Hà Nội: 31°C Hà Nội
Đà Nẵng: 33°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 33°C Thừa Thiên Huế

Làng nghề thời Văn Lang

LNV - Những hình ảnh chạm khắc trên mặt trống đồng được đúc tạo từ cách ngày nay trên dưới 2.500 năm, cho thấy người dân Văn Lang không chỉ đưa văn minh trồng lúa nước lên đỉnh cao, mà đã phát triển cực thịnh nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp như: đúc đồng, chế tác đồ gỗ, làm mây tre đan, làm đồ gốm, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải…

Đỉnh cao của nghề đúc đồng trên thế giới

Từ cách đây gần 1,5 thế kỷ, các nhà nghiên cứu người Pháp khi chứng kiến những chiếc trống đồng được phát hiện tại huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) đã phác thảo ra một nền văn minh rực rỡ ở Đông Dương cách ngày nay hơn 2 thiên niên kỷ, đặt tên là “Nền Văn hóa Đông Sơn”. Văn hoá Đông Sơn được các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá là trung tâm phát triển của Đông Nam Á, cũng là một nền văn hoá thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 2000-2500 năm. Văn hoá Đông Sơn ra đời và phát triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ lâu dài từ những nền văn hoá trước đó. Nguồn gốc cơ bản để hình thành nên Văn hóa Đông Sơn đó là các giai đoạn "Tiền Đông Sơn" từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu đến Gò Mun. Nền Văn minh Đông Sơn có nguốn gốc bản địa với địa bàn phân bố rộng (từ biên giới phía Bắc đến tỉnh Quảng Bình ở Bắc Trung Bộ) và bao gồm nhiều nhóm di tích có niên đại sớm, muộn khác nhau.

Làng nghề thời Văn Lang
Hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

Công cuộc truy tập và nghiên cứu trống đồng được triển khai bài bản bởi Viện Viễn Đông Bác Cổ, để rồi vào những năm đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Áo F. Heger đã xuất bản tập sách "Những trống kim khí ở Đông Nam Á". Heger chia trống đồng thành bốn loại chính theo thứ tự từ cổ nhất đến gần đây nhất, gồm: Heger I, Heger II, Heger III và Heger IV. Trong đó, nhóm Heger I là những trống đồng có niên đại từ thế kỷ thứ VI Trước Công nguyên đến thế kỷ I trước công nguyên, cách ngày nay 2.500 năm đến 2.000 – đây là thuộc “loại cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời”. Thống kê đến thời điểm hiện nay, trên thế giới đã phát hiện được tất cả gần 250 trống đồng Heger I. Trong đó, có 137 chiếc ở Việt Nam, 73 ở Trung Quốc (đều tập trung ở khu vực phía Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam - gần với Việt Nam), 8 ở Thái Lan, 9 ở Lào, 2 ở Campuchia, 4 ở Malaysia, 12 ở Indonesia, và 5 ở Myanmar.

Trên thế giới, thời đại đồ đồng được cho là xuất hiện đầu tiên tại khu vực Trung Đông, nơi người cổ đại phát hiện ra những mỏ đồng đầu tiên vào cách ngày nay gần 4.00 năm. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tại Bắc Bộ nước ta cách nay khoảng 2.500 năm, người xưa phát hiện ra những mỏ đồng lộ thiên lớn, thuộc loại đồng thau. Đây là loại đồng có lẫn kẽm, khi nấu chảy và để nguội tạo vật liệu

rắn hơn so với đồng đỏ. Nhờ có khối lượng đồng mỏ dồi dào, nghề chế tác đồng của cư dân Đông Sơn – Văn Lang đã phát triển lên đỉnh cao nhất thế gới lúc bấy giờ.

Cư dân Văn Lang không chỉ đúc trống đồng sử dụng làm nhạc cụ, mà còn chế tác rất nhiều công cụ, đồ vật bằng đồng, như bình, gò, thập, mâm, chậu, nồi đồng, chiêng, ché… Đặc biệt, sự ra đời của lưỡi cày đồng chính là loại công cụ tiến bộ nhất lúc bấy giờ, đánh dấu bước nhảy vọt trong nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, cùng với sự bắt đầu phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, đã đưa Văn Lang trở thành quốc gia cường thịnh.

Đến tham quan Bảo tàng Lịch sử quốc gia, được chiêm ngưỡng nhiều trống độc, trong đó trống đồng Ngọc Lũ được đánh giá là đẹp nhất, hoa văn tinh xảo nhất trên thế giới, cũng là một trong những trống đồng có kích thước lớn nhất. Trống đồng này được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia đợt 1 theo Quyết định số 1426/QĐ-TTg ngày 1/10/2012. Trống đồng Ngọc Lũ có niên đại khoảng 2.500 năm là biểu tượng cường thịnh của nền văn hóa Đông Sơn mà ở đó có đầy đủ yếu tố kỹ thuật đúc đồng, trình độ mỹ thuật và chế tác đồ đồng rất cao mà ngày nay chúng ta vẫn vô cùng thán phục. Không chỉ đúc trống đồng, mà người Việt cổ còn đúc nhiều sản phẩm khác như thạp đồng, trang sức bằng đồng…

Các làng nghề chế tác gỗ đã hưng thịnh

Các hình ảnh chạm khắc trên mặt, trên tang và thân trống đồng Ngọc Lũ cho ta nhìn thấy được đời sống, nhà cửa, nghề nghiệp của cư dân đất nước Văn Lang. Hình ảnh những ngôi nhà được khắc trên trống đồng, cho thấy nhà của người Việt xưa chủ yếu là nhà sàn làm bằng gỗ, mái cong, sàn thấp, mái rủ xuống như mái tranh đến tận sàn, có cầu thang lên xuống. Kiểu nhà này rất giống với nhà hình mai rùa của người dân tộc Mường ở Hòa Bình ngày nay. Điều này vô cùng dễ hiểu, bởi cư dân của nước Văn Lang xưa chủ yếu là người Mường. Cho đến thời kỳ Bắc thuộc, người Mường từ trên núi và trung du mới đi xuống vùng đồng bằng và hình thành người Kinh.

Làng nghề thời Văn Lang
Người Mường Hòa Bình

Nhìn bên ngoài ngôi nhà sàn của người Mường thời Văn Lang – Đông Sơn thường có bốn mái, hai mái trước và sau có hình thang cân; hai mái đầu hồi có hình tam giác cân. Kết cấu của nhà sàn người Mường được chịu lực bởi bộ khung bằng gỗ, thường có 2 vì kèo, 4 cột cái và 8 cột con, giữa hai đầu cột cái nối với nhau gọi là xà ngang, ngoài ra còn có các đòn tay nối các vì kèo với nhau và trên đòn tay có các hàng rui nối từ nóc nhà hàng mè nằm vuông góc với rui. Trên cùng gác trên đầu các vì kèo (nóc nhà) có đòn nóc. Sàn nhà thường lát bằng những cây bương hoặc bằng gỗ nhưng phổ biến vẫn là cây bương (cây bương to, già để cả cây theo chiều dài tự nhiên, bổ tách đôi và dát thanh từng miếng liền, xếp sát nhau trên toàn bộ diện tích sàn nhà). Cột nhà làm bằng gỗ tròn hoặc vuông nhưng phổ biến là tròn; chân cột thường được chôn xuống đất nhưng cũng có nơi dùng các hòn đá tảng để kê.

Khác với người bên Trung Hoa thời kỳ đó, ngựa là phương tiện đi lại chủ yếu, thì trên mặt trống đống Ngọc Lũ nói riêng, trống đồng Đông Sơn nói chung không có hình ảnh ngựa hoặc người cưỡi ngựa. Phương tiện đi lại phổ biến của cư dân Văn Lang là thuyền trên các con sông rạch. Những hình ảnh nhà gỗ, thuyền gỗ trên trống đồng, cùng với nhiều di vật bằng gỗ còn tìm thấy với niên đại hơn 2.000 năm, cho thấy vào thời đại Văn Lang, không chỉ nghề đúc đồng phát triển, mà nghề chế tác đồ gỗ cũng đã rất thịnh, từ làm nhà bằng gỗ, đóng thuyền gỗ, chế tác tượng và đồ thủ công bằng gỗ.

Một trong những khối di sản khảo cổ tìm thấy của nền văn hóa thời Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm, đó là “Mộ thuyền Đông Sơn”. “Với người Việt từ cách đây hàng nghìn năm, ma chay là một tục lệ quan trọng, nên mộ thuyền Đông Sơn trở thành di sản quan trọng trong khảo cổ ở nước ta. Mộ thuyền Đông Sơn lại mang tâm thức Việt rất rõ”, PGS.TS Bùi Văn Liêm, nguyên Phó viện trưởng Viện Khảo cổ nhận định.

Làng nghề thời Văn Lang
Nhà mai rùa của người Mường 2

Đã có hàng trăm chiếc quan tài mộ thuyền thời Đông Sơn đã được tìm thấy ở nước ta, đang được bảo lưu gìn giữ tại hệ thống các Viện bảo tàng, các Viện nghiên cứu trên toàn quốc. Mộ thuyền Đông Sơn thường có cấu trúc là một đoạn thân cây gỗ tròn hoặc gần tròn, khoét rỗng hình lòng máng, hai đầu chừa lại (hoặc ghép thêm ván) làm vách ngăn. Liên kết tấm thiên và tấm địa là những lỗ chốt hoặc mộng khớp, một số áo quan có 4 tay khiêng 4 góc của tấm thiên và tấm địa. Trong lòng những con thuyền đầy tính tâm linh ấy, người Việt thời xa xưa đặt vào đó rất nhiều đồ quý. Khảo cổ học cho thấy đại đa số đồ tùy táng là di vật điển hình của văn hóa Đông Sơn. Một số di vật trong mộ thuyền có đặc trưng riêng như đồng lưỡi xéo gót nhọn, cuốc sắt, công cụ xới đất bằng gỗ... là những nông cụ thích ứng canh tác ruộng trũng. Những trống đồng, thạp đồng hoa mỹ cũng thấy trong mộ thuyền. Còn có cả bộ vũ khí với số lượng nhiều nhất là lao thích ứng với thủy chiến trên thuyền vùng sông nước.

Nghề nông, chăn nuôi, dệt lụa

Các vật dụng sinh hoạt gia đình của người dân Văn Lang rất phong phú, đa dạng chất liệu bằng gốm, đồ đựng bằng tre, nứa, mây... cho thấy các nghề thủ công mỹ nghệ như nung gốm, nghề mây tre đan đã phát triển từ thời bấy giờ.

Nền văn minh lúa nước ra đời cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á. Vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, công cụ lao động bằng đồng thau đã trở nên phổ biến và bắt đầu có công cụ bằng sắt. Nhờ vậy, cư dân đã khai phá và biến vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả thành những cánh đồng màu mỡ với nền nông nghiệp trồng lúa nước, dùng cày với sức kéo của trâu, bò. Thóc gạo là nguồn lương thực chủ yếu của cư dân Văn Lang. Họ biết dùng gạo nếp để thổi cơm, làm bánh chưng, bánh giầy. Để phục vụ canh tác nông nghiệp, họ đã tự chế tạo ra những công cụ phù hợp để sản xuất và khai thác như cuốc, liềm, cối....

Những hình ảnh chạm khắc trên mặt trống đồng cho thấy nghề chăn nuôi đã phát triển vào thời đại Văn Lang. Người Việt cổ đã biết trồng dâu, nuôi tằm, dệt tơ tằm bông. Bên cạnh đó còn bắt cá, tôm, trồng rau củ và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Làng nghề thời Văn Lang
Trống đồng ngọc Lũ ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Những hình ảnh trên trống đồng cũng cho thấy vào thời đại Văn Lang, nghề dệt đã rất phát triển, họ đã sản xuất được nhiều loại vải khác nhau từ sợi đay, gai, tơ tằm, bông... Trong cuộc sống hằng ngày nam thường đóng khố, nữ mặc váy. Khố của nam giới có hai loại đó là loại quấn đơn và loại quấn kép. Váy của nữ giới có loại váy quấn và loại váy chui được làm từ một mảnh vải dài, rộng. Phụ nữ còn có yếm che kín ngực, áo xẻ giữa, thắt lưng quấn ngang bụng và khăn quấn đầu. Vào các ngày lễ hội, trang phục của họ rất đẹp: mũ có lông chim, váy xòe kết bằng lông chim hoặc lá cây mang nhiều đồ trang sức đẹp như khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay... Chính sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của nghề thủ công và kỹ thuật luyện kim tạo điều kiện cho sự đa dạng phong phú những mẫu trang sức.

Chu Minh Khôi

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân Lô Thị Hương -  Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

Nghệ nhân Lô Thị Hương - Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

LNV - Hơn 80 năm gắn bó với làn điệu dân ca Thái, bà Hương đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tin khác

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.
Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH đến thăm, tặng quà cho các bệnh nhi tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh
Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái của Hợp tác xã Sơn Trà chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt hạng 5 sao OCOP cấp quốc gia
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

LVN - Sở Công Thương tỉnh Điện Biên vừa xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Trong đó, đối với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Điện Biên, Sở đề xuất giữ nguyên cơ cấu tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính; tiếp tục là đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Làng nghề Hồng Vân - Nơi giữ gìn nét đẹp truyền thống và du lịch sinh thái

Làng nghề Hồng Vân - Nơi giữ gìn nét đẹp truyền thống và du lịch sinh thái

làng quê Hồng Vân được ví như một ốc đảo xanh tươi, thanh bình bên bờ sông Hồng, là địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn
Giao diện di động