Hà Nội: 35°C Hà Nội
Đà Nẵng: 31°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 34°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 38°C Thừa Thiên Huế

Lãng mạn chuồn chuồn tre

LNV - Thân thiện mời khách ly trà nóng, nghệ nhân Nguyên Văn Tái, một trong những người có “thương hiệu” với nghề chế tác chuồn chuồn tre xuất khẩu ở xóm chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội) xúc động mở lời tâm tình: “Cái nghề sản xuất - kinh doanh chuồn chuồn tre với tôi cũng như bà con nơi đây nó chả khác nào một cái duyên tình đã được mặc định từ đời nảo đời nào ấy nhé!”.

“Chuồn chuồn có cánh thì bay

Kẻo thằng cu Tý thò tay bắt chuồn!”.

Nhấp ngụm trà thơm, bất giác anh Tái đưa mắt nhìn vào xa xăm như tìm kiếm điều gì đó. Và rồi ngay sau đó, những dòng hồi ức tinh khôi hiện ra trước mắt người nghệ nhân “có tiếng có tăm” ấy. Chuyện rằng, cách đây hơn 20 năm trời có lẻ, một ngày đẹp trời đó, cái xóm nhỏ thanh bình dân dã nằm dưới chân núi Câu Lâu trầm mặc uy nghiêm nơi có ngôi chùa cổ Tây Phương độc nhất vô nhị chợt trở nên sống động khác thường. Có cái sự ấy là bởi trong đoàn du khách viếng thăm chùa có một nhân vật mang theo chú chuồn chuồn chế tác bằng tre nhỏ xinh.

Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chú chuồn chuồn tre lạ mắt, đáng yêu tức thì người dân xóm chùa Tây Phương nổi máu hiếu kỳ xúm đen xúm đỏ quanh người lữ khách kia mà trầm trồ ngắm nghía, chỉ trỏ dẫu rằng cái sản phẩm đồ chơi đó chả lấy gì làm tinh xảo cho lắm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái mủm mỉm thổ lộ, lúc đầu chỉ là nhằm thỏa mãn cảm giác tò mò mà anh tìm cách ngó nghiêng con chuồn chuồn tre đó mà thôi.

Thế rồi, trong giây khắc ngắn ngủi đầy xúc cảm, ký ức tuổi thơ với những trưa hè tháng 5 râm ran tiếng ve sầu, đầu trần chân đất, Tái trốn cha, trốn mẹ lỉnh ra khỏi nhà để tìm tới hàng rào râm bụt trước ngõ; tới bụi tre gai sau nhà rón rén hồi hộp thò tay bắt những chú chuồn chuồn kim, chuồn chuồn ớt và chuồn chuồn ngô,... trong thế giới tự nhiên bao la, với muôn vàn sắc thái hưng phấn đầy thi vị.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái - một trong những người đầu tiên đến với nghề chế tác chuồn chuồn tre ở Thạch Xá.

Những kỷ niệm thuần khiết ấy chợt cựa quậy trỗi dậy bừng thức trong tâm thức thiêng liêng của anh Tái. Không dừng lại ở đó, nó thôi thúc anh tìm về với tuổi niên thiếu đầy hạnh phúc của mình. May sao, lúc bấy giờ trong nhà lại sẵn nguyên liệu tre pheo bởi nghề mây tre đan xuất khẩu trước đó vừa mới rã đám, anh Tái mò mẫm chế tác chú chuồn tre đầu tiên trong đời.

Anh Tái kể, mới đầu khi được nhìn con chuồn chuồn tre của vị khách nước ngoài ấy thấy nó thật đơn giản, chắc mẩm “một phát ăn ngay”, sẽ cho ra đời tức thì cả núi sản phẩm. Nhưng khi bập vào làm mới thấy vô cùng nan giải, thậm khó. Mà khó nhất là ở cái khoản làm thế nào để chú chuồn chuồn tre ấy giống y thật và đặc biệt, phải khiến cho nó trở nên thăng bằng trong mọi bối cảnh.

Nghĩ rằng mình không đến nỗi kém cạnh thiên hạ về cái gọi là “đường tài hoa” là mấy, vậy mà sau vài tháng trời mất ăn mất ngủ, song rốt cuộc vẫn không “chế” được một con chuồn chuồn tre cho ra hồn, thoáng phút chốc nọ anh Tái có cảm giác phân tâm. Nhưng, vốn không phải là người “cả thèm chóng chán”. Mà nhất là, cứ thấy đám con cháu trong nhà, ngoài giờ lên lớp ra chẳng biết lấy gì nếu không cắm mặt vào trò chơi điện tử hại mắt, anh Tái cho rằng mình không thể thối chí nản lòng.

“Phải làm ra bằng được con chuồn chuồn tre để tuổi thơ của bọn trẻ trở nên lãng mạn, có ý nghĩa!”. Hạ quyết tâm thế, lại được người vợ hiền động viên chia sẻ, cuối cùng sau bao ngày trầy trật phá đi làm lại. Và sau bao “đêm trắng” thao thức trăn trở cùng những mô hình các chú chuồn chuồn tre, cuối cùng vào “cái đêm cổ tích” ấy, anh Tái đã thành công, dẫu thành quả đầu tiên đó chưa thật sự mang lại cho anh cảm giác mĩ mãn tròn trịa.

Chú chuồn tre “đầu lòng” ra đời đã kích thích cảm hứng sáng tạo của anh Tái. Không muốn dừng lại ở sản phẩm “độc bản”, anh Tái “tiện tay” nhân thêm vài chú chuồn chuồn tre nữa, vừa là tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật, nâng cấp chất lượng thẩm mỹ vừa nhằm có thêm nhiều đồ chơi không chỉ cho riêng con cháu trong nhà mà còn trong phạm vi họ tộc.

“Đấy, mục đích ban đầu của tôi với chuồn chuồn tre chỉ đơn giản thế thôi!” - anh Tái chân thành giãi bày - “Nào ngờ, vào sáng sớm hôm đó cách đây hơn 20 năm, hai vợ chồng còn đang mắt nhắm mắt mở trên giường bỗng dưng có người tới gọi cổng đề nghị được mua chuồn chuồn tre!”. Nghe anh Tái kể về cơ duyên đó, tôi hồi hộp tôi đặt câu hỏi: “Cũng từ cái buổi sáng tinh sương đó mà anh “bắt được mạch thị trường” để biến những sáng tạo nghệ thuật của mình thành hàng hóa!”.

“Vâng, đúng thế anh ạ!” - anh Tái không hề giấu giếm - “Nhưng trong khi tôi còn chưa kịp thăng hoa với nghề thì, một ngày nọ, “cơn bão đầu ra” bất thình lình quét qua làng khiến cho bản thân và gia đình một phen khốn khổ chưa từng thấy!”. Nhưng rồi cơn chếnh choáng, hoang mang chấp chới ấy vụt qua mau trong tư tưởng anh Tái. “Thôi thì không thành hàng hóa thì thành đồ chơi cho trẻ con trong nhà và cũng là để vợ chồng có cái ngắm nghía cho nguôi nỗi nhớ tuổi thơ, nhưng nhất định phải “number one” hơn trước mới được!” - anh Tái tự tin an ủi mình.

Kể từ bữa đó, lại là những bữa quên ăn, những đêm mất ngủ cùng chú chuồn chuồn tre, anh Tái tìm mọi cách “nâng cấp” để nó trở nên tinh xảo hơn, sống động hơn. Trời không phụ lòng người, tới một ngày kia, đám cháu con trong nhà phải kinh ngạc kêu lên: “chuồn chuồn của bố Tái y như thật!”.

Còn chị Khương Thị Tân vợ anh Tái lặng người rưng rưng cặp mắt đẹp đầy nữ tính của mình mà “tâm phục, khẩu phục” tính kiên nhẫn cùng khả năng khám phá, sáng tạo nghệ thuật của chồng rồi thảng thốt bằng cái giọng như chỉ chực òa khóc, rằng: “không thể chê vào đâu được, chú chuồn chuồn của chồng em!”. Đấy cũng chính là khi cánh cửa thị trường thêm một lần nữa mở ra với anh Tái: lại có khách tìm tới ngỏ ý xin mua chuồn chuồn tre “đẹp miễn chê” của anh!

Anh Tái bảo, chỉ là con chuồn chuồn tre trông rất đơn giản, thế nhưng bản thân lại phải nếm trải biết bao lần hỏng ăn, tưởng cả đời không thể nên cơm cháo với nó. Lúc đầu là hằng ha sa số những bận “lên bờ xuống ruộng” vì không thể nào lắp được “đôi cánh thần tiên” vào thân chuồn chuồn cho thật cân xứng. Tới khi vượt cửa ải đó, anh Tái lại trải qua nhiều ngày đêm mất ăn mất ngủ chỉ bởi, những chú chuồn chuồn tre của mình không tài nào giữ được độ thăng bằng.

“Mà một khi chuồn chuồn không thể đậu được thì “thằng cu Tý thò tay bắt chuồn” thế nào được. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chẳng có ai thèm mua sản phẩm của mình ạ!” - gương mặt trở nên méo xệch, anh Tái hóm hỉnh thở hắt ra một tiếng, vẻ cực kỳ bi - hài. Nhưng, rồi một ngày nọ, khi đang ở “cuối đường hầm”, anh Tái bất ngờ phát hiện ra nguyên do tại sao mình lại phải trải qua cả trăm bận thất bại ê chề đầy những đắng cay như thế.


Những cánh chuồn chuồn tre rực rỡ sắc màu mang hồn quê hương Thạch Xá có mặt khắp bốn phương trời.

Không để khách phải chờ lâu, anh Tái cởi mở cho hay, cái lý do khiến cho mình phải khổ sở vì thất bại tưởng phức tạp vô cùng song hóa ra lại rất đơn giản. Ấy là, muốn “ăn tiền” của thiên hạ thì điều tiên quyết là ở vấn đề nguyên liệu “đầu vào”. Cụ thể là cây tre! Theo anh Tái, vùng Thạch Thất xứ Đoài mây trắng quê anh và cả Hà Nội mênh mông nói chung cũng như các địa phương vùng châu thổ sông Hồng “...đâu đâu cũng có lũy tre xanh rì rào ẩn hiện...” (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) song thật tiếc, tất cả chúng đều không thể trở thành thứ nguyên liệu quan trọng số một làm nên những chú chuồn chuồn tre được.

Nhớ lại thuở mới chập chững tiếp cận nghề làm chuồn chuồn tre, anh Tái kể, bản thân vốn dĩ rất hồn nhiên thành ra cứ đinh ninh rằng, tre nào mà chả là tre, dù ở miền xuôi hay mạn ngược. Mà đã là tre thì tất nhiên sẽ cho ra đời những chú chuồn chuồn “như ý”. Song, rốt cuộc, anh Tái đã quan niệm sai. Rồi chính bởi sự “bé cái nhầm” ấy của mình mà anh Tái phải “trả giá” với hết thất bại này tới đổ vỡ khác.

Sau cái cười hiền dung dị, anh Tái thủng thẳng lên tiếng: “Chẳng phải là nhà khoa học nên tôi không thể biết kết cấu thành phần cơ học của một cây tre đồng bằng khác với thứ cùng loài với nó tại vùng núi Tây Bắc ra sao. Nhưng một điều đơn giản mà tôi dám chắc: chỉ những cây tre bánh tẻ Tây Bắc mới “đủ tư cách” làm cho những chú chuồn chuồn của mình có “thần thái” để đậu thăng bằng được thôi anh ạ!”.

Vì lý do đó, mấy chục năm qua, anh Tái thường xuyên phải lặn lội khi thì Lào Cai, Yên Bái, lúc thì Tuyên Quang, Hà Giang, v.v... lùng mua cho được thứ tre “ngon lành” nhất. Mới hay cái nghề chế tác chuồn chuồn tre của anh Tái nó vất vả khổ sở, trầy xước công phu đến nhường nào. Nhưng, hóa ra sự khổ sở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân ấy nào chỉ dừng lại ở việc tìm ra thứ tre đạt độ chuẩn chỉ cho những chú chuồn chuồn.

Mua được tre rồi, việc đầu tiên, người ta phải làm là cạo bỏ hết phần vỏ (tinh tre) xanh bên ngoài. Sau đó tre được đem phơi hoặc sấy thật khô. Tiếp theo, người nghệ nhân bắt buộc phải tiến hành thêm 12 công đoạn tỷ mẩn, công phu và cực kỳ chính xác như thực hiện các phép tính toán học thì may ra mới có được những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô như ý.

“Cái khó nhất vì thuộc khâu quan trọng nhất, ấy là công đoạn ghép cánh vào thân những chú chuồn chuồn!” - anh Tái bỗng trở nên xúc cảm - “Nhất dáng nhì da!”. Dáng là linh hồn của sản phẩm, do đó phải gắn cánh chuồn chuồn vào thân sao cho chúng giữ được thăng bằng ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Muốn thế, hai cánh chuồn chuồn phải được căn đối xứng thật chính xác để nó tự thăng bằng khi đậu trên bề mặt của một cái đế nào đó hay ngay trên đầu ngón tay, thậm chí là một sợi chỉ!”.

Sau khi hoàn thành những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô, những người thợ mới chính thức tạo “phần hồn” cho chúng bằng việc quét sơn và vẽ họa tiết làm đẹp bằng hơn chục loại sơn màu khác nhau với muôn hình, muôn vẻ sắc thái được tạo nên bằng chính cảm hứng nghệ thuật mang hơi thở đời sống thôn quê dân dã. Được tạo hồn tạo vía, bấy giờ những chú chuồn chuồn tre vốn trước đó đã vô cùng tinh xảo và chắc chắn về độ bền rồi bỗng chốc càng trở nên bóng bẩy lung linh, sống động, như bay ra từ trong thế giới cổ tích sương khói vi diệu.

Gần 20 năm về trước, khi đã có được cái cảm giác phần nào tự tin về tương lai của mình, việc đầu tiên anh Tái nghĩ tới là xẻ gạo, san cơm của mình với những người xung quanh. Hiện thực hóa câu chuyện đó, anh Tái chủ động trân trọng mời những người bà con trong xóm ngoài làng vốn có “máu tình yêu” với chuồn chuồn và đặc biệt yêu nghề, say nghề tới xưởng của mình làm việc.

Giải thích về việc mình làm, anh Tái cười chất phác đoạn nhẩn nha thủ thỉ: “Bà con trong xóm, ngoài làng với nhau cả chứ nào phải “người dưng” đâu ạ. Mới lại “Ăn một mình đau tức. Làm một mình cực thân!”. Nhờ có duyên trời ban với con chuồn chuồn tre mà vợ chồng, con cái mình có bát ăn thì cũng nên mời bà con họ chung vui cùng để “tối lửa tắt đèn có nhau!”. Mà suy cho cùng, giúp người cũng chính là giúp mình cả thôi, anh ạ! Cũng chính nhờ có họ mà từ nhiều năm nay sản phẩm của tôi mới tự tin có mặt tại hàng loạt các thị trường khó tính, như Pháp, Nhật Bản, Mỹ và một vài quốc gia châu Âu khác đấy chứ!”.

Trước khi nói lời chia tay, khách được nghệ nhân Nguyễn Văn Tái phấn chấn cho biết, ngoài việc chia sẻ thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật của mình với rất nhiều bà con địa phương, mấy năm gần đây anh còn phối hợp với một số tổ chức xã hội, như Cenforchil - Trung tâm Nghiên cứu và Bảo trở trẻ em, trực thuộc Liên hiệp các hội KH-KT Việt Nam. Và nữa là tổ chức MyHanoi (Việt Nam) thực hiện dự án nghiên cứu - bảo tồn đồ chơi dân gian Việt.

Anh Tái bỗng trở nên xúc động lạ thường khi bộc bạch, thông qua hai tổ chức nói trên, mấy năm qua đã có hàng triệu chú chuồn chuồn tre ngộ nghĩnh của mình đến được với rất nhiều thiếu nhi. Chính những chú chuồn chuồn tre tinh xảo, ngộ nghĩnh, sinh động của anh Tái đã khỏa lấp khoảng thiếu thụt, trống vắng ký ức tuổi thơ trong tâm hồn của biết bao trẻ em Hà Nội cũng như tại nhiều vùng, miền khác của nước Việt thời công nghệ 4.0.

Theo An Ninh Thủ Đô

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa làng Chăm Bàu Trúc nổi tiếng với nghề gốm thủ công truyền thống, có một gia đình vẫn lặng lẽ gìn giữ nghề chạm bạc qua ba thế hệ. Không rực lửa như những lò gốm ngày đêm đỏ lửa, nghề chạm bạc nơi đây vẫn bền bỉ tồn tại, góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc của đồng bào Chăm, đồng thời tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương. Từ đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những sản phẩm bạc tinh xảo không chỉ mang dấu ấn nghề truyền thống mà còn kể câu chuyện về sức sống bền bỉ của một nghề thủ công đang được gìn giữ giữa dòng chảy hiện đại.
Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt:  Kỳ 2:  Phá vỡ lối mòn tư duy thế hệ

Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt: Kỳ 2: Phá vỡ lối mòn tư duy thế hệ

LNV - Cuộc đại dịch chuyển lên không gian mạng đang đặt các làng nghề trăm tuổi vào cuộc chiến tư duy khốc liệt. Làn sóng công nghệ số sẵn sàng bỏ lại những ai ngại thay đổi, mở đường cho những người dám học hỏi. Hành trình này đặt ra “bài toán” cho việc thu hẹp khoảng cách tư duy giữa các thế hệ làm nghề.
Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt:  Kỳ 1: Chàng trai Quảng Bình “bán cói” quê hương lấy Đô-la

Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt: Kỳ 1: Chàng trai Quảng Bình “bán cói” quê hương lấy Đô-la

LNV - Từng bị xem là kẻ “gàn dở” khi bỏ tấm bằng du học Nhật Bản để về ôm lấy đống tre, nứa bám bụi ở quê nhà, Trần Tuấn Dũng, người sáng lập thương hiệu ChicnChill đã chứng minh tư duy số và công nghệ chính là chiếc đòn bẩy vạn năng để giải phóng sản phẩm truyền thống khỏi lối mòn “chờ khách đến nhà”, đưa hồn Việt vươn xa trên thế giới.
Tỉnh Cao Bằng phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

Tỉnh Cao Bằng phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

LNV - Năm 2026 đánh dấu cột mốc khởi động giai đoạn 2026 - 2030 trong chiến lược phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Cao Bằng, hướng tới mục tiêu đồng bộ giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và nâng cao sinh kế cho người dân.
Cà Mau có nhiều nghề truyền thống đặc trưng

Cà Mau có nhiều nghề truyền thống đặc trưng

LNV - Cà Mau sở hữu hệ sinh thái sông nước và rừng ngập mặn phong phú, tạo ra hệ thống các làng nghề truyền thống đặc trưng. Nổi bật nhất phải kể đến nghề làm tôm khô Rạch Gốc (Ngọc Hiển), nghề dệt chiếu (Tân Thành), gác kèo ong lấy mật, và chế biến mắm ba khía trứ danh
Làng bún hơn 400 tuổi được công nhận là di sản văn hóa quốc gia

Làng bún hơn 400 tuổi được công nhận là di sản văn hóa quốc gia

LNV - Nghề làm bún Vân Cù là làng nghề truyền thống có tuổi đời hơn 400 năm ở vùng đất cố đô Huế, gắn liền với câu chuyện về “bà Bún” - người được dân làng tôn thờ như một vị thần hoàng.

Tin khác

Mùa “dứa nữ hoàng” ở Na Sang (Điện Biên)

Mùa “dứa nữ hoàng” ở Na Sang (Điện Biên)

Tháng 5 về trên miền biên viễn, xã Na Sang (Điện Biên) lại ngập trong mùi thơm của dứa chín. Từ trên các triền đồi nhìn xuống, từng đoàn người gùi dứa, chở dứa men theo Quốc lộ 12 tạo nên khung cảnh nhộn nhịp hiếm thấy. Có những du khách dừng xe chỉ vì bị kéo lại bởi hương thơm ngọt lịm ven đường, rồi mang theo vài quả dứa vàng óng như mang cả vị nắng gió Tây Bắc về xuôi. Ở Na Sang, mùa dứa không chỉ là mùa thu hoạch nông sản. Đó còn là mùa của hy vọng, của tiếng cười sau một năm cặm cụi trên nương dốc. Từ những nương ngô, nương sắn cho thu nhập bấp bênh, cây dứa giờ đã mở ra sinh kế mới, mang theo giấc mơ đổi đời của nhiều hộ dân nơi đây.
Không gian sáng tạo làng nghề truyền thống hút khách tại trung tâm thương mại Hà Nội

Không gian sáng tạo làng nghề truyền thống hút khách tại trung tâm thương mại Hà Nội

LNV - Ngày 13/6, tại Trung tâm Thương mại Vincom Mega Mall Royal City, “Chợ phiên kết duyên sáng tạo” dành cho các làng nghề truyền thống Việt Nam chính thức khai mạc. Sự kiện là cầu nối quảng bá tinh hoa nghề thủ công, khơi dậy sức sáng tạo của các làng nghề Hà Nội, đồng thời đưa sản phẩm làng nghề đến gần hơn với người tiêu dùng trong không gian trải nghiệm hiện đại.
Khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề

Khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề

Ngày 13/6/2026 tại Vincom Mega Mall Royal City,72A Nguyễn Trãi, phường Khương Đình, TP Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam chính thức khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026.
Làng gốm Phù Lãng gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm

Làng gốm Phù Lãng gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm

LNV - Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng thuộc tỉnh Bắc Ninh, làng gốm cổ Phù Lãng từ lâu đã nổi tiếng với những sản phẩm gốm sành mộc mạc, mang đậm hồn cốt của vùng đất Kinh Bắc. Trải qua hơn 700 năm thăng trầm, trước áp lực cạnh tranh gay gắt của thị trường hiện đại, Phù Lãng không dừng lại hay để mai một nét nghề. Bằng việc chủ động gắn kết giữa sản xuất truyền thống với mô hình du lịch trải nghiệm, những người thợ gốm nơi đây đang tự mở ra một hướng phát triển kinh tế bền vững, vừa bảo tồn giá trị văn hóa, vừa nâng cao giá trị thương mại cho từng thớ đất quê hương.
Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng biến lá bồ đề thành tác phẩm nghệ thuật độc đáo

Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng biến lá bồ đề thành tác phẩm nghệ thuật độc đáo

LNV - Với sự kiên trì và tài hoa, Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng đã biến lá tự nhiên thành tranh thủ công thể hiện nét đẹp văn hóa và tâm linh xứ Huế, lan tỏa khắp thế giới.
Nghệ nhân Thanh Liễu phục dựng tranh cổ “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”

Nghệ nhân Thanh Liễu phục dựng tranh cổ “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”

LNV - Hai nghệ nhân Hải Phòng hoàn thành bộ ván in mộc bản phục dựng tranh cổ Trúc Lâm, thể hiện kỹ thuật khắc tinh xảo và giá trị lịch sử Việt Nam.
Làng nghề làm hương đen Văn Quan giữ gìn truyền thống độc đáo

Làng nghề làm hương đen Văn Quan giữ gìn truyền thống độc đáo

LNV - Nghề làm hương đen Văn Quan (xã Diên Hà, Hưng Yên) từ nhựa trám và than (tro của cây vừng và đỗ tương), mang lại sinh kế bền vững, đồng thời góp phần bảo tồn nghề truyền thống của làng.
Gìn giữ và lan tỏa di sản mỹ thuật dân gian qua tranh tứ bình

Gìn giữ và lan tỏa di sản mỹ thuật dân gian qua tranh tứ bình

LNV - Ngày 8/6, tại Hà Nội, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức lễ ra mắt sách tái bản: “Tranh Tứ bình – Sưu tập chọn lọc Tranh Dân gian”. Đây là hoạt động thiết thực của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Bảo tàng (24/6/1966 - 24/6/2026).
Nghề thủ công truyền thống: Nơi giữ gìn và lan tỏa văn hóa Việt

Nghề thủ công truyền thống: Nơi giữ gìn và lan tỏa văn hóa Việt

LNV - Cảm thấy chưa đủ với những workshop ngắn hướng dẫn làm đồ thủ công trong các không gian nhỏ thành phố, nhiều người trẻ còn lặn lội tìm về những lớp học ngay tại làng nghề truyền thống. Không chỉ học những kỹ thuật làm gốm, thêu hoa, họ còn được tham quan xưởng, nghe kể về lịch sử làng nghề và khám phá nét đẹp văn hóa truyền thống.
Khi người nông dân học bán hàng online từ những hợp tác xã vùng quê

Khi người nông dân học bán hàng online từ những hợp tác xã vùng quê

LVN - Không còn quanh quẩn ở những phiên chợ quê, nhiều hợp tác xã (HTX) trên cả nước đang từng bước đưa nông sản truyền thống lên các sàn thương mại điện tử. Từ tinh bột nghệ đỏ, thịt chua đến các loại trái cây đặc sản, hành trình chuyển mình này không chỉ mở rộng đầu ra mà còn góp phần nâng tầm giá trị nông sản Việt trong thời đại số.
Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

LNV - Giữa vùng quê yên bình của xã Vạn Thắng, tỉnh Khánh Hòa, làng nghề trầm hương Phú Hội 1 đã tồn tại hơn một thế kỷ như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân địa phương. Qua nhiều thế hệ, nghề làm trầm không chỉ giúp người dân mưu sinh mà còn lưu giữ nét đẹp truyền thống đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là “xứ trầm hương” của Việt Nam.
Đông Cứu và hành trình đánh thức giá trị di sản thêu long bào

Đông Cứu và hành trình đánh thức giá trị di sản thêu long bào

LNV - Tồn tại hơn 300 năm, làng nghề thêu truyền thống Đông Cứu (xã Dũng Tiến, Hà Nội) từng có thời điểm đứng trước nguy cơ mai một bởi những biến động của thời cuộc. Thế nhưng, nhờ không ngừng đổi mới mẫu mã, bám sát nhu cầu thị trường, nghề thêu long bào đã hồi sinh mạnh mẽ, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao. Dẫu vậy, phía sau sự sôi động của những khung thêu vẫn còn đó nỗi trăn trở khi một di sản nghề độc đáo vẫn chưa thể trở thành điểm đến du lịch chuyên nghiệp, tương xứng với tiềm năng và giá trị văn hóa vốn có.
Tuổi trẻ Hà Nội góp phần thay đổi diện mạo làng nghề truyền thống

Tuổi trẻ Hà Nội góp phần thay đổi diện mạo làng nghề truyền thống

LNV - Những năm gần đây, tại nhiều vùng quê có nghề ở Hà Nội, số người trẻ tuổi sau khi được đào tạo bài bản đã lựa chọn quay về quê hương để tiếp nối, phát triển nghề truyền thống của cha ông ngày một đông. Với tư duy mới, khả năng ứng dụng công nghệ tốt, cách tiếp cận thị trường linh hoạt, họ đang góp phần làm hồi sinh, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các làng nghề...
Chung tay cải thiện môi trường làng nghề vì phát triển bền vững

Chung tay cải thiện môi trường làng nghề vì phát triển bền vững

LNV - Hải Phòng có 78 làng nghề được công nhận, song hoạt động sản xuất vẫn đặt ra nhiều thách thức trong bảo vệ môi trường.
80 năm nhớ Khánh Ký – Danh nhân của nghề nhiếp ảnh Việt Nam

80 năm nhớ Khánh Ký – Danh nhân của nghề nhiếp ảnh Việt Nam

LNV - Nhân kỷ niệm 80 năm ngày mất của Danh nhân nhiếp ảnh Nguyễn Đình Khánh (Khánh Ký) (1946 - 2026), cùng nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của người đã đặt nền móng cho sự phát triển của nghề nhiếp ảnh Việt Nam, đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Bế mạc diễn đàn báo chí toàn quốc 2026: Báo chí trong dòng chảy chuyển đổi

Bế mạc diễn đàn báo chí toàn quốc 2026: Báo chí trong dòng chảy chuyển đổi

LNV - Chiều 20/6 tại Hải Phòng, Diễn đàn Báo chí Toàn quốc 2026 chính thức bế mạc sau hai ngày làm việc sôi nổi với 11 phiên nghị sự, trong đó có 9 phiên thảo luận chuyên sâu về những vấn đề cốt lõi của báo chí Việt Nam t
Phú Thọ: Khi hợp tác xã “lên đời” nhờ số hoá

Phú Thọ: Khi hợp tác xã “lên đời” nhờ số hoá

Nhiều hợp tác xã tại Phú Thọ đang tận dụng chuyển đổi số để đổi mới sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời đại kinh tế số.
Lan tỏa yêu thương từ mái ấm dành cho bệnh nhân ung thư.

Lan tỏa yêu thương từ mái ấm dành cho bệnh nhân ung thư.

LNV - Giữa lòng Hà Nội đắt đỏ, nơi một mét vuông đất cũng tính bằng tiền, lại có những căn phòng mở cửa hoàn toàn miễn phí đón nhận những mảnh đời đang ngày đêm bám viện.
Thanh âm núi rừng: “hồn then” nơi biên ải

Thanh âm núi rừng: “hồn then” nơi biên ải

LNV - Giữa nhịp sống hối hả của thời đại số, có những âm thanh bền bỉ ngân vang như hơi thở của đại ngàn Đông Bắc. Đó là tiếng đàn Tính dìu dắt, là lời Then trầm bổng – sợi dây vô hình kết nối quá khứ và hiện tại. Trước nguy cơ mai một tiếng nói dân tộc,
Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

Chạm bạc làng Chăm: Giữ nghề giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa làng Chăm Bàu Trúc nổi tiếng với nghề gốm thủ công truyền thống, có một gia đình vẫn lặng lẽ gìn giữ nghề chạm bạc qua ba thế hệ.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động