Hà Nội: 31°C Hà Nội
Đà Nẵng: 32°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 33°C Thừa Thiên Huế

Lãng mạn chuồn chuồn tre

LNV - Thân thiện mời khách ly trà nóng, nghệ nhân Nguyên Văn Tái, một trong những người có “thương hiệu” với nghề chế tác chuồn chuồn tre xuất khẩu ở xóm chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội) xúc động mở lời tâm tình: “Cái nghề sản xuất - kinh doanh chuồn chuồn tre với tôi cũng như bà con nơi đây nó chả khác nào một cái duyên tình đã được mặc định từ đời nảo đời nào ấy nhé!”.

“Chuồn chuồn có cánh thì bay

Kẻo thằng cu Tý thò tay bắt chuồn!”.

Nhấp ngụm trà thơm, bất giác anh Tái đưa mắt nhìn vào xa xăm như tìm kiếm điều gì đó. Và rồi ngay sau đó, những dòng hồi ức tinh khôi hiện ra trước mắt người nghệ nhân “có tiếng có tăm” ấy. Chuyện rằng, cách đây hơn 20 năm trời có lẻ, một ngày đẹp trời đó, cái xóm nhỏ thanh bình dân dã nằm dưới chân núi Câu Lâu trầm mặc uy nghiêm nơi có ngôi chùa cổ Tây Phương độc nhất vô nhị chợt trở nên sống động khác thường. Có cái sự ấy là bởi trong đoàn du khách viếng thăm chùa có một nhân vật mang theo chú chuồn chuồn chế tác bằng tre nhỏ xinh.

Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy chú chuồn chuồn tre lạ mắt, đáng yêu tức thì người dân xóm chùa Tây Phương nổi máu hiếu kỳ xúm đen xúm đỏ quanh người lữ khách kia mà trầm trồ ngắm nghía, chỉ trỏ dẫu rằng cái sản phẩm đồ chơi đó chả lấy gì làm tinh xảo cho lắm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái mủm mỉm thổ lộ, lúc đầu chỉ là nhằm thỏa mãn cảm giác tò mò mà anh tìm cách ngó nghiêng con chuồn chuồn tre đó mà thôi.

Thế rồi, trong giây khắc ngắn ngủi đầy xúc cảm, ký ức tuổi thơ với những trưa hè tháng 5 râm ran tiếng ve sầu, đầu trần chân đất, Tái trốn cha, trốn mẹ lỉnh ra khỏi nhà để tìm tới hàng rào râm bụt trước ngõ; tới bụi tre gai sau nhà rón rén hồi hộp thò tay bắt những chú chuồn chuồn kim, chuồn chuồn ớt và chuồn chuồn ngô,... trong thế giới tự nhiên bao la, với muôn vàn sắc thái hưng phấn đầy thi vị.


Nghệ nhân Nguyễn Văn Tái - một trong những người đầu tiên đến với nghề chế tác chuồn chuồn tre ở Thạch Xá.

Những kỷ niệm thuần khiết ấy chợt cựa quậy trỗi dậy bừng thức trong tâm thức thiêng liêng của anh Tái. Không dừng lại ở đó, nó thôi thúc anh tìm về với tuổi niên thiếu đầy hạnh phúc của mình. May sao, lúc bấy giờ trong nhà lại sẵn nguyên liệu tre pheo bởi nghề mây tre đan xuất khẩu trước đó vừa mới rã đám, anh Tái mò mẫm chế tác chú chuồn tre đầu tiên trong đời.

Anh Tái kể, mới đầu khi được nhìn con chuồn chuồn tre của vị khách nước ngoài ấy thấy nó thật đơn giản, chắc mẩm “một phát ăn ngay”, sẽ cho ra đời tức thì cả núi sản phẩm. Nhưng khi bập vào làm mới thấy vô cùng nan giải, thậm khó. Mà khó nhất là ở cái khoản làm thế nào để chú chuồn chuồn tre ấy giống y thật và đặc biệt, phải khiến cho nó trở nên thăng bằng trong mọi bối cảnh.

Nghĩ rằng mình không đến nỗi kém cạnh thiên hạ về cái gọi là “đường tài hoa” là mấy, vậy mà sau vài tháng trời mất ăn mất ngủ, song rốt cuộc vẫn không “chế” được một con chuồn chuồn tre cho ra hồn, thoáng phút chốc nọ anh Tái có cảm giác phân tâm. Nhưng, vốn không phải là người “cả thèm chóng chán”. Mà nhất là, cứ thấy đám con cháu trong nhà, ngoài giờ lên lớp ra chẳng biết lấy gì nếu không cắm mặt vào trò chơi điện tử hại mắt, anh Tái cho rằng mình không thể thối chí nản lòng.

“Phải làm ra bằng được con chuồn chuồn tre để tuổi thơ của bọn trẻ trở nên lãng mạn, có ý nghĩa!”. Hạ quyết tâm thế, lại được người vợ hiền động viên chia sẻ, cuối cùng sau bao ngày trầy trật phá đi làm lại. Và sau bao “đêm trắng” thao thức trăn trở cùng những mô hình các chú chuồn chuồn tre, cuối cùng vào “cái đêm cổ tích” ấy, anh Tái đã thành công, dẫu thành quả đầu tiên đó chưa thật sự mang lại cho anh cảm giác mĩ mãn tròn trịa.

Chú chuồn tre “đầu lòng” ra đời đã kích thích cảm hứng sáng tạo của anh Tái. Không muốn dừng lại ở sản phẩm “độc bản”, anh Tái “tiện tay” nhân thêm vài chú chuồn chuồn tre nữa, vừa là tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật, nâng cấp chất lượng thẩm mỹ vừa nhằm có thêm nhiều đồ chơi không chỉ cho riêng con cháu trong nhà mà còn trong phạm vi họ tộc.

“Đấy, mục đích ban đầu của tôi với chuồn chuồn tre chỉ đơn giản thế thôi!” - anh Tái chân thành giãi bày - “Nào ngờ, vào sáng sớm hôm đó cách đây hơn 20 năm, hai vợ chồng còn đang mắt nhắm mắt mở trên giường bỗng dưng có người tới gọi cổng đề nghị được mua chuồn chuồn tre!”. Nghe anh Tái kể về cơ duyên đó, tôi hồi hộp tôi đặt câu hỏi: “Cũng từ cái buổi sáng tinh sương đó mà anh “bắt được mạch thị trường” để biến những sáng tạo nghệ thuật của mình thành hàng hóa!”.

“Vâng, đúng thế anh ạ!” - anh Tái không hề giấu giếm - “Nhưng trong khi tôi còn chưa kịp thăng hoa với nghề thì, một ngày nọ, “cơn bão đầu ra” bất thình lình quét qua làng khiến cho bản thân và gia đình một phen khốn khổ chưa từng thấy!”. Nhưng rồi cơn chếnh choáng, hoang mang chấp chới ấy vụt qua mau trong tư tưởng anh Tái. “Thôi thì không thành hàng hóa thì thành đồ chơi cho trẻ con trong nhà và cũng là để vợ chồng có cái ngắm nghía cho nguôi nỗi nhớ tuổi thơ, nhưng nhất định phải “number one” hơn trước mới được!” - anh Tái tự tin an ủi mình.

Kể từ bữa đó, lại là những bữa quên ăn, những đêm mất ngủ cùng chú chuồn chuồn tre, anh Tái tìm mọi cách “nâng cấp” để nó trở nên tinh xảo hơn, sống động hơn. Trời không phụ lòng người, tới một ngày kia, đám cháu con trong nhà phải kinh ngạc kêu lên: “chuồn chuồn của bố Tái y như thật!”.

Còn chị Khương Thị Tân vợ anh Tái lặng người rưng rưng cặp mắt đẹp đầy nữ tính của mình mà “tâm phục, khẩu phục” tính kiên nhẫn cùng khả năng khám phá, sáng tạo nghệ thuật của chồng rồi thảng thốt bằng cái giọng như chỉ chực òa khóc, rằng: “không thể chê vào đâu được, chú chuồn chuồn của chồng em!”. Đấy cũng chính là khi cánh cửa thị trường thêm một lần nữa mở ra với anh Tái: lại có khách tìm tới ngỏ ý xin mua chuồn chuồn tre “đẹp miễn chê” của anh!

Anh Tái bảo, chỉ là con chuồn chuồn tre trông rất đơn giản, thế nhưng bản thân lại phải nếm trải biết bao lần hỏng ăn, tưởng cả đời không thể nên cơm cháo với nó. Lúc đầu là hằng ha sa số những bận “lên bờ xuống ruộng” vì không thể nào lắp được “đôi cánh thần tiên” vào thân chuồn chuồn cho thật cân xứng. Tới khi vượt cửa ải đó, anh Tái lại trải qua nhiều ngày đêm mất ăn mất ngủ chỉ bởi, những chú chuồn chuồn tre của mình không tài nào giữ được độ thăng bằng.

“Mà một khi chuồn chuồn không thể đậu được thì “thằng cu Tý thò tay bắt chuồn” thế nào được. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chẳng có ai thèm mua sản phẩm của mình ạ!” - gương mặt trở nên méo xệch, anh Tái hóm hỉnh thở hắt ra một tiếng, vẻ cực kỳ bi - hài. Nhưng, rồi một ngày nọ, khi đang ở “cuối đường hầm”, anh Tái bất ngờ phát hiện ra nguyên do tại sao mình lại phải trải qua cả trăm bận thất bại ê chề đầy những đắng cay như thế.


Những cánh chuồn chuồn tre rực rỡ sắc màu mang hồn quê hương Thạch Xá có mặt khắp bốn phương trời.

Không để khách phải chờ lâu, anh Tái cởi mở cho hay, cái lý do khiến cho mình phải khổ sở vì thất bại tưởng phức tạp vô cùng song hóa ra lại rất đơn giản. Ấy là, muốn “ăn tiền” của thiên hạ thì điều tiên quyết là ở vấn đề nguyên liệu “đầu vào”. Cụ thể là cây tre! Theo anh Tái, vùng Thạch Thất xứ Đoài mây trắng quê anh và cả Hà Nội mênh mông nói chung cũng như các địa phương vùng châu thổ sông Hồng “...đâu đâu cũng có lũy tre xanh rì rào ẩn hiện...” (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) song thật tiếc, tất cả chúng đều không thể trở thành thứ nguyên liệu quan trọng số một làm nên những chú chuồn chuồn tre được.

Nhớ lại thuở mới chập chững tiếp cận nghề làm chuồn chuồn tre, anh Tái kể, bản thân vốn dĩ rất hồn nhiên thành ra cứ đinh ninh rằng, tre nào mà chả là tre, dù ở miền xuôi hay mạn ngược. Mà đã là tre thì tất nhiên sẽ cho ra đời những chú chuồn chuồn “như ý”. Song, rốt cuộc, anh Tái đã quan niệm sai. Rồi chính bởi sự “bé cái nhầm” ấy của mình mà anh Tái phải “trả giá” với hết thất bại này tới đổ vỡ khác.

Sau cái cười hiền dung dị, anh Tái thủng thẳng lên tiếng: “Chẳng phải là nhà khoa học nên tôi không thể biết kết cấu thành phần cơ học của một cây tre đồng bằng khác với thứ cùng loài với nó tại vùng núi Tây Bắc ra sao. Nhưng một điều đơn giản mà tôi dám chắc: chỉ những cây tre bánh tẻ Tây Bắc mới “đủ tư cách” làm cho những chú chuồn chuồn của mình có “thần thái” để đậu thăng bằng được thôi anh ạ!”.

Vì lý do đó, mấy chục năm qua, anh Tái thường xuyên phải lặn lội khi thì Lào Cai, Yên Bái, lúc thì Tuyên Quang, Hà Giang, v.v... lùng mua cho được thứ tre “ngon lành” nhất. Mới hay cái nghề chế tác chuồn chuồn tre của anh Tái nó vất vả khổ sở, trầy xước công phu đến nhường nào. Nhưng, hóa ra sự khổ sở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân ấy nào chỉ dừng lại ở việc tìm ra thứ tre đạt độ chuẩn chỉ cho những chú chuồn chuồn.

Mua được tre rồi, việc đầu tiên, người ta phải làm là cạo bỏ hết phần vỏ (tinh tre) xanh bên ngoài. Sau đó tre được đem phơi hoặc sấy thật khô. Tiếp theo, người nghệ nhân bắt buộc phải tiến hành thêm 12 công đoạn tỷ mẩn, công phu và cực kỳ chính xác như thực hiện các phép tính toán học thì may ra mới có được những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô như ý.

“Cái khó nhất vì thuộc khâu quan trọng nhất, ấy là công đoạn ghép cánh vào thân những chú chuồn chuồn!” - anh Tái bỗng trở nên xúc cảm - “Nhất dáng nhì da!”. Dáng là linh hồn của sản phẩm, do đó phải gắn cánh chuồn chuồn vào thân sao cho chúng giữ được thăng bằng ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Muốn thế, hai cánh chuồn chuồn phải được căn đối xứng thật chính xác để nó tự thăng bằng khi đậu trên bề mặt của một cái đế nào đó hay ngay trên đầu ngón tay, thậm chí là một sợi chỉ!”.

Sau khi hoàn thành những chú chuồn chuồn tre ở dạng thô, những người thợ mới chính thức tạo “phần hồn” cho chúng bằng việc quét sơn và vẽ họa tiết làm đẹp bằng hơn chục loại sơn màu khác nhau với muôn hình, muôn vẻ sắc thái được tạo nên bằng chính cảm hứng nghệ thuật mang hơi thở đời sống thôn quê dân dã. Được tạo hồn tạo vía, bấy giờ những chú chuồn chuồn tre vốn trước đó đã vô cùng tinh xảo và chắc chắn về độ bền rồi bỗng chốc càng trở nên bóng bẩy lung linh, sống động, như bay ra từ trong thế giới cổ tích sương khói vi diệu.

Gần 20 năm về trước, khi đã có được cái cảm giác phần nào tự tin về tương lai của mình, việc đầu tiên anh Tái nghĩ tới là xẻ gạo, san cơm của mình với những người xung quanh. Hiện thực hóa câu chuyện đó, anh Tái chủ động trân trọng mời những người bà con trong xóm ngoài làng vốn có “máu tình yêu” với chuồn chuồn và đặc biệt yêu nghề, say nghề tới xưởng của mình làm việc.

Giải thích về việc mình làm, anh Tái cười chất phác đoạn nhẩn nha thủ thỉ: “Bà con trong xóm, ngoài làng với nhau cả chứ nào phải “người dưng” đâu ạ. Mới lại “Ăn một mình đau tức. Làm một mình cực thân!”. Nhờ có duyên trời ban với con chuồn chuồn tre mà vợ chồng, con cái mình có bát ăn thì cũng nên mời bà con họ chung vui cùng để “tối lửa tắt đèn có nhau!”. Mà suy cho cùng, giúp người cũng chính là giúp mình cả thôi, anh ạ! Cũng chính nhờ có họ mà từ nhiều năm nay sản phẩm của tôi mới tự tin có mặt tại hàng loạt các thị trường khó tính, như Pháp, Nhật Bản, Mỹ và một vài quốc gia châu Âu khác đấy chứ!”.

Trước khi nói lời chia tay, khách được nghệ nhân Nguyễn Văn Tái phấn chấn cho biết, ngoài việc chia sẻ thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật của mình với rất nhiều bà con địa phương, mấy năm gần đây anh còn phối hợp với một số tổ chức xã hội, như Cenforchil - Trung tâm Nghiên cứu và Bảo trở trẻ em, trực thuộc Liên hiệp các hội KH-KT Việt Nam. Và nữa là tổ chức MyHanoi (Việt Nam) thực hiện dự án nghiên cứu - bảo tồn đồ chơi dân gian Việt.

Anh Tái bỗng trở nên xúc động lạ thường khi bộc bạch, thông qua hai tổ chức nói trên, mấy năm qua đã có hàng triệu chú chuồn chuồn tre ngộ nghĩnh của mình đến được với rất nhiều thiếu nhi. Chính những chú chuồn chuồn tre tinh xảo, ngộ nghĩnh, sinh động của anh Tái đã khỏa lấp khoảng thiếu thụt, trống vắng ký ức tuổi thơ trong tâm hồn của biết bao trẻ em Hà Nội cũng như tại nhiều vùng, miền khác của nước Việt thời công nghệ 4.0.

Theo An Ninh Thủ Đô

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân Lô Thị Hương -  Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

Nghệ nhân Lô Thị Hương - Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

LNV - Hơn 80 năm gắn bó với làn điệu dân ca Thái, bà Hương đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tin khác

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.
Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nâng cao chất lượng đánh giá và phân hạng sản phẩm OCOP

Nâng cao chất lượng đánh giá và phân hạng sản phẩm OCOP

LNV - Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm. Theo đó, sản phẩm đạt OCOP 5 sao phải có tổng điểm trung bình đạt từ 90 đến 100 điểm, là sản phẩm đặc trưng, có thương hiệu,
Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH đến thăm, tặng quà cho các bệnh nhi tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh
Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái của Hợp tác xã Sơn Trà chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt hạng 5 sao OCOP cấp quốc gia
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

LVN - Sở Công Thương tỉnh Điện Biên vừa xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Trong đó, đối với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Điện Biên, Sở đề xuất giữ nguyên cơ cấu tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính; tiếp tục là đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Giao diện di động