi bối cảnh.

Nghĩ rằng mình không đến nỗi kém cạnh thiên hạ về cái gọi là “đường tài hoa” là mấy, vậy mà sau vài tháng trời mất ăn mất ngủ, song rốt cuộc vẫn không “chế” được một con chuồn chuồn tre cho ra hồn, thoáng phút chốc nọ anh Tái có cảm giác phân tâm. Nhưng, vốn không phải là người “cả thèm chóng chán”. Mà nhất là, cứ thấy đám con cháu trong nhà, ngoài giờ lên lớp ra chẳng biết lấy gì nếu không cắm mặt vào trò chơi điện tử hại mắt, anh Tái cho rằng mình không thể thối chí nản lòng.

“Phải làm ra bằng được con chuồn chuồn tre để tuổi thơ của bọn trẻ trở nên lãng mạn, có ý nghĩa!”. Hạ quyết tâm thế, lại được người vợ hiền động viên chia sẻ, cuối cùng sau bao ngày trầy trật phá đi làm lại. Và sau bao “đêm trắng” thao thức trăn trở cùng những mô hình các chú chuồn chuồn tre, cuối cùng vào “cái đêm cổ tích” ấy, anh Tái đã thành công, dẫu thành quả đầu tiên đó chưa thật sự mang lại cho anh cảm giác mĩ mãn tròn trịa.

Chú chuồn tre “đầu lòng” ra đời đã kích thích cảm hứng sáng tạo của anh Tái. Không muốn dừng lại ở sản phẩm “độc bản”, anh Tái “tiện tay” nhân thêm vài chú chuồn chuồn tre nữa, vừa là tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật, nâng cấp chất lượng thẩm mỹ vừa nhằm có thêm nhiều đồ chơi không chỉ cho riêng con cháu trong nhà mà còn trong phạm vi họ tộc.

“Đấy, mục đích ban đầu của tôi với chuồn chuồn tre chỉ đơn giản thế thôi!” - anh Tái chân thành giãi bày - “Nào ngờ, vào sáng sớm hôm đó cách đây hơn 20 năm, hai vợ chồng còn đang mắt nhắm mắt mở trên giường bỗng dưng có người tới gọi cổng đề nghị được mua chuồn chuồn tre!”. Nghe anh Tái kể về cơ duyên đó, tôi hồi hộp tôi đặt câu hỏi: “Cũng từ cái buổi sáng tinh sương đó mà anh “bắt được mạch thị trường” để biến những sáng tạo nghệ thuật của mình thành hàng hóa!”.

“Vâng, đúng thế anh ạ!” - anh Tái không hề giấu giếm - “Nhưng trong khi tôi còn chưa kịp thăng hoa với nghề thì, một ngày nọ, “cơn bão đầu ra” bất thình lình quét qua làng khiến cho bản thân và gia đình một phen khốn khổ chưa từng thấy!”. Nhưng rồi cơn chếnh choáng, hoang mang chấp chới ấy vụt qua mau trong tư tưởng anh Tái. “Thôi thì không thành hàng hóa thì thành đồ chơi cho trẻ con trong nhà và cũng là để vợ chồng có cái ngắm nghía cho nguôi nỗi nhớ tuổi thơ, nhưng nhất định phải “number one” hơn trước mới được!” - anh Tái tự tin an ủi mình.

Kể từ bữa đó, lại là những bữa quên ăn, những đêm mất ngủ cùng chú chuồn chuồn tre, anh Tái tìm mọi cách “nâng cấp” để nó trở nên tinh xảo hơn, sống động hơn. Trời không phụ lòng người, tới một ngày kia, đám cháu con trong nhà phải kinh ngạc kêu lên: “chuồn chuồn của bố Tái y như thật!”.

Còn chị Khương Thị Tân vợ anh Tái lặng người rưng rưng cặp mắt đẹp đầy nữ tính của mình mà “tâm phục, khẩu phục” tính kiên nhẫn cùng khả năng khám phá, sáng tạo nghệ thuật của chồng rồi thảng thốt bằng cái giọng như chỉ chực òa khóc, rằng: “không thể chê vào đâu được, chú chuồn chuồn của chồng em!”. Đấy cũng chính là khi cánh cửa thị trường thêm một lần nữa mở ra với anh Tái: lại có khách tìm tới ngỏ ý xin mua chuồn chuồn tre “đẹp miễn chê” của anh!

Anh Tái bảo, chỉ là con chuồn chuồn tre trông rất đơn giản, thế nhưng bản thân lại phải nếm trải biết bao lần hỏng ăn, tưởng cả đời không thể nên cơm cháo với nó. Lúc đầu là hằng ha sa số những bận “lên bờ xuống ruộng” vì không thể nào lắp được “đôi cánh thần tiên” vào thân chuồn chuồn cho thật cân xứng. Tới khi vượt cửa ải đó, anh Tái lại trải qua nhiều ngày đêm mất ăn mất ngủ chỉ bởi, những chú chuồn chuồn tre của mình không tài nào giữ được độ thăng bằng.

“Mà một khi chuồn chuồn không thể đậu được thì “thằng cu Tý thò tay bắt chuồn” thế nào được. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chẳng có ai thèm mua sản phẩm của mình ạ!” - gương mặt trở nên méo xệch, anh Tái hóm hỉnh thở hắt ra một tiếng, vẻ cực kỳ bi - hài. Nhưng, rồi một ngày nọ, khi đang ở “cuối đường hầm”, anh Tái bất ngờ phát hiện ra nguyên do tại sao mình lại phải trải qua cả trăm bận thất bại ê chề đầy những đắng cay như thế.


Những cánh chuồn chuồn tre rực rỡ sắc màu mang hồn quê hương Thạch Xá có mặt khắp bốn phương trời.

Không để khách phải chờ lâu, anh Tái cởi mở cho hay, cái lý do khiến cho mình phải khổ sở vì thất bại tưởng phức tạp vô cùng song hóa ra lại rất đơn giản. Ấy là, muốn “ăn tiền” của thiên hạ thì điều tiên quyết là ở vấn đề nguyên liệu “đầu vào”. Cụ thể là cây tre! Theo anh Tái, vùng Thạch Thất xứ Đoài mây trắng quê anh và cả Hà Nội mênh mông nói chung cũng như các địa phương vùng châu thổ sông Hồng “...đâu đâu cũng có lũy tre xanh rì rào ẩn hiện...” (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) song thật tiếc, tất cả chúng đều không thể trở thành thứ nguyên liệu quan trọng số một làm nên những chú chuồn chuồn tre được.

Nhớ lại thuở mới chập chững tiếp cận nghề làm chuồn chuồn tre, anh Tái kể, bản thân vốn dĩ rất hồn nhiên thành ra cứ đinh ninh rằng, tre nào mà chả là tre, dù ở miền xuôi hay mạn ngược. Mà đã là tre thì tất nhiên sẽ cho ra đời những chú chuồn chuồn “như ý”. Song, rốt cuộc, anh Tái đã quan niệm sai. Rồi chính bởi sự “bé cái nhầm” ấy của mình mà anh Tái phải “trả giá” với hết thất bại này tới đổ vỡ khác.

Sau cái cười hiền dung dị, anh Tái thủng thẳng lên tiếng: “Chẳng phải là nhà khoa học nên tôi không thể biết kết cấu thành phần cơ học của một cây tre đồng bằng khác với thứ cùng loài với nó tại vùng núi Tây Bắc ra sao. Nhưng một điều đơn giản mà tôi dám chắc: chỉ những cây tre bánh tẻ Tây Bắc mới “đủ tư cách” làm cho những chú chuồn chuồn của mình có “thần thái” để đậu thăng bằng được thôi anh ạ!”.

Vì lý do đó, mấy chục năm qua, anh Tái thường xuyên phải lặn lội khi thì Lào Cai, Yên Bái, lúc thì Tuyên Quang, Hà Giang, v.v... lùng mua cho được thứ tre “ngon lành” nhất. Mới hay cái nghề chế tác chuồn chuồn tre của anh Tái nó vất vả khổ sở, trầy xước công phu đến nhường nào. Nhưng, hóa ra sự khổ sở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân ấy nào chỉ dừng lại ở việc tìm ra thứ tre đạt độ chuẩn chỉ cho những chú chuồn chuồn.

Mua được tre rồi, việc đầu tiên, người ta phải làm là cạo bỏ hết phần vỏ (tinh tre) xanh bên ngoài. Sau đó tre được đem phơi hoặc sấy thật khô. Tiếp theo, người nghệ nhân bắt buộc phải tiến hành thêm 12 công đoạn tỷ mẩn, công phu và cực kỳ chính xác như thực hiện các phép tính toán học thì may ra mới có được những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô như ý.

“Cái khó nhất vì thuộc khâu quan trọng nhất, ấy là công đoạn ghép cánh vào thân những chú chuồn chuồn!” - anh Tái bỗng trở nên xúc cảm - “Nhất dáng nhì da!”. Dáng là linh hồn của sản phẩm, do đó phải gắn cánh chuồn chuồn vào thân sao cho chúng giữ được thăng bằng ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Muốn thế, hai cánh chuồn chuồn phải được căn đối xứng thật chính xác để nó tự thăng bằng khi đậu trên bề mặt của một cái đế nào đó hay ngay trên đầu ngón tay, thậm chí là một sợi chỉ!”.

Sau khi hoàn thành những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô, những người thợ mới chính thức tạo “phần hồn” cho chúng bằng việc quét sơn và vẽ họa tiết làm đẹp bằng hơn chục loại sơn màu khác nhau với muôn hình, muôn vẻ sắc thái được tạo nên bằng chính cảm hứng nghệ thuật mang hơi thở đời sống thôn quê dân dã. Được tạo hồn tạo vía, bấy giờ những chú chuồn chuồn tre vốn trước đó đã vô cùng tinh xảo và chắc chắn về độ bền rồi bỗng chốc càng trở nên bóng bẩy lung linh, sống động, như bay ra từ trong thế giới cổ tích sương khói vi diệu.

Gần 20 năm về trước, khi đã có được cái cảm giác phần nào tự tin về tương lai của mình, việc đầu tiên anh Tái nghĩ tới là xẻ gạo, san cơm của mình với những người xung quanh. Hiện thực hóa câu chuyện đó, anh Tái chủ động trân trọng mời những người bà con trong xóm ngoài làng vốn có “máu tình yêu” với chuồn chuồn và đặc biệt yêu nghề, say nghề tới xưởng của mình làm việc.

Giải thích về việc mình làm, anh Tái cười chất phác đoạn nhẩn nha thủ thỉ: “Bà con trong xóm, ngoài làng với nhau cả chứ nào phải “người dưng” đâu ạ. Mới lại “Ăn một mình đau tức. Làm một mình cực thân!”. Nhờ có duyên trời ban với con chuồn chuồn tre mà vợ chồng, con cái mình có bát ăn thì cũng nên mời bà con họ chung vui cùng để “tối lửa tắt đèn có nhau!”. Mà suy cho cùng, giúp người cũng chính là giúp mình cả thôi, anh ạ! Cũng chính nhờ có họ mà từ nhiều năm nay sản phẩm của tôi mới tự tin có mặt tại hàng loạt các thị trường khó tính, như Pháp, Nhật Bản, Mỹ và một vài quốc gia châu Âu khác đấy chứ!”.

Trước khi nói lời chia tay, khách được nghệ nhân Nguyễn Văn Tái phấn chấn cho biết, ngoài việc chia sẻ thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật của mình với rất nhiều bà con địa phương, mấy năm gần đây anh còn phối hợp với một số tổ chức xã hội, như Cenforchil - Trung tâm Nghiên cứu và Bảo trở trẻ em, trực thuộc Liên hiệp các hội KH-KT Việt Nam. Và nữa là tổ chức MyHanoi (Việt Nam) thực hiện dự án nghiên cứu - bảo tồn đồ chơi dân gian Việt.

Anh Tái bỗng trở nên xúc động lạ thường khi bộc bạch, thông qua hai tổ chức nói trên, mấy năm qua đã có hàng triệu chú chuồn chuồn tre ngộ nghĩnh của mình đến được với rất nhiều thiếu nhi. Chính những chú chuồn chuồn tre tinh xảo, ngộ nghĩnh, sinh động của anh Tái đã khỏa lấp khoảng thiếu thụt, trống vắng ký ức tuổi thơ trong tâm hồn của biết bao trẻ em Hà Nội cũng như tại nhiều vùng, miền khác của nước Việt thời công nghệ 4.0.

Theo An Ninh Thủ Đô

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

LNV - Những ngày giáp Tết Nguyên đán, làng nghề bánh đa Dụ Đại (xã Quỳnh An) rộn ràng tiếng máy, đỏ lửa suốt ngày đêm để kịp phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, vừa giữ gìn hương vị truyền thống từ hạt gạo quê, vừa tạo sinh kế bền vững cho hàng trăm lao động nông thôn.
Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

LNV - UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc. Quy hoạch nhằm bảo tồn không gian làng nghề truyền thống, phát huy giá trị văn hóa lịch sử của nghề dệt lụa, đồng thời tạo nền tảng phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống người dân địa phương.
Gốm Ngọc Phù Lãng:  Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

Gốm Ngọc Phù Lãng: Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

LNV - Từ nguồn đất đỏ quý của vùng Cung Kiệm, qua bàn tay sáng tạo của thế hệ nghệ nhân trẻ, cơ sở Gốm Ngọc Phù Lãng (Bắc Ninh) đang thổi một diện mạo mới cho gốm truyền thống Kinh Bắc. Đón Tết cổ truyền 2026, đơn vị đã ra mắt linh vật “Ngựa hoan hỉ” cùng nhiều dòng sản phẩm sinh thái, kết hợp giữa tinh hoa thủ công và triết lý văn hóa Việt.
Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

LNV - Giữa làn sóng đô thị hóa và sự cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường hiện đại, nghề gốm truyền thống vẫn âm thầm tồn tại và chuyển mình nhờ những người trẻ dám dấn thân, dám đổi mới và kiên trì với giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Trong số đó, hành trình của họa sĩ thiết kế Hải Gốm – Nguyễn Văn Hải, người sáng lập thương hiệu Hceramic, là một lát cắt sinh động về cách thế hệ trẻ đang viết tiếp câu chuyện làng nghề bằng tinh thần sáng tạo, khoa học và trách nhiệm xã hội.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

LNV - Năm 2025, danh hiệu Nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng cho Nguyễn Tấn Phát đã để lại nhiều xúc động trong giới thủ công mỹ nghệ. Không chỉ bởi những cống hiến bền bỉ với nghề sơn mài, mà còn bởi anh là nghệ nhân ưu tú trẻ nhất được vinh danh trong đợt phong tặng này – một dấu mốc cho thấy sự tiếp nối đầy triển vọng của các làng nghề truyền thống Việt Nam.
“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

LNV - Hà Nội đang đẩy mạnh “xanh hóa” các làng nghề truyền thống thông qua quy hoạch đồng bộ, ứng dụng công nghệ sạch, hoàn thiện chính sách và nâng cao ý thức cộng đồng.

Tin khác

Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

LNV - Làng nghề sản xuất bánh tráng, nước mắm, mộc mỹ nghệ rộn ràng đón Tết, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người dân.
Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

LNV - Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới nay thuộc xã Chợ Lách (tỉnh Vĩnh Long), vào những ngày này, nhiều luống hoa mới hé nở, khoe điểm sắc vàng lấm tấm khiến nhà vườn càng nôn nao, khấp khởi đón chờ vụ hoa cúc Tết.
Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

LNV - Làng nghề đường phèn ở Ba La - Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng.
Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

LNV - Làng nghề hoa giấy Phù Đổng bắt đầu từ những năm 2010, khi xã được chọn là địa phương điểm xây dựng nông thôn mới. Nhận thấy tiềm năng của đất đai và khí hậu, người dân Phù Đổng đã chọn hoa giấy làm cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, con đường phát triển của làng nghề không hề bằng phẳng.
Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

LNV - Trong những ngày cuối năm, làng nghề đúc đồng Đại Bái (xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) sôi động, đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu Tết và giữ gìn truyền thống lâu đời.
Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

LNV - Dù còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2026 nhưng không khí sản xuất tại làng nghề bánh tráng Thuận Hưng (TP Cần Thơ) đã trở nên tất bật. Các hộ làm nghề tăng ca liên tục để kịp những đơn hàng Tết được đặt sớm từ khắp nơi
Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (2005 - 2025) và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân lần thứ XII. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã phát biểu trong Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Tạp chí Làng nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài phát biểu của ông.
Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

LNV - Từ thuở con người biết lấy đất nặn hình, nung trong lửa để tạo nên vật dụng, gốm đã trở thành chứng nhân của nền văn minh Việt. Qua hàng nghìn năm, từ bàn tay khéo léo của người thợ, từ lò gốm thô sơ nơi làng quê đến những xưởng hiện đại hôm nay, nghề gốm Việt vẫn bền bỉ giữ hồn đất, hồn người qua từng thớ men, từng đường nét tinh xảo.
Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

LNV - Chiều ngày 08/01/2026 tại Nhà văn hoá xã Phù Lãng (Bắc Ninh), UBND xã Phù Lãng phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Hội nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”, xét đặc cách cho 03 nghệ nhân tiêu biểu, không chỉ là sự ghi nhận tài năng cá nhân mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của một dòng gốm di sản vùng Kinh Bắc.
Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

LNV - Tiên Kiều từng được mệnh danh là “thủ phủ” chiếu cói của vùng đồng chiêm trũng của xã Hà Đông (thành phố Hải Phòng) nhưng nay đã mai một. Từ việc cả làng làm chiếu cói, nay chỉ còn vài hộ. Trong sâu thẳm của những người còn giữ nghề, mỗi tấm chiếu như một sản phẩm tinh thần gắn trọn cuộc đời với họ, không dễ gì phôi pha dù giờ đây khung dệt không còn nhiều.
Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại đang ngày một hối hả, tại Làng nghề nón lá Gò Găng phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai (trước đây là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), những nghệ nhân vẫn lặng lẽ chằm nên những chiếc nón lá trắng ngà, mộc mạc mà tinh tế.
Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, tại bon làng Liêng Trang (xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng), nghệ nhân Ntơr Ha Bang vẫn lặng lẽ gắn bó với nghề đan lát truyền thống của người K’ho. Từ những vật dụng sinh hoạt giản dị đến các sản phẩm mang giá trị nghệ thuật, mỗi đường đan của ông không chỉ tạo nên hình hài sản phẩm mà còn lưu giữ ký ức văn hóa, góp phần gìn giữ một nghề truyền thống đang dần mai một.
Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

LNV - Kế thừa nghề gốm truyền thống của gia đình, anh Vũ Khánh Tùng (CEO Bát Tràng Museum) lựa chọn một lối đi khác biệt: ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu sâu hơn giá trị hoa văn, biểu tượng gốm cổ, từ đó sáng tạo, bảo tồn và làm mới nghề gốm trong đời sống đương đại, mà vẫn giữ trọn tinh thần di sản.
Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

LNV - Ở tuổi 80, Nghệ nhân Ưu tú, già làng A Vẽ (thôn Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn miệt mài chế tác và biểu diễn các nhạc cụ dân tộc Giẻ Triêng, mang âm thanh núi rừng hòa vào đời sống đương đại, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào vùng cao.
Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề chạm khắc sừng truyền thống, nghệ nhân, cựu chiến binh Nguyễn Văn Sử (làng Thụy Ứng, xã Thường Tín, TP Hà Nội) vẫn bền bỉ gìn giữ và thổi hồn cho từng sản phẩm thủ công, góp phần bảo tồn tinh hoa làng nghề giữa nhịp sống hiện đại.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

LNV - Những ngày giáp Tết Nguyên đán, làng nghề bánh đa Dụ Đại (xã Quỳnh An) rộn ràng tiếng máy, đỏ lửa suốt ngày đêm để kịp phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, vừa giữ gìn hương vị truyền thống từ hạt gạo quê, vừa tạo sinh kế bền vững cho hàng trăm lao đ
Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

LNV - UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc. Quy hoạch nhằm bảo tồn không gian làng nghề truyền thống, phát huy giá trị văn h
Linh hoạt triển khai xây dựng nông thôn mới qua các chương trình chuyên đề

Linh hoạt triển khai xây dựng nông thôn mới qua các chương trình chuyên đề

LNV - Sau sắp xếp bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nhiều nhiệm vụ trong Chương trình Mục tiêu quốc gia XDNTM gặp nhiều khó khăn do thay đổi bộ máy, nhiều chỉ tiêu, tiêu chí không còn phù hợp. Để triển khai nhiệm vụ trong điều k
Hội Nông dân Hà Tĩnh triển khai hỗ trợ tổ hội nghề nghiệp

Hội Nông dân Hà Tĩnh triển khai hỗ trợ tổ hội nghề nghiệp

LNV - Thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2025, Hội Nông dân tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai hỗ trợ 8 tổ hội nông dân nghề nghiệp từ nguồn vốn sự nghiệp ngân sách Trung ương. Việc hỗ trợ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
Giữ vị quê bằng “bí quyết từ tâm” của mè xửng gia truyền hơn 150 năm

Giữ vị quê bằng “bí quyết từ tâm” của mè xửng gia truyền hơn 150 năm

LNV - Trải qua hơn 150 năm thăng trầm, nghề làm mè xửng gia truyền ông Ký ở xã Lệ Thủy vẫn được gìn giữ và phát triển qua bốn thế hệ. Với anh Trần Trung Kiên – chủ nhãn hiệu mè xửng Hiếu Kiên, bí quyết tồn tại giữa sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường k
Giao diện di động