Hà Nội: 23°C Hà Nội
Đà Nẵng: 25°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Đưa công nghệ số phát triển ngành ong Việt

LNV - Để giải quyết những thách thức về năng suất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc cũng như nâng cao sức cạnh tranh, việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.

Công nghệ hóa quy trình nuôi ong

Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, hiện nay cả nước có khoảng 1,5 triệu đàn ong, với hơn 34.000 hộ nuôi, sản lượng mật ong dao động từ 50.000- 60.000 tấn mỗi năm, trong đó hơn 90% phục vụ xuất khẩu. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ mật ong và các sản phẩm từ ong ngày càng gia tăng nhanh chóng, nhờ xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tự nhiên, hữu cơ và tốt cho sức khỏe.

Nghề nuôi ong ở Việt Nam phát triển nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu nhiệt đới gió mùa và các khu vực rừng tự nhiên phong phú. Các vùng sản xuất cây ăn quả, hoa màu và cây lâm nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc tạo môi trường lý tưởng cho các đàn ong phát triển. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng mật ong Việt Nam đang gặp nhiều thách thức do biến đổi khí hậu, dịch bệnh, và sản xuất còn dựa vào phương pháp truyền thống.

Việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.
Việc áp dụng các công nghệ 4.0 trong bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm là giải pháp bền vững cho phát triển ngành ong Việt Nam.

Các nhà khoa học nông nghiệp cho rằng, sự suy giảm của diện tích rừng và các vùng trồng cây có hoa cũng gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn thức ăn cho ong, làm gián đoạn quá trình phát triển đàn và giảm năng suất thu hoạch mật ong. Trong bối cảnh này, nhu cầu phát triển và áp dụng các quy trình nuôi ong hiện đại trở nên cần thiết.

Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) là đơn vị chuyên nghiên cứu và chuyển giao các quy trình công nghệ nuôi ong cho các hộ nuôi ong trên cả nước. Trung tâm hiện đang xây dựng các ứng dụng quản lý, truy xuất nguồn gốc cho đàn ong, góp phần tạo hiệu quả trong nghiên cứu, chủ động giống ong, bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Đây không chỉ là đơn vị đầu tiên của Việt Nam thành công với việc thụ tinh nhân tạo cho đàn ong chúa, mà còn ứng dụng công nghệ 4.0 thành công vào quá trình nuôi ong lấy mật, tạo ra hiệu quả kinh tế cao trong khai thác mật ong.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới, ứng dụng công nghệ 4.0 như Internet vạn vật (IoT), Trí tuệ nhân tạo (AI) và Blockchain cùng hệ thống cảm biến thông minh chạy trên nền tảng điện thoại thông minh để giám sát trang trại hay vườn nuôi ong. Phần cứng là thiết bị ứng dụng công nghệ để giám sát thùng ong. Phần mềm là hệ thống truy xuất nguồn gốc gồm ứng dụng giao diện web và ứng dụng di động trên hệ điều hành Android hoặc iOS.

Công nghệ AI được ứng dụng để phân tích hình ảnh hạt phấn, để xác định nguồn gốc và chất lượng của mật ong. Hệ thống điều khiển và giám sát tự động cung cấp thông tin cho người nuôi ong nhờ ba cảm biến về âm thanh, về nhiệt độ và độ ẩm và về trọng lượng. Từ các cảm biến này, dữ liệu được phân tích bằng AI để dự đoán các vấn đề liên quan tới sức khỏe của đàn ong.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) tập huấn kỹ thuật nuôi ong cho người nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) tập huấn kỹ thuật nuôi ong cho người nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố.

Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới triển khai thử nghiệm công nghệ trong việc nuôi ong và giám sát chất lượng mật ong trên hệ thống trang trại nuôi ong ở Tây Nguyên, từ đó đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình, giải pháp và các sản phẩm công nghệ 4.0 này.

Thực tiễn thành công khi triển khai đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào quản lý sản xuất mật ong phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước” trong 3 năm qua của các nhà khoa học ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho thấy, ứng dụng công nghệ được thực hiện trong việc thu thập, quản lý nguồn dữ liệu, minh bạch từ quá trình chăm nuôi ong tới thu hoạch, vận chuyển, phân phối tới tay người tiêu dùng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, chủ nhiệm đề tài cho biết: “Đề tài này đã được Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học vào tháng 3-2025”.

Việc nuôi ong gắn với công nghệ không chỉ dừng ở giám sát mà còn mở ra hướng đi mới trong chọn lọc giống. “Chúng tôi đã ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo để nhân giống ong chúa có năng suất mật cao, sức đề kháng tốt. Đây là cơ sở để hình thành những đàn ong khỏe mạnh, phù hợp với điều kiện khí hậu đang biến đổi”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái chia sẻ thêm.

Truy xuất nguồn gốc: Minh bạch là chìa khóa hội nhập

Thông báo qua máy tính, ứng dụng công nghệ 4.0 giúp người nuôi ong có thể quản lý tới hàng nghìn đàn ong một cách dễ dàng. Còn người sử dụng sản phẩm mật ong chỉ cần sử dụng điện thoại, quét QR Code trên sản phẩm, có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, địa chỉ của con ong giống, nguồn hoa, phòng trị bệnh.

Riêng thông tin theo dõi trọng lượng của đàn ong cũng có thể dự đoán tương đối được năng suất mật của từng đàn, nhờ đó người nuôi lập kế hoạch sản xuất hiệu quả, chủ động số lượng của các hợp đồng đơn đặt hàng phục vụ xuất khẩu và cả thị trường trong nước.

Trong thời gian qua, các nhà khoa học thành công trong việc thử nghiệm phương pháp nuôi ong trong thùng kế nhằm tăng độ tinh khiết của mật ong, tăng chất lượng mật do mật ong không lẫn phấn hoa, xác ấu trùng và có hàm lượng nước thấp. Kỹ thuật này đã được Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới chuyển giao cho nông dân tại một số tỉnh như Nghệ An, Sơn La…

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới hướng dẫn trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ong và Nuôi ong Nhiệt đới hướng dẫn trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Mô hình ứng dụng công nghệ nuôi ong mật tại rừng tràm Trà Sư (An Giang) minh chứng rõ ràng cho việc chuyển đổi thành công từ nuôi ong bằng thùng đơn sang thùng kế, giúp năng suất và chất lượng cao của sản phẩm. Trung tâm cũng có kế hoạch phối hợp với một số công ty tại Hà Nội, Thái Nguyên và các tỉnh Tây Nguyên để triển khai áp dụng mô hình công nghệ mới này vào thực tiễn.

Bên cạnh việc tập huấn kỹ thuật nuôi ong cho người nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố, các nhà khoa học của Học viện Nông nghiệp Việt Nam còn tích cực liên kết tìm đầu ra cho sản phẩm mật ong. Đơn cử như việc phối hợp với Sở Khoa học và công nghệ Cao Bằng thực hiện đề tài ứng dụng công nghệ 4.0 vào phát triển du lịch cộng đồng, trong đó mô hình bảo tồn ong đá lấy sáp phục vụ du khách tham quan, trải nghiệm…

Gỡ nút thắt vốn, nhận thức và liên kết

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), ong mật góp phần thụ phấn cho hơn 35% cây trồng lương thực toàn cầu. Do đó, ứng dụng công nghệ không chỉ giúp tăng sản lượng mật, mà còn góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp và bảo vệ an ninh lương thực.

Tại Việt Nam, việc chuyển giao các quy trình công nghệ nuôi ong thực tế đã và đang mang lại hiệu quả trong quy trình sản xuất và quản lý chất lượng. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ong và nuôi ong nhiệt đới nhấn mạnh: “Mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 cho phép dữ liệu được lưu trữ an toàn, không thể bị chỉnh sửa, giúp xác thực sản phẩm trong suốt chuỗi cung ứng từ vùng nuôi đến tay người tiêu dùng. Quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra được minh bạch và cung cấp sản phẩm bảo đảm an toàn”.

Ứng dụng công nghệ cao giúp thay đổi cách thức theo dõi, quản lý đàn ong, từ “sổ hoá” thành “số hoá” vừa giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, mà lại phù hợp với Đề án “Phát triển bền vững ngành ong đến năm 2030” của Việt Nam với mục tiêu trọng tâm phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của ngành ong, xây dựng và bảo vệ thương hiệu sản phẩm ong Việt Nam.

Tuy nhiên, đối với việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào ngành ong lại đang gặp một số khó khăn. Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, phần lớn các hộ nuôi ong có quy mô nhỏ lẻ đều thiếu kinh phí nhất định để đầu tư và hạn chế về nhân lực có kỹ thuật cao khiến họ dù có được tư vấn nhưng chưa mặn mà và quan tâm nhiều đến quy trình sản xuất gắn với ứng dụng công nghệ mới này.

Gần 65% số hộ nuôi ong ở miền bắc và hơn 62% ở miền nam không biết đến các ứng dụng quản lý ong trên điện thoại thông minh. Đây là rào cản lớn trong bối cảnh ngành ong cần chuyển đổi số mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Khảo sát của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy, dù đã có nghiên cứu triển khai, nhưng nhận thức về công nghệ trong cộng đồng nuôi ong rất thấp, hơn 80% người nuôi ong không biết đến công nghệ AI và gần 92% chưa từng nghe đến blockchain.

Hầu hết các hộ nuôi ong vẫn sử dụng phương pháp truyền thống, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân. Chính nhận thức của người nuôi về lợi ích của công nghệ còn hạn chế, khiến việc tiếp cận và áp dụng các giải pháp mới gặp nhiều khó khăn. Trong khi, trên thực tế, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn, các chương trình hỗ trợ hiện nay vẫn còn manh mún và chưa thực sự hiệu quả.

Các nhà khoa học cho rằng, để khắc phục những rào cản trên và có các giải pháp triển khai khả thi áp dụng công nghệ 4.0 vào thực tiễn, ngành ong Việt Nam cần có sự hợp tác, chia sẻ, liên kết tích cực giữa người nông dân với các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp. Ngoài ra, sự hỗ trợ tích cực của hội nông dân, hội khuyến nông tại các địa phương cũng giúp người nuôi ong dần thay đổi phương thức sản xuất, nhanh chóng tiếp cận công nghệ vào sản xuất.

Trước những yêu cầu của ngành ong định hướng cho việc xuất khẩu và minh bạch thị trường tiêu dùng trong nước, áp dụng công nghệ cũng là vấn đề cần được ưu tiên cho phát triển của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay. Hướng đi cần thiết giúp ngành ong phát triển bền vững chính là xây dựng các vùng nuôi ong tập trung gắn với trung tâm chuyển giao công nghệ; thúc đẩy chuyển giao công nghệ theo các chương trình khuyến nông ong, chương trình nông thôn mới…

Theo Trà My

Tin liên quan

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Bộ Công Thương xây dựng Thông tư về truy xuất nguồn gốc hàng hóa

Bộ Công Thương xây dựng Thông tư về truy xuất nguồn gốc hàng hóa

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch xây dựng Thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Đây là bước đi quan trọng nhằm minh bạch thị trường, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Làng nghề Cao Bằng xu hướng công nghệ 4.0

Làng nghề Cao Bằng xu hướng công nghệ 4.0

LNV - Các làng nghề truyền thống ở Cao Bằng không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời mà còn góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Tỉnh Cao Bằng đang từng bước khẳng định hướng đi bền vững khi kết hợp phát triển làng nghề với du lịch, chuyển đổi số... bắt nhịp với xu hướng công nghệ 4.0.

Tin mới hơn

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

LNV - Với tâm huyết và trách nhiệm, đội ngũ nghệ nhân tại Hưng Yên đang đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền dạy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch cộng đồng, đưa giá trị văn hóa truyền thống lan tỏa trong đời sống hiện đại.
Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

LNV - Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống khuyến nông đang từng bước đổi mới theo hướng bám sát cơ sở, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường. Tuy nhiên, quá trình kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ vẫn còn nhiều khó khăn cần sớm tháo gỡ để phát huy hiệu quả.
Đánh thức nghề dệt Cao Lan giữa nhịp sống hiện đại

Đánh thức nghề dệt Cao Lan giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề dệt truyền thống của đồng bào Cao Lan ở xã Lục Sơn (Bắc Ninh) vẫn được gìn giữ như một phần hồn cốt văn hóa. Từ những khung cửi mộc mạc, người dân nơi đây đang từng bước khôi phục, phát triển nghề xưa, đưa sản phẩm thủ công gắn với bản sắc dân tộc vươn ra thị trường.
Hát Xoan – Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của đất Tổ Phú Thọ

Hát Xoan – Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của đất Tổ Phú Thọ

LNV - Là loại hình dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan Phú Thọ không chỉ mang giá trị nghệ thuật đặc sắc mà còn chứa đựng chiều sâu lịch sử, văn hóa của dân tộc. Trải qua nhiều thăng trầm, di sản này đang được bảo tồn, phát huy, trở thành điểm nhấn trong đời sống văn hóa và phát triển du lịch vùng đất Tổ.
Làng nghề xứ Thanh khẳng định vai trò trong phát triển nông thôn

Làng nghề xứ Thanh khẳng định vai trò trong phát triển nông thôn

LNV - Từ đúc đồng Trà Đông đến nghề mộc Đạt Tài, các làng nghề truyền thống xứ Thanh đang từng bước khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mở rộng giá trị sản phẩm trên thị trường.
Nghệ nhân tiếp nối dòng tranh Đông Hồ giữa nhịp sống hiện đại

Nghệ nhân tiếp nối dòng tranh Đông Hồ giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Sinh ra trong gia đình nhiều đời làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa không chỉ kế thừa kỹ thuật in tranh dân gian cổ truyền mà còn nỗ lực tìm hướng đi mới, đưa dòng tranh nổi tiếng của Bắc Ninh thích ứng với thị trường hiện đại.

Tin khác

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

LNV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống thêu tại vùng quê Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (nay là xã Phúc Sơn, TP Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Thị Hằng đã dành hơn hai thập kỷ bền bỉ gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ kỹ thuật thêu tay truyền thống, chị còn tìm hướng đi mới để đưa nghề hòa vào nhịp sống hiện đại, mở rộng không gian sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa.
Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

LNV - Làng nghề đệm bàng Phò Trạch (phường Phong Dinh, TP Huế) từ lâu đã trở thành một phần ký ức văn hóa của người dân xứ Huế. Trải qua nhiều biến động của thị trường và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, nghề truyền thống này vẫn được người dân nơi đây bền bỉ gìn giữ, từng bước thích nghi để tồn tại và phát triển.
Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

LNV - Là một trong những phường rối cổ truyền tiêu biểu của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, rối nước Nguyên Xá (Hưng Yên) không chỉ lưu giữ kho tàng tích trò độc đáo mà còn đang từng bước tìm hướng đi mới để bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Giữa những biến chuyển của xã hội, những nghệ nhân nơi đây vẫn lặng lẽ giữ nghề, truyền lửa và đưa nghệ thuật rối nước đến gần hơn với công chúng.
Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

LNV - Từ những mảnh vườn nhỏ lẻ, Gò Móc (Thái Nguyên) đã từng bước phát triển thành làng nghề sinh vật cảnh quy mô với hàng chục hộ tham gia. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế hàng tỷ đồng, nơi đây còn trở thành điểm hội tụ đam mê, khẳng định hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với giá trị nghệ thuật.
Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa dòng chảy mạnh mẽ của công nghiệp hóa, làng nghề giấy dó Phong Phú (Nghệ An) vẫn âm thầm gìn giữ một nghề thủ công truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa Việt. Từ những tấm giấy mỏng nhẹ nhưng bền dai, người dân nơi đây không chỉ bảo tồn một nghề cổ mà còn từng bước tìm hướng đi mới để thích ứng với thị trường hiện đại.
Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

LNV - Giữa miền sông nước Đồng Tháp, làng chiếu Định Yên vẫn đều đặn vang lên tiếng khung cửi qua bao thế hệ. Hơn hai thế kỷ trôi qua, những tấm chiếu lác không chỉ là sản phẩm mưu sinh mà còn là “nhịp thở” văn hóa, kết tinh từ sự cần cù và lòng yêu nghề của người dân nơi đây.
Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

LNV - Trong nhiệm kỳ 2020–2025, Hội làng nghề truyền thống mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa, Hà Nội) đã ghi dấu một chặng đường phát triển năng động, bền vững, từng bước khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế – xã hội địa phương, đồng thời gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa nghề truyền thống.
Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

LNV - Nghề điêu khắc và sơn son thếp vàng của Sơn Đồng (Hà Nội) không chỉ bảo tồn giá trị truyền thống mà còn mở rộng thị trường quốc tế và phát triển du lịch.
Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

LNV - Ít ai biết rằng, đằng sau những chùm bưởi Diễn vàng óng, căng mọng nổi tiếng khắp Hà Nội là cả một nghệ thuật thụ phấn nhân tạo tỉ mẩn mà người dân làng Diễn (phường Phú Diễn, Hà Nội) vẫn trìu mến gọi là "se duyên" cho hoa.
Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

LNV - Mùa xuân đến, không khí tại các làng nghề truyền thống ở Hưng Yên trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Từ tiếng khung cửi lách cách nơi làng dệt đũi, âm thanh đục chạm kim loại ở làng bạc, đến các món đặc sản quê nhà, tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh mùa xuân giàu bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ của nghề truyền thống.
Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

LNV - Âm thanh không tự cất lên từ những ống tre nếu thiếu đi đôi bàn tay thấu hiểu. Với nghệ nhân ưu tú Y Sinh, tiếng đàn Klông-pút của người Xơ Đăng không chỉ là âm thanh, mà là ký ức văn hóa được đánh thức qua từng nhịp vỗ – một di sản sống đang được gìn giữ giữa dòng chảy hiện đại.
Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

LNV - Giữa vùng non nước của Cao Bằng, làng bún ngũ sắc Hồng Quang (xã Hưng Đạo) nổi bật với những sợi bún nhiều màu sắc được làm từ nguyên liệu tự nhiên. Từ nghề truyền thống của đồng bào Tày, sản phẩm bún khô nơi đây đang từng bước khẳng định giá trị, góp phần bảo tồn văn hóa ẩm thực và phát triển kinh tế nông thôn.
Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

LNV - Trưng bày và quảng bá nghề thủ công trong không gian đô thị giúp nghề truyền thống tiếp cận công chúng mới và mở rộng thị trường.
Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

LNV - Trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, nhiều làng nghề truyền thống tại Thanh Hóa đang chuyển mình mạnh mẽ bằng cách tận dụng kênh số để mở rộng thị trường. Không chỉ gia tăng doanh thu, việc “lên sàn” còn giúp sản phẩm địa phương từng bước xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trong nền kinh tế số.
Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

LNV - Giữa không gian làng nghề ven sông Hồng, Bảo tàng Gốm Bát Tràng hiện lên như một dấu ấn văn hóa đặc biệt của làng nghề Bát Tràng. Đây là nơi tái hiện hành trình hàng trăm năm của nghề gốm truyền thống và cũng là nơi lưu giữ những sản phẩm gốm tiêu biểu của Bát Tràng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

LNV - Với tâm huyết và trách nhiệm, đội ngũ nghệ nhân tại Hưng Yên đang đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền dạy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch cộng đồng, đưa giá trị văn hóa truyền thống lan
Đà Nẵng xây dựng cơ chế khuyến công mới, mở rộng hỗ trợ doanh nghiệp và làng nghề

Đà Nẵng xây dựng cơ chế khuyến công mới, mở rộng hỗ trợ doanh nghiệp và làng nghề

LNV - Sau khi hợp nhất với Quảng Nam, TP Đà Nẵng đang đề xuất ban hành nghị quyết mới nhằm đồng bộ chính sách khuyến công, khắc phục chồng chéo và mở rộng hỗ trợ cho doanh nghiệp, làng nghề, đặc biệt tại khu vực miền núi, hải đảo và lĩnh vực sản xuất sản
Khai hội Đền Mai Bảng 2026 tại Cửa Lò

Khai hội Đền Mai Bảng 2026 tại Cửa Lò

LNV - Diễn ra tại Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Mai Bảng (phường Cửa Lò, Nghệ An), lễ hội năm 2026 không chỉ là dịp tưởng nhớ danh tướng Lê Khôi mà còn đánh dấu sự kiện được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thu hút đông đảo người dân
Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

LNV - Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống khuyến nông đang từng bước đổi mới theo hướng bám sát cơ sở, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường. Tuy nhiên, quá trình kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ vẫn
RAH LAN CHUNG - SỰ TÍN NHIỆM KHÔNG CHỈ TỪ LÁ PHIẾU

RAH LAN CHUNG - SỰ TÍN NHIỆM KHÔNG CHỈ TỪ LÁ PHIẾU

LNV - Sự tín nhiệm tuyệt đối không chỉ là kết quả của một kỳ họp, mà là sự kết tinh của niềm tin được gây dựng qua thời gian. Ở đó, vai trò của người đứng đầu không nằm ở chức danh, mà ở cách họ gắn mình với đời sống nhân dân.
Giao diện di động