Hà Nội: 34°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 30°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 27°C Thừa Thiên Huế

Giữ gìn bản sắc văn hóa làng nghề cần phải gắn liền với phát triển kinh tế du lịch

LNV - Làng nghề truyền thống Vạn Phúc nổi tiếng với nghề dệt lụa không chỉ ở Hà Đông mà còn trong và ngoài nước. Nghề dệt đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội làng Vạn Phúc.


Lụa Vạn Phúc – Biểu tượng văn hóa của đất Hà Đông


Cũng giống như các làng nghề dệt khác ở vùng châu thổ sông Hồng, xuất phát từ nhu cầu tự cung tự cấp, tận dụng thời gian nhàn rỗi, những người nông dân tài hoa đã phát triển nghề thủ công truyền thống ngày một cao hơn. Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, hoàn cảnh lịch sử và tính cách con người mang lại cho nơi đây sự tôn vinh cao quý.

Làng Vạn Phúc có vị trí địa lý rất đẹp, là một hình thoi trải dài giữa hai đường giao thông, đường thủy và đường bộ. Phía Đông giáp sông Nhuệ, phía Tây giáp đường quốc lộ 70, cung đường Quốc lộ 70 bao quanh phía Tây Hà Nội, nơi tập trung rất nhiều làng nghề thủ công lâu đời quanh đất kinh kỳ lịch sử. Phía nam tiếp giáp Ngọc Trục, Đại Mỗ.


Hà Đông là vùng đất cổ xưa của Đồng bằng Bắc Bộ, nằm tiếp giáp với Hà Nội và có nền kinh tế hàng hóa sớm phát triển. Nơi đây cũng là mảnh đất trăm nghề nổi tiếng với nhiều nghề thủ công truyền thống như: Làm nón, đúc lưỡi cày, lười bừa, làm mộc, pháo, tiện gỗ, khảm chai...đặc biệt nổi tiếng với nghề diệt lụa và thêu ren: Làng Vạn Phúc ngày nay là phường Vạn Phúc nằm trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội khi xưa có tên gọi là Vạn Bảo thuộc tổng Thiên Mỗ bao gồm 7 xã thôn: Thiên Mỗ, Tây Mỗ, Vạn Bảo, Mỗ Lao, Ngọc Trục, Hồng Đô, Phùng Quang thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Sang thời Nguyễn, xã Thượng Thanh Oai có bốn thôn là Cầu Đơ, Kiều Trì, Văn Quán, Vạn Bảo, riêng làng Vạn Bảo nằm ở bên kia sông Cầu Am nên khi chia lại địa giới hành chính đổi sang thuộc tổng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đến đầu thế kỷ XX, do kiêng húy tên vua Thành Thái (1889-1906) là Bảo Lân nên mới đổi thành Vạn Phúc. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công làng Vạn Phúc là đơn vị hành chính thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

Các cụ cao tuổi làng Vạn Phúc kể lại, từ xưa, người Mỗ Lao ở bên kia sông Nhuệ đã chuyển sang bên này sông lập trại sinh sống. Khi mới định cư, người Vạn Phúc chỉ sống bằng nghề trồng cây lương thực và chăn nuôi. Hoàn cảnh kinh tế tự cấp, tự túc đã đưa người dân làng Vạn Phúc đến với nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Trong quá trình phát triển, bên cạnh nghề nông, nghề dệt dần dần trở thành nguồn sống chính của làng.



Tư liệu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được 11 đạo sắc phong. Trong điều kiện tư liệu còn ít ỏi về sự phát triển của làng Vạn Phúc trong thời kỳ phong kiến thì 11 đạo sắc phong này cũng đưa lại cho chúng ta một số nét về sự phát triển của làng. Đạo sắc phong năm Bảo Hưng thứ nhất (1801) đời Tây Sơn thấy ghi duệ hiệu Đức thánh có đến hơn hai mươi mỹ tự mà theo quy định xưa thì mỗi đợt gia phong thường chỉ là hai đến ba mỹ tự. Đến triều Nguyễn, mặc dù đã có tiền lệ ban cấp sắc phong từ đời Lê, Tây Sơn nhưng các vua đầu triều Nguyễn như Gia Long (1802-1820), Minh Mạng (1821-1840), Thiệu Trị (1841-1847) đều không ban sắc phong cho thành hoàng làng Vạn Phúc. Mãi đến năm Tự Đức thứ 6 (1853) đình làng Vạn Phúc mới tiếp tục nhận được sắc phong. Theo quy chế ban cấp sắc phong thời xưa, một địa phương không được cấp sắc chỉ có hai lý do. Một là vị thần mà dân làng tôn thờ không phải là chính thần mà thuộc loại tà thần, dâm thần không được phép thờ. Hai là dân làng không chịu tuân theo giáo hóa của triều đình. Theo các cụ cao tuổi làng Vạn Phúc thì nghiêng về lí do thứ hai. Thời Tây Sơn, dân làng Vạn Phúc dốc sức ủng hội phong trào. Nghĩa cử ủng hộ phong trào Tây Sơn ấy đã gây mối phản cảm đối với các vua đầu triều Nguyễn vì thế nên không có sắc phong.

Theo sử sách, từ trước công nguyên người Lạc Việt đã biết trồng dâu, nuôi tằm. Đến các thế kỷ đầu sau công nguyên, người Việt đã có giống tằm một năm tám lứa kén. Thời kỳ nhà Đường đô hộ đã thu thuế nhân dân ta bằng tơ lụa và nghề dệt tơ lụa đã trở thành một nghề thủ công quan trọng và phổ biến. Khi đánh thuế, chính quyền đô hộ cũng nhằm vào sản phẩm tơ lụa để vơ vét. Nhất là, nhà Đường còn quy định mỗi châu nộp thuế phải tương đương giá trị 50 tấn lụa. Như vậy, lúc này tơ lụa không chỉ là sản phẩm phổ biến, gần gũi với đời sống nhân dân, mà còn được chọn làm vật ngang giá chung trong lĩnh vực thu thuế.

Từ khi mới đến lập cư, người dân Vạn Phúc mới chỉ sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, dân số của Vạn Phúc ngày càng đông đúc, trong khi ruộng đất sản xuất nông nghiệp ít, năng suất lúa thấp không đảm bảo cho đời sống của nhân dân. Từ đó, thôi thức cư dân trong làng tìm kiếm thêm nghề phụ để đảm bảo nhu cầu cho cuộc sống. Ngoài ra, Vạn Phúc có vị trí thuận lợi, gần nguồn tơ tằm sông Đáy, gần trung tâm kinh tế chính trị sầm uất của tỉnh Hà Đông, lại có giao thông thủy, bộ thuận tiện nên đã sớm tiếp nhận nghề dệt lụa. Nhờ bàn tay tài hoa khéo léo, ý chí quyết tâm, tài năng sáng tạo, người dân Vạn Phúc làm nên sản phẩm dệt lụa nổi tiếng trong nước và ngoài nước


Nghề dệt ở làng Vạn Phúc có từ rất lâu đời, hiện nay không còn tài liệu nào nói đến sự ra đời của nghề dệt ở Vạn Phúc. Trong dân gian chỉ còn lưu truyền những truyền thuyết phản ánh vấn đề này. Dân làng có câu vè:

Gặp cô quê ở La Khê

Nhân vui nói chuyện về nghề làm the

Nghề này khởi tận triều Lê

Tướng quân mười vị dạy nghề mới sang.

Căn cứ vào câu vè trên, một số người cho rằng nghề dệt do vị tướng quân người Tứ Xuyên, Trung Quốc sang dạy cho làng La Khê rồi sau đó mới truyền sang làng Vạn Phúc. Còn thời gian truyền nghề, câu vè chỉ nói “khởi tận triều Lê”, còn thời Lê hay Lê Sơ thì không nói rõ.

Một truyền thuyết khác được lưu truyền rộng rãi trong dân làng Vạn Phúc được nhiều người chấp nhận hơn là truyền thuyết về bà tổ nghề Lã Thị Nga. Hiện nay, người dân trong làng vẫn còn lưu giữ bản thần tích do lễ Bộ Thượng thư Đông Các Đại học Nguyễn Bính biên soạn năm 1739 có nói về bà Lã Thị Nga truyền nghề cho dân nhân.

Có thể tóm tắt truyền thuyết của bà như sau: Thời con gái bà nổi tiếng xinh đẹp và là cô thợ may khéo ở đất Kinh Kỳ. Khi Cao Biền nhà Đường (Trung Quốc) được cử sang nước ta làm tiết độ sứ, xây thành Đại La (Hà Nội ngày nay) đã lấy bà làm vợ để trông nom khu vực phường cửi trong thành. Sau khi Cao Biền về nước, bà rời đến làng Vạn Phúc ở. Bà Lã Thị Nga còn mời thêm một bà cụ giỏi nghề dệt lụa về dạy cho dân làng. Sau khi bà hóa, dân làng nhớ ơn xây miếu thờ tại chỗ hóa và tôn bà làm Thành Hoàng làng. Tại đình làng Vạn Phúc nơi thờ bà, trong hậu cung còn đặt một cái kéo, một cái vạch và một cái thước sơn son thiếp vàng đặt trước bài vị. Sau khi bà Lã Thị Nga hóa, bà cụ thợ già cũng trở về quê và mất tại quê. Dân làng nhớ ơn lập đền thờ bà gọi là Đền Phường Cửi.


Hiện nay, trong đình làng, nơi thờ bà còn lưu giữ được 11 đạo sắc phong tuy không nói rõ quá trình bà dạy nghề cho dân trong làng diễn ra như thế nào, nhưng đều ca ngợi công đức, phẩm hạnh của bà và tôn bà là Thành Hoàng của làng “Lã Thị Nương nương Nga Hoàng Đại Vương”. Đây là một cơ sở quan trọng để chúng ta xác định rõ hơn về vị tổ nghề dệt làng Vạn Phúc và sự ra đời của nghề dệt. Ngoài ra, ở đình làng còn có đôi câu đối nói về hành trang của Bà, dịch nghĩa như sau: Theo lòng trời thần ban đất, gia ân cho dân, một ấp sống chung duy phép thần mới bảo vệ được. Đức lớn như lòng đất, trừ tai cản họa cho tứ dân mới an cư lạc nghiệp chỉ có lòng người mẹ mới giúp được dân như vậy. Theo tài liệu của Dương Bá Phượng trong tác phẩm Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, cho rằng: Làng Vạn Phúc (Hà Tây) nổi tiếng về nghề dệt lụa có từ cách đây khoảng 1000 năm (từ thời nhà Lý chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long) được hình thành cùng với vùng tơ tằm Hà Đông.

Đến thế kỷ XII, XIII, khi Nho giáo bắt đầu phát triển ở Đại Việt thì sự thay đổi về trang phục như: Quốc phục, áo dài chuyển sang màu đen làm cho nhu cầu về tơ lụa lại càng lớn, tác động đến sự phát triển của nghề dệt lụa Vạn Phúc. Nhất là thời nhà Trần, mức sản xuất tơ lụa của Vạn Phúc nói riêng, cả nước nói chung đã rất phát triển, phong phú về các loại sản phẩm. Việc tiêu dùng tơ lụa rất phổ biến, phần lớn nhân dân đều mặc quần, áo đen may bằng lụa, hoặc dệt bằng tơ.

Đến thời Hậu Lê, người dân Vạn Phúc đã phát triển nghề dệt từ vải đến trồi đũi lụa, sang the, lương, vân, sa và đặc biệt là dệt gấm. Theo tài liệu của Ban quản lý tôn tạo di tích phường Vạn Phúc: Vào năm 1614 ở Trung Quốc nhà Minh suy yếu, bị nhà Thanh chiếm ngôi, có ba gia đình họ Lý làm quan ở Vân Nam, không chịu hàng phục nhà Thanh, chốn sang Đại Việt cư trú, ở Đông Đô, tức là Hà Nội ngày nay. Riêng vợ chồng ông thứ ba, vợ là Hoàng Từ Phụ, chồng là Lý Khắc Quý, mở ra dệt the. Như vậy, dệt the lương có go võng có từ thời hậu Lê.

Nghề dệt ở làng Vạn Phúc đã ra đời từ rất sớm, có thể từ thế kỷ VIII vào lúc nhà Đường đô hộ nước ta. Trong sử cũ còn chép lại lúc bấy giờ nước ta gọi là “An Nam đô hộ phủ”, dân ta phải cống nộp cho vương triều phương Bắc những cống phẩm quý giá như: tơ lụa, the, đồ mây… Nhưng nếu muộn hơn thì nghề dệt ở đây cũng đã có từ thời Lê sơ (thế kỷ XV) và bề dày thời gian là khoảng hơn 500 năm cách ngày nay.

Dệt làng Vạn Phúc đã nhanh chóng được các vua quan và các tầng lớp nhân dân ưa chuộng. Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại đều sai người về làng Vạn Phúc mua sa, gấm, lụa đem về triều cho vua quan dùng may trang phục, trang trí. Giới sành ăn mặc ở thành thị và giới thượng lưu giàu có ưa chuộng lụa Vạn Phúc, đặc biệt là gấm Vạn Phúc.
Theo Ronanl trong quyển Hà Đông dư địa chí (1925) ở Vạn Phúc năm 1870 có 700 người làm nghề dệt lụa và tương ứng với khoảng 350 khung dệt. Như vậy trước 1904 nghề dệt ở Vạn Phúc tuy đã phát triển song quy mô và thị trường tiêu thụ còn hẹp. Tuy có một bộ phận quan lại, vua chúa dùng gấm lụa của Vạn Phúc song thị trường tiêu thụ chính vẫn là chợ làng (chợ Đình), chợ khu vực ( chợ Đơ). Như vậy có thể nói nghề dệt làng Vạn Phúc thời kỳ này kỹ thuật dệt còn thô sơ, quy mô nhỏ, thị trường tiêu thụ là địa phương và những vùng phụ cận là chủ yếu.

Có thể nói việc bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống trong bối cảnh hiện tại có nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình cạnh tranh với các mặt hàng công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với một số giải pháp nói chung nhà nước cần có nhiều chính sách hỗ trợ, thúc đẩy làng nghề bằng việc ưu tiên cho vay vốn, ưu đãi về thuế…. Mặt bằng sản xuất cũng đang là một khó khăn mà các làng nghề truyền thống muốn mở rộng quy mô sản xuất đang gặp phải. Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách giao đất, hợp đồng cho thuê đất ổn định để các cơ sở sản xuất ở làng nghề truyền thống có thể mở rộng quy mô yên tâm sản xuất. Cần tạo điều kiện cho các làng nghề truyền thống tiếp cận được các thông tin về công nghệ, khoa học - kỹ thuật, thị trường; hỗ trợ vốn và tạo điều kiện cho các làng nghề tham gia hội chợ, triển lãm, hội thảo…để họ tự tiếp cận thông tin chủ động trong quá trình hội nhập.

Lụa Vạn Phúc ngày nay như là một biểu tượng đại diện cho tơ lụa Việt Nam được nhiều khách hàng trong và ngoài nước biết đến, có thể nói đó cũng là di sản truyền đời qua các thế hệ mà ông cha ta đã tạo dựng cho đời sau. Trong bối cảnh hiện nay khi hàng hóa tràn ngập và mang tính cạnh tranh lớn thì Vạn Phúc ngoài việc giữ gìn bản sắc văn hóa làng nghề, giữ gìn truyền thống còn cần phải gắn liền với việc gắn liền với phát triển kinh tế du lịch, hiện đại hóa để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, sản phẩm làm phải đạt chất lượng tốt hơn, đồng đều hơn, mẫu mã đa dạng đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước.

TS Mai Thúc Hiệp

Tin liên quan

Tin mới hơn

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

LNV - Từ làng Tân An bên dòng Gianh ở Quảng Trị đến Lựu Bảo ở vùng đất Huế, nghề làm bánh tráng đã đi qua hàng trăm năm cùng đời sống của người dân. Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Làng nghề trước áp lực thị trường

Làng nghề trước áp lực thị trường

LNV - Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu lao động mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một do khó khăn về đầu ra cho sản phẩm, thiếu vốn, nguyên liệu, lao động lành nghề...
Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026:  Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

Mùa hội trọi trâu Đồ Sơn 2026: Ngày quyết đấu của một không gian văn hóa xứ biển

LNV - Từ tiếng trống khai hội ở đền Nghè ngày 1/8 âm lịch đến kháp đấu quyết định ngày 9/8, trâu số 15 của ông Lê Bá Ngọc (đình Ngọc Xuyên) đăng quang. Nhưng với người Đồ Sơn, chiếc cúp chỉ là một dấu chấm giữa một câu chuyện dài hơn thế nhiều.
Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

Nghệ nhân gìn giữ chữ Nôm Dao qua 18 năm truyền dạy miễn phí

LNV - Với hơn 18 năm truyền dạy miễn phí, nghệ nhân ưu tú Bàn Văn Cường đã góp phần bảo tồn chữ Nôm Dao, giữ gìn ký ức văn hóa dân tộc tại Bắc Ninh.
Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa  trong sản xuất công nghiệp nông thôn

Khuyến công thúc đẩy chuyển đổi số và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp nông thôn

LNV - Chương trình hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc tiên tiến giai đoạn 2026–2030 thể hiện định hướng chiến lược trong việc hiện đại hóa khu vực kinh tế nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

Thường Tín quảng bá tinh hoa làng nghề truyền thống năm 2026

LNV -Tối 18-9, UBND xã Thường Tín tổ chức khai mạc triển lãm các sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCop với sự tham dự của đông đảo người dân cùng doanh nghiệp trong và ngoài địa phương. Chương trình có chủ đề “Chạm bản sắc - Mở giao thương - Tựu trường - Trung thu” năm 2026.

Tin khác

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

LNV - Ngày 18/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Hội nghị chấm thi Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân làng nghề thành phố Hà Nội năm 2026. Hội thi thu hút 183 nghệ nhân, thợ giỏi tham gia với 298 tác phẩm, bộ tác phẩm, qua đó góp phần tôn vinh những giá trị đặc sắc của nghề truyền thống và khuyến khích sáng tạo trong phát triển sản phẩm làng nghề Thủ đô.
Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

LNV - Sự ra mắt Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam, trực thuộc Hiệp hội Chè Việt Nam, mở ra thêm một không gian kết nối giữa các vùng nguyên liệu, người sản xuất và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chè Shan tuyết. Từ những rừng chè cổ thụ gắn bó lâu đời với đời sống đồng bào vùng cao, Chi hội hướng tới xây dựng các tiêu chuẩn chung về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu và từng bước nâng cao giá trị chè Shan tuyết trên thị trường trong nước và quốc tế.
Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

LNV - Không chỉ là câu chuyện đưa hàng Việt ra nước ngoài, “Tuần lễ hàng Việt Nam tại Thái Lan 2026” đang mở thêm một không gian để doanh nghiệp Hà Nội trực tiếp gặp gỡ nhà thu mua, tìm hiểu thị hiếu và thử sức với những yêu cầu của thị trường khu vực. Với những sản phẩm mang đậm bản sắc như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, đồ gỗ – đồ thờ Sơn Đồng hay mây tre đan Phú Vinh, cơ hội xuất khẩu không chỉ nằm ở một đơn hàng, mà còn ở khả năng biến giá trị văn hóa của làng nghề thành giá trị thương mại bền vững.
Hướng tới Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 chất lượng, giàu sức sáng tạo

Hướng tới Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 chất lượng, giàu sức sáng tạo

LNV - Với 644 tác phẩm được gửi về từ khắp các tỉnh, thành phố, Cuộc thi và Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 6 năm 2026 đang bước vào giai đoạn quan trọng. Trong số những tác phẩm tham dự, sự hiện diện của các nghệ nhân, sản phẩm từ các làng nghề truyền thống tiếp tục cho thấy mối quan hệ ngày càng gắn bó giữa nghề thủ công, sáng tạo nghệ thuật và mỹ thuật ứng dụng đương đại.
Làng nghề nước mắm Mỹ Thủy  Hành trình 500 năm giữ gìn truyền thống

Làng nghề nước mắm Mỹ Thủy Hành trình 500 năm giữ gìn truyền thống

LMV - Nghề làm nước mắm truyền thống tại Mỹ Thủy, tỉnh Quảng Trị đã tồn tại hơn 500 năm, mang lại nguồn thu nhập ổn định và phát triển thương hiệu ra thị trường quốc tế.
Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

Đà Nẵng: Bình minh làng biển ở Tam Tiến

LNV - Cách xa phố thị sầm uất, làng chài Tam Tiến (thôn Hà Lộc, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) đang có những chuyển biến trong cách nghĩ, cách làm kinh tế biển của người dân. Từ những bỡ ngỡ ban đầu, người dân nơi đây ngày càng tự tin phát triển du lịch, mở thêm sinh kế ngay trên bãi biển quê hương.
Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

Nghệ nhân làm phỗng đất và món đồ chơi Trung thu truyền thống

LNV - Đến tổ dân phố Đông Hồ - Thuận thành - Bắc Ninh, hỏi ông Phùng Đình Giáp thì bất cứ ai cũng đều biết, bởi lẽ đơn giản: ông là người cuối cùng ở xứ Kinh Bắc còn theo nghề nặn Phỗng đất – Món đồ chơi Trung Thu truyền thống xưa và nay.
Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

Công nghệ số thổi hồn cho làng nghề Việt

LNV - Ứng dụng công nghệ giúp nâng cao chất lượng, quản lý và xây dựng niềm tin người tiêu dùng, đưa sản phẩm làng nghề ra thị trường quốc tế.
Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026:

Khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II 2026: 'Dòng chảy di sản - Heritage Flow'

LNV - Tối 11/9, tại không gian thiêng liêng của Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa thế giới, TP. Hà Nội tổ chức khai mạc Chương trình Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage Flow".
Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh  Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

LVN - Bưởi Phúc Trạch là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng gắn liền với vùng đất Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

LNV - Cơn lốc công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt vô số làng nghề cổ truyền trước bài toán sinh tồn gay gắt về thị trường, chi phí và sự suy giảm lực lượng lao động.
Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

Bảo tồn di sản qua chính sách hỗ trợ nghệ nhân ở Lào Cai

LNV - Lào Cai tiếp tục chính sách hỗ trợ nghệ nhân, xây dựng câu lạc bộ và nhóm thực hành để giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong cộng đồng.
Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

Mùa khai giảng ở làng mắm Lục Độ, nơi người ta quen đợi bằng năm

LNV - Sáng mùng 5 tháng 9, khi tiếng trống khai trường vang lên trên đảo Cát Hải, thì ở sân chượp cách đó mấy trăm mét, những chiếc nắp thùng vẫn được mở ra đón nắng, đúng như bảy mươi năm nay vẫn thế. Hai nhịp thời gian ấy, một năm học và một mẻ mắm, hóa ra cùng đặt ra một câu hỏi: Chúng ta đang chuẩn bị điều gì và cho ai?
Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

Người “đánh thức” nghề tơ tằm Phùng Xá

LNV - Từng có thời gian những bãi dâu thưa dần, tiếng máy dệt cũng không còn rộn ràng như trước, nghề ươm tơ, dệt lụa ở Phùng Xá đứng trước nguy cơ mai một. Giữa những đổi thay ấy, Nghệ nhân Ưu tú Phan Thị Thuận vẫn lựa chọn gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ những kỹ thuật được trao truyền qua nhiều thế hệ, bà còn không ngừng tìm cách làm mới nghề truyền thống bằng những sáng tạo đặc biệt: để con tằm tự dệt nên những tấm tơ, đưa sợi tơ từ thân sen lên khung cửi và từng bước chuẩn hóa, nâng tầm sản phẩm. Hành trình ấy đã góp phần đưa sản phẩm chăn tơ tằm tự dệt của cơ sở bà Thuận trở thành sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, khẳng định giá trị mới cho nghề tơ lụa Phùng Xá.
Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

Xã Đại Xuyên (Hà Nội): Kỷ cương để vươn xa, sáng tạo để phát triển bền vững

LNV - Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã Đại Xuyên (Hà Nội) đang từng bước tạo nên diện mạo mới, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, nông nghiệp chuyển dịch theo hướng xanh, hiện đại; sản phẩm OCOP dần khẳng định thương hiệu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tinh tế cơm quan họ

Tinh tế cơm quan họ

Cơm quan họ là nét đẹp trong văn hóa ẩm thực
Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu: Nâng tầm giá trị và vươn xa

Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu: Nâng tầm giá trị và vươn xa

Phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu không chỉ góp phần gia tăng giá trị nông sản và nâng cao thu nhập cho người dân, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế
Cốm tươi Minh Hằng vươn xa nhờ chứng nhận OCOP 4 sao

Cốm tươi Minh Hằng vươn xa nhờ chứng nhận OCOP 4 sao

Từ nghề làm cốm được gìn giữ qua nhiều thế hệ, Cốm tươi Minh Hằng đã từng bước chuẩn hóa sản xuất, xây dựng thương hiệu và được công nhận OCOP 4 sao
Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh tráng vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Trống và di sản văn hóa trong Festival Thăng Long 2026

Trống và di sản văn hóa trong Festival Thăng Long 2026

Sự kiện tại Văn Miếu quy tụ nghệ nhân và hiện vật, tạo không gian kết nối giữa truyền thống và hiện đại qua âm thanh và nghề thủ công
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động