Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Lãng mạn chuồn chuồn tre

LNV - Thân thiện mời khách ly trà nóng, nghệ nhân Nguyên Văn Tái, một trong những người có “thương hiệu” với nghề chế tác chuồn chuồn tre xuất khẩu ở xóm chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội) xúc động mở lời tâm tình: “Cái nghề sản xuất - kinh doanh chuồn chuồn tre với tôi cũng như bà con nơi đây nó chả khác nào một cái duyên tình đã được mặc định từ đời nảo đời nào ấy nhé!”.

“Chuồn chuồn có cánh thì bay

Kẻo thằng cu Tý thò tay bắt chuồn!”.

Nhấp ngụm trà thơm, bất giác anh Tái đưa mắt nhìn vào xa xăm như tìm kiếm điều gì đó. Và rồi ngay sau đó, những dòng hồi ức tinh khôi hiện ra trước mắt người nghệ nhân “có tiếng có tăm” ấy. Chuyện rằng, cách đây hơn 20 năm trời có lẻ, một ngày đẹp trời đó, cái xóm nhỏ thanh bình dân dã nằm dưới chân núi Câu Lâu trầm mặc uy nghiêm nơi có ngôi chùa cổ Tây Phương độc nhất vô nhị chợt trở nên sống động khác thường. Có cái sự ấy là bởi trong đoàn du khách viếng thăm chùa có một nhân vật mang theo chú chuồn chuồn chế tác bằng tre nhỏ xinh.

Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chú chuồn chuồn tre lạ mắt, đáng yêu tức thì người dân xóm chùa Tây Phương nổi máu hiếu kỳ xúm đen xúm đỏ quanh người lữ khách kia mà trầm trồ ngắm nghía, chỉ trỏ dẫu rằng cái sản phẩm đồ chơi đó chả lấy gì làm tinh xảo cho lắm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái mủm mỉm thổ lộ, lúc đầu chỉ là nhằm thỏa mãn cảm giác tò mò mà anh tìm cách ngó nghiêng con chuồn chuồn tre đó mà thôi.

Thế rồi, trong giây khắc ngắn ngủi đầy xúc cảm, ký ức tuổi thơ với những trưa hè tháng 5 râm ran tiếng ve sầu, đầu trần chân đất, Tái trốn cha, trốn mẹ lỉnh ra khỏi nhà để tìm tới hàng rào râm bụt trước ngõ; tới bụi tre gai sau nhà rón rén hồi hộp thò tay bắt những chú chuồn chuồn kim, chuồn chuồn ớt và chuồn chuồn ngô,... trong thế giới tự nhiên bao la, với muôn vàn sắc thái hưng phấn đầy thi vị.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái - một trong những người đầu tiên đến với nghề chế tác chuồn chuồn tre ở Thạch Xá.

Những kỷ niệm thuần khiết ấy chợt cựa quậy trỗi dậy bừng thức trong tâm thức thiêng liêng của anh Tái. Không dừng lại ở đó, nó thôi thúc anh tìm về với tuổi niên thiếu đầy hạnh phúc của mình. May sao, lúc bấy giờ trong nhà lại sẵn nguyên liệu tre pheo bởi nghề mây tre đan xuất khẩu trước đó vừa mới rã đám, anh Tái mò mẫm chế tác chú chuồn tre đầu tiên trong đời.

Anh Tái kể, mới đầu khi được nhìn con chuồn chuồn tre của vị khách nước ngoài ấy thấy nó thật đơn giản, chắc mẩm “một phát ăn ngay”, sẽ cho ra đời tức thì cả núi sản phẩm. Nhưng khi bập vào làm mới thấy vô cùng nan giải, thậm khó. Mà khó nhất là ở cái khoản làm thế nào để chú chuồn chuồn tre ấy giống y thật và đặc biệt, phải khiến cho nó trở nên thăng bằng trong mọi bối cảnh.

Nghĩ rằng mình không đến nỗi kém cạnh thiên hạ về cái gọi là “đường tài hoa” là mấy, vậy mà sau vài tháng trời mất ăn mất ngủ, song rốt cuộc vẫn không “chế” được một con chuồn chuồn tre cho ra hồn, thoáng phút chốc nọ anh Tái có cảm giác phân tâm. Nhưng, vốn không phải là người “cả thèm chóng chán”. Mà nhất là, cứ thấy đám con cháu trong nhà, ngoài giờ lên lớp ra chẳng biết lấy gì nếu không cắm mặt vào trò chơi điện tử hại mắt, anh Tái cho rằng mình không thể thối chí nản lòng.

“Phải làm ra bằng được con chuồn chuồn tre để tuổi thơ của bọn trẻ trở nên lãng mạn, có ý nghĩa!”. Hạ quyết tâm thế, lại được người vợ hiền động viên chia sẻ, cuối cùng sau bao ngày trầy trật phá đi làm lại. Và sau bao “đêm trắng” thao thức trăn trở cùng những mô hình các chú chuồn chuồn tre, cuối cùng vào “cái đêm cổ tích” ấy, anh Tái đã thành công, dẫu thành quả đầu tiên đó chưa thật sự mang lại cho anh cảm giác mĩ mãn tròn trịa.

Chú chuồn tre “đầu lòng” ra đời đã kích thích cảm hứng sáng tạo của anh Tái. Không muốn dừng lại ở sản phẩm “độc bản”, anh Tái “tiện tay” nhân thêm vài chú chuồn chuồn tre nữa, vừa là tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật, nâng cấp chất lượng thẩm mỹ vừa nhằm có thêm nhiều đồ chơi không chỉ cho riêng con cháu trong nhà mà còn trong phạm vi họ tộc.

“Đấy, mục đích ban đầu của tôi với chuồn chuồn tre chỉ đơn giản thế thôi!” - anh Tái chân thành giãi bày - “Nào ngờ, vào sáng sớm hôm đó cách đây hơn 20 năm, hai vợ chồng còn đang mắt nhắm mắt mở trên giường bỗng dưng có người tới gọi cổng đề nghị được mua chuồn chuồn tre!”. Nghe anh Tái kể về cơ duyên đó, tôi hồi hộp tôi đặt câu hỏi: “Cũng từ cái buổi sáng tinh sương đó mà anh “bắt được mạch thị trường” để biến những sáng tạo nghệ thuật của mình thành hàng hóa!”.

“Vâng, đúng thế anh ạ!” - anh Tái không hề giấu giếm - “Nhưng trong khi tôi còn chưa kịp thăng hoa với nghề thì, một ngày nọ, “cơn bão đầu ra” bất thình lình quét qua làng khiến cho bản thân và gia đình một phen khốn khổ chưa từng thấy!”. Nhưng rồi cơn chếnh choáng, hoang mang chấp chới ấy vụt qua mau trong tư tưởng anh Tái. “Thôi thì không thành hàng hóa thì thành đồ chơi cho trẻ con trong nhà và cũng là để vợ chồng có cái ngắm nghía cho nguôi nỗi nhớ tuổi thơ, nhưng nhất định phải “number one” hơn trước mới được!” - anh Tái tự tin an ủi mình.

Kể từ bữa đó, lại là những bữa quên ăn, những đêm mất ngủ cùng chú chuồn chuồn tre, anh Tái tìm mọi cách “nâng cấp” để nó trở nên tinh xảo hơn, sống động hơn. Trời không phụ lòng người, tới một ngày kia, đám cháu con trong nhà phải kinh ngạc kêu lên: “chuồn chuồn của bố Tái y như thật!”.

Còn chị Khương Thị Tân vợ anh Tái lặng người rưng rưng cặp mắt đẹp đầy nữ tính của mình mà “tâm phục, khẩu phục” tính kiên nhẫn cùng khả năng khám phá, sáng tạo nghệ thuật của chồng rồi thảng thốt bằng cái giọng như chỉ chực òa khóc, rằng: “không thể chê vào đâu được, chú chuồn chuồn của chồng em!”. Đấy cũng chính là khi cánh cửa thị trường thêm một lần nữa mở ra với anh Tái: lại có khách tìm tới ngỏ ý xin mua chuồn chuồn tre “đẹp miễn chê” của anh!

Anh Tái bảo, chỉ là con chuồn chuồn tre trông rất đơn giản, thế nhưng bản thân lại phải nếm trải biết bao lần hỏng ăn, tưởng cả đời không thể nên cơm cháo với nó. Lúc đầu là hằng ha sa số những bận “lên bờ xuống ruộng” vì không thể nào lắp được “đôi cánh thần tiên” vào thân chuồn chuồn cho thật cân xứng. Tới khi vượt cửa ải đó, anh Tái lại trải qua nhiều ngày đêm mất ăn mất ngủ chỉ bởi, những chú chuồn chuồn tre của mình không tài nào giữ được độ thăng bằng.

“Mà một khi chuồn chuồn không thể đậu được thì “thằng cu Tý thò tay bắt chuồn” thế nào được. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chẳng có ai thèm mua sản phẩm của mình ạ!” - gương mặt trở nên méo xệch, anh Tái hóm hỉnh thở hắt ra một tiếng, vẻ cực kỳ bi - hài. Nhưng, rồi một ngày nọ, khi đang ở “cuối đường hầm”, anh Tái bất ngờ phát hiện ra nguyên do tại sao mình lại phải trải qua cả trăm bận thất bại ê chề đầy những đắng cay như thế.


Những cánh chuồn chuồn tre rực rỡ sắc màu mang hồn quê hương Thạch Xá có mặt khắp bốn phương trời.

Không để khách phải chờ lâu, anh Tái cởi mở cho hay, cái lý do khiến cho mình phải khổ sở vì thất bại tưởng phức tạp vô cùng song hóa ra lại rất đơn giản. Ấy là, muốn “ăn tiền” của thiên hạ thì điều tiên quyết là ở vấn đề nguyên liệu “đầu vào”. Cụ thể là cây tre! Theo anh Tái, vùng Thạch Thất xứ Đoài mây trắng quê anh và cả Hà Nội mênh mông nói chung cũng như các địa phương vùng châu thổ sông Hồng “...đâu đâu cũng có lũy tre xanh rì rào ẩn hiện...” (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) song thật tiếc, tất cả chúng đều không thể trở thành thứ nguyên liệu quan trọng số một làm nên những chú chuồn chuồn tre được.

Nhớ lại thuở mới chập chững tiếp cận nghề làm chuồn chuồn tre, anh Tái kể, bản thân vốn dĩ rất hồn nhiên thành ra cứ đinh ninh rằng, tre nào mà chả là tre, dù ở miền xuôi hay mạn ngược. Mà đã là tre thì tất nhiên sẽ cho ra đời những chú chuồn chuồn “như ý”. Song, rốt cuộc, anh Tái đã quan niệm sai. Rồi chính bởi sự “bé cái nhầm” ấy của mình mà anh Tái phải “trả giá” với hết thất bại này tới đổ vỡ khác.

Sau cái cười hiền dung dị, anh Tái thủng thẳng lên tiếng: “Chẳng phải là nhà khoa học nên tôi không thể biết kết cấu thành phần cơ học của một cây tre đồng bằng khác với thứ cùng loài với nó tại vùng núi Tây Bắc ra sao. Nhưng một điều đơn giản mà tôi dám chắc: chỉ những cây tre bánh tẻ Tây Bắc mới “đủ tư cách” làm cho những chú chuồn chuồn của mình có “thần thái” để đậu thăng bằng được thôi anh ạ!”.

Vì lý do đó, mấy chục năm qua, anh Tái thường xuyên phải lặn lội khi thì Lào Cai, Yên Bái, lúc thì Tuyên Quang, Hà Giang, v.v... lùng mua cho được thứ tre “ngon lành” nhất. Mới hay cái nghề chế tác chuồn chuồn tre của anh Tái nó vất vả khổ sở, trầy xước công phu đến nhường nào. Nhưng, hóa ra sự khổ sở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân ấy nào chỉ dừng lại ở việc tìm ra thứ tre đạt độ chuẩn chỉ cho những chú chuồn chuồn.

Mua được tre rồi, việc đầu tiên, người ta phải làm là cạo bỏ hết phần vỏ (tinh tre) xanh bên ngoài. Sau đó tre được đem phơi hoặc sấy thật khô. Tiếp theo, người nghệ nhân bắt buộc phải tiến hành thêm 12 công đoạn tỷ mẩn, công phu và cực kỳ chính xác như thực hiện các phép tính toán học thì may ra mới có được những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô như ý.

“Cái khó nhất vì thuộc khâu quan trọng nhất, ấy là công đoạn ghép cánh vào thân những chú chuồn chuồn!” - anh Tái bỗng trở nên xúc cảm - “Nhất dáng nhì da!”. Dáng là linh hồn của sản phẩm, do đó phải gắn cánh chuồn chuồn vào thân sao cho chúng giữ được thăng bằng ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Muốn thế, hai cánh chuồn chuồn phải được căn đối xứng thật chính xác để nó tự thăng bằng khi đậu trên bề mặt của một cái đế nào đó hay ngay trên đầu ngón tay, thậm chí là một sợi chỉ!”.

Sau khi hoàn thành những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô, những người thợ mới chính thức tạo “phần hồn” cho chúng bằng việc quét sơn và vẽ họa tiết làm đẹp bằng hơn chục loại sơn màu khác nhau với muôn hình, muôn vẻ sắc thái được tạo nên bằng chính cảm hứng nghệ thuật mang hơi thở đời sống thôn quê dân dã. Được tạo hồn tạo vía, bấy giờ những chú chuồn chuồn tre vốn trước đó đã vô cùng tinh xảo và chắc chắn về độ bền rồi bỗng chốc càng trở nên bóng bẩy lung linh, sống động, như bay ra từ trong thế giới cổ tích sương khói vi diệu.

Gần 20 năm về trước, khi đã có được cái cảm giác phần nào tự tin về tương lai của mình, việc đầu tiên anh Tái nghĩ tới là xẻ gạo, san cơm của mình với những người xung quanh. Hiện thực hóa câu chuyện đó, anh Tái chủ động trân trọng mời những người bà con trong xóm ngoài làng vốn có “máu tình yêu” với chuồn chuồn và đặc biệt yêu nghề, say nghề tới xưởng của mình làm việc.

Giải thích về việc mình làm, anh Tái cười chất phác đoạn nhẩn nha thủ thỉ: “Bà con trong xóm, ngoài làng với nhau cả chứ nào phải “người dưng” đâu ạ. Mới lại “Ăn một mình đau tức. Làm một mình cực thân!”. Nhờ có duyên trời ban với con chuồn chuồn tre mà vợ chồng, con cái mình có bát ăn thì cũng nên mời bà con họ chung vui cùng để “tối lửa tắt đèn có nhau!”. Mà suy cho cùng, giúp người cũng chính là giúp mình cả thôi, anh ạ! Cũng chính nhờ có họ mà từ nhiều năm nay sản phẩm của tôi mới tự tin có mặt tại hàng loạt các thị trường khó tính, như Pháp, Nhật Bản, Mỹ và một vài quốc gia châu Âu khác đấy chứ!”.

Trước khi nói lời chia tay, khách được nghệ nhân Nguyễn Văn Tái phấn chấn cho biết, ngoài việc chia sẻ thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật của mình với rất nhiều bà con địa phương, mấy năm gần đây anh còn phối hợp với một số tổ chức xã hội, như Cenforchil - Trung tâm Nghiên cứu và Bảo trở trẻ em, trực thuộc Liên hiệp các hội KH-KT Việt Nam. Và nữa là tổ chức MyHanoi (Việt Nam) thực hiện dự án nghiên cứu - bảo tồn đồ chơi dân gian Việt.

Anh Tái bỗng trở nên xúc động lạ thường khi bộc bạch, thông qua hai tổ chức nói trên, mấy năm qua đã có hàng triệu chú chuồn chuồn tre ngộ nghĩnh của mình đến được với rất nhiều thiếu nhi. Chính những chú chuồn chuồn tre tinh xảo, ngộ nghĩnh, sinh động của anh Tái đã khỏa lấp khoảng thiếu thụt, trống vắng ký ức tuổi thơ trong tâm hồn của biết bao trẻ em Hà Nội cũng như tại nhiều vùng, miền khác của nước Việt thời công nghệ 4.0.

Theo An Ninh Thủ Đô

Tin liên quan

Tin mới hơn

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo tồn không gian sản xuất và từng bước mở hướng phát triển gắn với du lịch trải nghiệm.
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

LNV - Gần 30 năm qua, ngôi nhà của Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh tại ấp Kos Sla, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long luôn rộn ràng với công việc chế tác mão và mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

LNV - Từ những chiếc lá lụi đơn sơ, những thanh tre chẻ nhỏ dẻo dai, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân thôn Đan Du (xã Kỳ Khang, tỉnh Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc, thanh thoát đã được tạo nên. Trải qua bao thăng trầm và đổi thay của thời đại, người dân Đan Du vẫn ngày đêm cần mẫn bên khung nón, vành tre và đường kim quen thuộc. Từ nếp nhà nhỏ bình dị, mỗi chiếc nón ra đời không chỉ che mưa che nắng cho biết bao người, mà còn mang theo vẻ đẹp duyên dáng, tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới  từ thị trường và trải nghiệm

Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm

LNV - Trước sức ép cạnh tranh và sự thay đổi nhanh của thị hiếu tiêu dùng, nhiều làng nghề truyền thống đang chủ động tìm hướng thích ứng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tế tại Đà Nẵng và TP Huế cho thấy, khi nghề truyền thống được đặt trong một không gian phát triển mới, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng mà còn được bồi đắp từ câu chuyện văn hóa, trải nghiệm và bản sắc của mỗi vùng đất.
Tinh hoa làng nghề Hà Nội  Tinh hoa làng nghề Hà Nội   trong dòng chảy sáng tạo

Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo

LNV - Gần 300 sản phẩm, bộ sản phẩm của 183 tác giả đã hội tụ tại Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026. Từ những kỹ thuật được gìn giữ qua nhiều thế hệ đến tư duy thiết kế, thương mại và hội nhập mới, hội thi cho thấy sức sống của làng nghề Thủ đô đang được tiếp nối bằng cả bàn tay tài hoa và khát vọng đổi mới
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.

Tin khác

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Chiều 28/9, tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Lễ trao giải Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 điểm đến du lịch nông thôn tiêu biểu

LNV - Ban Tổ chức Hội thi “Điểm đến du lịch nông thôn Việt Nam tốt nhất” năm 2026 đề nghị các tỉnh, thành phố lựa chọn, hỗ trợ những điểm đến tiêu biểu hoàn thiện hồ sơ tham gia Hội thi. Mỗi địa phương được đề cử tối đa 2 hồ sơ, thời hạn nộp trước ngày 15/10/2026.
Để người trẻ kể tiếp câu chuyện làng nghề

Để người trẻ kể tiếp câu chuyện làng nghề

LNV - Không chỉ thi kéo đũi, đánh ống, học sinh và thanh thiếu niên xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên còn được làm video, xây dựng ý tưởng du lịch và trực tiếp kể câu chuyện về những làng nghề của quê hương. Hội thi “Yêu làng nghề quê em” đang mở ra một cách tiếp cận mới trong gìn giữ nghề truyền thống: để thế hệ trẻ hiểu nghề, trải nghiệm nghề và trở thành người tiếp tục lan tỏa giá trị của làng nghề.
Hà Nội: Thượng Phúc phát triển làng nghề qua chuyển đổi số

Hà Nội: Thượng Phúc phát triển làng nghề qua chuyển đổi số

LNV - Xã Thượng Phúc đưa di sản Chùa Đậu và tinh hoa thêu Cổ Chất 400 năm tuổi lên môi trường số. Việc kết hợp tri thức dân gian với công nghệ giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy kinh tế số gắn liền bảo tồn di sản.
Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

LNV - Từ những chiếc giỏ tre, khay nứa được làm thủ công ở Thọ Đơn đến những chiếc nón lá được chằm tỉ mỉ ở Tri Lễ, nhiều làng nghề truyền thống đang từng bước tìm đường lên không gian số. Website, mã QR, thư viện số, mạng xã hội, video ngắn hay livestream không làm thay đôi bàn tay người thợ, nhưng đang trở thành cầu nối mới để sản phẩm đến gần hơn với thị trường, đồng thời giúp những câu chuyện nghề được lưu giữ và lan tỏa.
Nghề làm lồng đèn truyền thống  giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

Nghề làm lồng đèn truyền thống giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

LNV - Gần đến rằm Trung thu, một số con hẻm của xóm Phú Bình (phường Hòa Bình, TPHCM) trở nên sôi động, bắt mắt với những chiếc lồng đèn truyền thống nhiều hình dáng và sắc màu. Nhiều năm qua, những người thợ nơi đây vẫn cần mẫn chuốt từng thanh tre, dán từng mảng giấy kính đỏ, vàng như một nỗ lực lưu giữ ký ức thân thương về những mùa trăng, cho cả bản thân lẫn cộng đồng
Làng lụa Vạn Phúc phát huy di sản, mở hướng phát triển mới

Làng lụa Vạn Phúc phát huy di sản, mở hướng phát triển mới

LNV - Việc được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội, cùng dấu mốc tham gia Mạng lưới các Thành phố Thủ công sáng tạo thế giới, đang mở thêm dư địa phát triển cho làng lụa Vạn Phúc. Từ một làng nghề nghìn năm tuổi bên dòng sông Nhuệ, Vạn Phúc từng bước chuyển mình theo hướng vừa gìn giữ di sản, vừa đổi mới sản phẩm, phát triển du lịch trải nghiệm và gia tăng giá trị nghề truyền thống.
OCOP tiếp sức cho thương hiệu làng nghề, nâng vị thế hàng Việt

OCOP tiếp sức cho thương hiệu làng nghề, nâng vị thế hàng Việt

LNV - Với hơn 1.350 làng có nghề, trong đó hơn 300 làng nghề truyền thống, Hà Nội sở hữu nguồn lực lớn để phát triển sản phẩm OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt. Mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn kết tinh kỹ năng nghề, bản sắc văn hóa và sức sáng tạo của người dân Thủ đô, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt trong quá trình hội nhập.
Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai -

Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai - 'Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai'

LNV - Chiều ngày 21/9/2026, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông chủ trì Buổi gặp mặt Ngoại giao đoàn thông tin về Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, với sự tham dự của đại diện các cục, vụ, đơn vị liên quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, UBND thành phố Hà Nội cùng đại diện các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Tranh Khúc: Từ hồn nghề truyền thống đến khát vọng vươn xa

Tranh Khúc: Từ hồn nghề truyền thống đến khát vọng vươn xa

LNV - Giữa những làng nghề ven sông Hồng đang đứng trước yêu cầu vừa gìn giữ giá trị truyền thống, vừa thích ứng với nhịp phát triển đô thị, Tranh Khúc (xã Nam Phù, Hà Nội) mang một dấu ấn riêng.
Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn 2026: Kịch tính những kháp đấu nảy lửa trên sới chọi

Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn 2026: Kịch tính những kháp đấu nảy lửa trên sới chọi

LNV - Sáng 19/9, vòng chung kết Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – VTV 2026 diễn ra tại sân vận động Trung tâm phường Đồ Sơn, Hải Phòng, thu hút đông đảo người dân và du khách. Những kháp đấu quyết liệt, không khí cổ vũ sôi động cùng các nghi lễ truyền thống tạo nên một ngày hội mang đậm dấu ấn văn hóa vùng biển.
Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

LNV - Từ làng Tân An bên dòng Gianh ở Quảng Trị đến Lựu Bảo ở vùng đất Huế, nghề làm bánh tráng đã đi qua hàng trăm năm cùng đời sống của người dân. Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựn
Hà Nội lần đầu đạt tăng trưởng hai con số trong năm 2026

Hà Nội lần đầu đạt tăng trưởng hai con số trong năm 2026

LNV - GRDP quý III/2026 ước tăng 10,02%, lần đầu trong năm TP Hà Nội đạt mức tăng trưởng hai con số và cũng là mức tăng cao nhất trong các quý của năm 2026.
Hà Nội đưa sản phẩm OCOP lên TikTok

Hà Nội đưa sản phẩm OCOP lên TikTok

LNV - Sáng mai (6-10), tại Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội sẽ diễn ra chương trình “Gian hàng số – nâng tầm thương nhân Thủ đô” và ra mắt kênh TikTok “OCOP Hà Nội”.
Việt Nam 24H: Cầu nối truyền thông số cho doanh nghiệp Việt

Việt Nam 24H: Cầu nối truyền thông số cho doanh nghiệp Việt

LNV - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng hình ảnh thương hiệu và lan tỏa thông tin trên nền tảng số ngày càng trở thành nhu cầu thiết
Hơn 14.500 vận động viên từ 57 quốc gia và vùng lãnh thổ tạo nên kỷ lục mới tại Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank mùa thứ 5

Hơn 14.500 vận động viên từ 57 quốc gia và vùng lãnh thổ tạo nên kỷ lục mới tại Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank mùa thứ 5

Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động