Hà Nội: 32°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 31°C Thừa Thiên Huế

Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải: “Được hát quan họ hạnh phúc biết bao

LNV - Nói đến Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải, nguyên Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, đại biểu Quốc hội khóa IX, trước hết phải nói đến cái duyên quan họ. Mảnh đất Kinh Bắc đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ quan họ nhưng để khán giả yêu, khán giả nhớ về một người “có cái duyên quan họ” thì không phải ai cũng may mắn như bà.
66 tuổi, bà đã có 50 năm hát dân ca và cống hiến cho sân khấu quan họ chuyên nghiệp. Có thể nói bà là kết tinh của nhiều vẻ đẹp, chỉ cần khoác trên mình bộ trang phục liền chị, chít chiếc khăn mỏ quạ, khán giả đã thấy ở bà toát ra những nét duyên quan họ đằm thắm, duyên từ giọng nói, miệng cười, duyên từ ánh mắt, dáng đi và hơn hết bà có cái duyên ngay ở chính giọng hát của mình.

Những năm tháng không thể quên

Sinh ra ở xã Phật Tích (nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngay từ những năm lên 6, Thúy Cải đã được người mẹ, vốn là người làng Ném Đoài, một trong những làng quan họ cổ, dạy hát những bài quan họ giọng vặt như: “Khách đến chơi nhà”, “Cây trúc xinh”, “Người ở đừng về”, “Ba sáu thứ chim”, “Lý Thiên Thai”... Hơn nữa, lại được sống trong một không gian làng quê đậm đà bản sắc với những câu hát quan họ khiến cô bé Cải ngày càng yêu thích và mong muốn được gắn cuộc đời mình với quan họ.

Tháng 5-1969, nghệ nhân Nguyễn Đức Siêu, sau là Trưởng đoàn đầu tiên của Đoàn Dân ca quan họ Hà Bắc có ý định chọn cô Canh, là chị gái của cô Cải vào Đội ca hát quan họ (lúc này chưa thành lập đoàn) vì nhan sắc có phần trội hơn. Thế nhưng, bà cụ thân sinh với kinh nghiệm của mình đã từ chối và kiên quyết cho cô em đi, vì theo bà “nhất thanh, nhì sắc”. Hơn nữa, bà thấy cô Cải có tố chất quan trọng của người hát, đó là “trường cổ đại thanh”. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời của cô bé 16 tuổi.


NSND Thúy Cải với tiếng hát quan họ đi vào lòng đông đảo công chúng.


Thúy Cải là người thứ 9 được tuyển vào Đội ca hát quan họ. Nói là ca hát quan họ nhưng nhiệm vụ chính là sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và giới thiệu dân ca quan họ. Thúy Cải và các học viên nhập cuộc với bài hát “La rằng” (bài lề lối): “Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà/ Hôm nay họp mặt giao hòa/ Nguyện xin nguyệt lão giăng già se duyên”. Lời có vậy mà cứ i a ư hự, học gần một tháng mà bẻ câu chưa thành.

Cuối năm 1969, cán bộ, diễn viên, nhạc công đã lên đến con số 30 người. Nơi tạm trú của Đội quan họ tại thôn Tĩnh Lộc, sau chuyển sang làng Lai (xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ngoài học hát những bài quan họ cổ do nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi truyền dạy, diễn viên và nhạc công được học các môn lý luận cơ bản tại Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc. Ban đầu biết bao khó khăn, thiếu thốn như cơm phải đựng vào chậu đóng bằng gỗ, ăn tập trên sân kho đầm vôi cát, mỗi khi có cơn gió đi qua thì bụi bay mù mịt. Nhưng rồi khó khăn cũng qua, với một năm vừa học tập, vừa xây dựng tổ chức đơn vị, Đoàn dân ca quan họ Hà Bắc chính thức hình thành.

Kịch mục đầu tiên là ca cảnh “Cây sáo trúc” của tác giả Đào Thiệm cơ bản đã dựng xong. Tuy nhiên, dân ca quan họ là một thể loại ca hát trữ tình, với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn lúc bấy giờ xem chừng chưa phù hợp. Vậy là Đoàn chuyển sang dựng các ca cảnh “Ngày hội năm xưa”, “Vào chùa”, “ Ông cháu”, “Giã bạn”… Đó là các ca cảnh quan họ được gom lại từ những nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của quan họ rồi đưa lên sân khấu, sau gộp cả lại mang tựa đề “Quan họ ngày hội”.

Tháng 10-1970, Đoàn chuyển về xóm Chinh, làng Lũng Giang, xã Vân Tương, huyện Tiên Sơn (nay là huyện Tiên Du). Với phương châm bám vùng quan họ gốc để thực hiện nhiệm vụ sưu tầm các làn điệu, văn bản lời ca và lề lối sinh hoạt văn hóa quan họ… Còn về học hát quan họ cổ, hằng ngày diễn viên và nhạc công theo các nghệ nhân làm lụng ngoài đồng hay dọn dẹp ở nhà, tối đến mới có cơi trầu đến kính các bậc nghệ nhân xin được truyền lại cho những làn điệu, lời ca hay đôi ba câu đối đáp trước canh hát. Chuyện học hát những câu quan họ cổ dần dần đã có phần quen, nhưng lúc bấy giờ ở vùng quan họ mấy ai hát quan họ cổ (!), chỉ có đôi ba làn điệu được đặt lời mới phục vụ chính trị nên thường gọi là “Quan họ đài”, còn quan họ truyền thống gần như bị lãng quên. Hơn nữa, tại thời điểm đó nước nhà chưa thống nhất, kinh tế còn rất khó khăn, ai cũng lo làm lo ăn có nghĩ đâu đến việc ca hát.


Dân ca Quan họ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


“Mấy anh trai làng nghe chúng tôi học hát, cứ bảo chúng tôi học khấn tiên sư… Cũng buồn. Nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ nên việc học, việc sưu tầm và xây dựng chương trình biểu diễn vẫn cứ tiếp diễn trong nhiều tháng” - Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải bồi hồi nhớ lại. Guồng máy đang có đà thì trận lụt lớn năm 1971 ập tới, cả vùng quan họ chìm trong biển nước, công tác phục vụ bão lụt lại đặt lên hàng đầu, lại chia năm xẻ bảy về từng xóm, thôn cùng bà con khắc phục hậu quả bão lụt. Cũng từ đây hai ca cảnh “Khóm trúc bên sông” và “Đống rạ ải” đã ra đời. Sau trận lụt, khó khăn vẫn chưa hết, Nhà nước phát động cán bộ, viên chức tự túc một phần lương thực. Chúng tôi về núi Hiểu, xã Quang Châu (nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) xin ruộng cày cấy. Ruộng chiêm trũng cấy gặt nước đều ngập tới thắt lưng, vị nào sợ đỉa thì khổ biết chừng nào. Yên ổn với những nhiệm vụ bất thường, công việc sưu tầm, xây dựng chương trình biểu diễn lại chóng mặt. “Đón bạn ngày xuân” là chương trình quan họ truyền thống thứ hai, mô phỏng cảnh liền anh, liền chị các làng quan họ luyện hát, sắm sửa chuẩn bị cho việc đón bạn kết nghĩa của mình khi mùa xuân tới”.

“Có công mài sắt có ngày nên kim”, sau khi kết thúc khóa học, Thúy Cải và các học viên đã sưu tầm và hát được hơn 200 làn điệu quan họ với hơn 500 bài ca quan họ. Trong đó có hàng trăm bài quan họ gốc thể hiện rõ những giá trị đặc trưng của loại hình dân ca đặc sắc phổ biến ở vùng quê Kinh Bắc cùng những lề lối sinh hoạt truyền thống. Các chương trình biểu diễn của Đoàn được các diễn viên, nhạc công thể hiện khá thuần thục. Sau đó, Đoàn có hai đợt biểu diễn báo cáo Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu cùng cán bộ, nhân dân Thủ đô một cách thành công, khẳng định và gợi ra một tầm nhìn đúng đắn về dân ca quan họ nói riêng, nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung. Đó là năm 1974. Cũng từ đấy biết bao đoàn khách trong và ngoài nước đã về Bắc Ninh nghe hát dân ca quan họ và đặc biệt là tìm hiểu về hát canh trong quan họ. Cũng năm ấy là cái mốc đánh dấu sự hồi sinh của dân ca quan họ, bởi đó là năm người dân miền Bắc xem bộ phim “Đến hẹn lại lên” mà trong đó Thúy Cải đã có một vai diễn để đời. Cùng với việc đưa Đoàn đi biểu diễn phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách quốc tế xem, quan họ Bắc Ninh đã thực sự “sống lại” như lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám lúc bấy giờ.

Đã khẳng định mình thì phải gánh vác nhiệm vụ mới, năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà, Đoàn chính thức nhận kế hoạch biểu diễn phục vụ nhân dân hằng năm. Những buổi biểu diễn phục vụ quân và dân, máy phát điện được cải tiến từ máy bơm nước Ba Lan, phương tiện vận chuyển thì bằng xe cải tiến, xe bò, người kéo, xe đạp cá nhân… Buổi đầu tiên tại bãi chiếu bóng đồi Lim, đúng là trời vui, đất vui, nhân dân vui - một môn nghệ thuật được đưa lên sân khấu hoàn toàn mới mẻ. Anh chị em trong Đoàn ai nấy đều phấp phỏng lo âu về cái “vạn sự khởi đầu nan” này. Trong tâm trạng đan xen vui mừng, lo âu khó ai đo đếm, các đồng chí lãnh đạo còn lo gấp bội. Nhưng rồi phấn khởi bất ngờ. Mới chập tối điểm bán vé vừa lên đèn mà khán giả đã từ các ngả đường ùn ùn kéo đến. Vé bán không kịp, người dồn vào bãi mỗi lúc một đông, cửa xé vé ùn tắc, xé vé không kịp, chen chúc, cản không xong, rồi vỡ òa tháo khoán... Với Thúy Cải, việc khán giả ủng hộ cho đêm diễn thành công là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi.

Chuỗi ngày tươi sáng đang bừng chiếu thì đột nhiên xuất hiện nhiệm vụ mới. Thúy Cải và các nghệ sĩ lại hành quân lên biên giới phía bắc phục vụ các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Từng tốp, từng tốp hát “chay”, không có thiết bị, mưa rét vẫn hát. Mặc bom rơi, đạn nổ, tiếng hát, tiếng đàn của các nghệ sĩ vẫn nồng cháy, vút bay làm ấm lòng bao chiến sĩ. Những năm đầu của thập niên 80, nhiều chương trình thể nghiệm được dàn dựng như “Sự tích trầu cau”, “Đôi ngọc lưu ly”, “Chuyện tình Tiên Du”; các ca cảnh như “Khúc hát đảo xa”, “Khúc hát làng sông”. Các chương trình ca múa nhạc cùng với các chương trình quan họ truyền thống đã giới thiệu tới đông đảo khán giả trong và ngoài nước, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và lan tỏa di sản quan họ trong đời sống đương đại.

Vẫn đắm say trên con đường đã chọn

Nhiều người yêu quan họ đều nhận xét rằng nghe Thúy Cải hát một lần sẽ nhớ, nhớ rồi sẽ thích, thích rồi sẽ mê. Với bà, dù biểu diễn trên sân khấu đơn sơ nơi vùng sâu, vùng xa hay sân khấu sang trọng ở nước ngoài, dù biểu diễn cho những người dân lao động chân lấm tay bùn hay những chính khách thì cứ được hát quan họ là hạnh phúc biết bao. 50 năm trong nghề, ngoài giọng hát quan họ say đắm lòng người thì bà còn là vị lãnh đạo hết lòng vì công việc. 12 năm trên cương vị Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, Thúy Cải không chỉ nỗ lực để anh chị em trong Đoàn sống tốt bằng nghề mà còn cố gắng để quan họ đến được với nhiều vùng quê trong cả nước. Bà đã nhiều lần đi nói chuyện trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa ở các trường học để lớp trẻ hiểu và yêu quan họ cũng như văn hóa của người quan họ.

Có một công việc mà Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải cũng rất miệt mài, tâm huyết, đó là giảng dạy tại các cơ sở đào tạo quan họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang. Theo bà, một giọng hát quan họ hay thì phải vang, rền, nền, nảy, mà “nảy” trong quan họ rất quan trọng nhưng không phải ai cũng hát được. Muốn giọng hát “nảy” được thì thế hệ trẻ phải học hỏi rất nhiều, ngoài học trường lớp còn phải học các nghệ nhân ở các làng quan họ cổ cùng quá trình tập luyện kỳ công. Đặc biệt, bà rất quan tâm đến việc truyền tình yêu quan họ đến với các em nhỏ. Bởi theo bà, chính các em sẽ góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống của quê hương. Được biết, khoảng 10 năm trở lại đây, khi đã trở về quê nhà dưới chân núi Bất Lự (xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống, cứ mỗi chủ nhật bà lại đứng lớp dạy các em nhỏ hát quan họ. Những giá trị của làn điệu dân ca truyền thống từ bao đời nay là không thể phủ nhận vì thế những lớp học truyền khẩu như vậy dường như là biện pháp tốt nhất để có thể truyền thụ một cách rõ ràng, hiệu quả nhất những tinh hoa truyền thống.

Với những đóng góp không ngừng nghỉ cho dân ca quan họ nói riêng, cho âm nhạc truyền thống nói chung, bà đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2015. Thế nhưng, trò chuyện với tôi hôm nay, trong một buổi chiều đông 2019, bà lại bảo rằng: Danh hiệu ấy là rất quý nhưng quan trọng và hạnh phúc hơn là đi đến đâu người ta cũng biết đến bà và mong muốn được trực tiếp nghe bà hát.

Đạt được những thành công trong ngày hôm nay, bà vẫn luôn tâm niệm nếu không có chồng con thì mình không làm được gì hết. Học cùng nhau ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc rồi sau này công tác cùng Đoàn (chồng bà phụ trách âm thanh, ánh sáng), vợ chồng bà luôn kề vai sát cánh trong mọi hành trình. Ngoài làm việc ở Đoàn quan họ, bà còn tham gia HĐND tỉnh, là đại biểu Quốc hội khóa IX (1992-1997). Như vậy có nghĩa là công việc rất bận rộn, chồng bà đã tự nguyện lùi về phía sau, lo lắng, chăm sóc con cái, nhà cửa cho bà yên tâm công tác. Có lẽ vì vậy bà luôn cảm thấy may mắn vì có hậu phương vững chắc là gia đình. Vì thế, dù cho có những lúc thăng hoa trên sân khấu nhưng không bao giờ bà quên phép tắc gia phong và giữ gìn chính mình trong lề lối nghiêm ngặt của người quan họ. Bởi vậy, bà có một cuộc sống hạnh phúc, đầm ấm nhiều người mơ ước. Được biết, người con gái lớn của bà là chị Lê Ngọc Lương, hiện là Trưởng Phòng Nghệ thuật quần chúng, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh, cũng đang tiếp nối người mẹ của mình để lan tỏa dân ca quan họ nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.

Đến bây giờ mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng trong lòng bà vẫn còn canh cánh với ước mơ quan họ ngày nào. “Cái phải ghi nhớ đó là ai đã tạo ra và để lại cho người dân Bắc Ninh hôm nay nền văn hiến Kinh Bắc, trong đó có quan họ. Nhân dân biết trân trọng nền văn hiến của địa phương mà giữ gìn đến ngày nay, để Thúy Cải cùng bao nghệ sĩ khác được thừa hưởng hương thơm ấy, để rồi được vinh danh. 50 năm - nửa thế kỷ, dài mà ngắn. Dài ngắn đâu kể, mà là kể cái ta được thừa hưởng hương thơm của dân ca quan họ; ngược lại chúng ta tri ân được bao nhiêu cho sự trường tồn của dân ca quan họ, ấy mới là điều cần gắng sức. Các bạn trẻ hãy vì nghệ thuật mà lao động, sáng tạo để xứng đáng với những giá trị văn hóa quan họ mà người xưa để lại, xứng với miền quê văn hiến mà mình đã sinh ra. Nay thế hệ đi trước đang bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” muốn vương vấn với quan họ mà lực bất tòng tâm. Tương lai trên con đường gìn giữ và phát triển dân ca quan họ nhờ cậy cả vào thế hệ hôm nay. Những mong các bạn hãy đem loại hình nghệ thuật hát dân ca quan họ Bắc Ninh hòa vào cuộc sống bằng tâm huyết thực sự và tài năng sáng tạo của thời đại mới. Như vậy dân ca quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa”, Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải nghẹn ngào chia sẻ.

Kỳ lạ thay cuộc đời của một người nghệ sĩ với gần 70 năm tuổi đời, 35 tuổi đảng, 50 năm gắn bó, sắt son với quan họ nhưng nét duyên quan họ vẫn còn nguyên, cả thanh và sắc vẫn giữ được bền, chỉ chín chắn hơn, đằm thắm hơn và sâu nặng nghĩa tình hơn mà thôi. Có lẽ vì thế mà người bạn diễn suốt nửa thế kỷ của bà là Nghệ sĩ Ưu tú Quý Tráng từng nhận xét rằng: “Quan họ sinh ra để dành cho Thúy Cải như một bông hoa nguyên chất không cần cấy ghép”.

Bài và ảnh Ngô Đăng Khoa

Tin liên quan

Tin mới hơn

VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

LNV - Hai ngày 31/10 và 01/11/2026, xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng mời Nhân dân và du khách về Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia Miếu Lác dự Lễ hội Rươi năm 2026. Với chủ đề "Về miền di tích, đón lộc phù sa", lễ hội tôn vinh nghề rươi truyền thống của vùng đất ven sông Luộc, sông Thái Bình, gắn với ngôi miếu cổ hơn 700 năm tuổi.
Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

LNV - Giữa khuôn viên đình Định Công Thượng (Hà Nội), nơi thờ Tổ nghề kim hoàn, xưởng đậu bạc vẫn ngày ngày hoạt động. Nếu bàn thờ Tổ lưu giữ ký ức về cội nguồn, thì đôi tay người thợ đang tiếp nối nghề xưa bằng những sản phẩm được làm ra hôm nay.
Làng lụa Vạn Phúc: Dệt tiếp giấc mơ từ khung cửi xưa

Làng lụa Vạn Phúc: Dệt tiếp giấc mơ từ khung cửi xưa

LNV - Sau nhiều năm bôn ba mưu sinh, anh Triệu Văn Bình, cháu nội cố nghệ nhân Triệu Văn Mão trở về với nghề dệt gia truyền, gây dựng xưởng riêng và miệt mài phục dựng khung dệt, tìm lại những hoa văn cổ. Với anh, đó không chỉ là hành trình nối lại nghề xưa, mà còn là cách gìn giữ những giá trị đã làm nên tên tuổi lụa Vạn Phúc.
Mỹ Đồng: Giữ lửa làng nghề trong thời đại công nghệ

Mỹ Đồng: Giữ lửa làng nghề trong thời đại công nghệ

LNV - Từ làng đúc gang truyền thống, Mỹ Đồng (Hải Phòng) đang từng bước chuyển mình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng việc đổi mới phương thức sản xuất và mở rộng thị trường, các cơ sở kim khí tại đây đã và đang đưa sản phẩm của làng nghề vươn ra thị trường quốc tế, góp phần nâng cao vị thế kim khí Việt Nam.
Thu hút đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn: Gỡ điểm nghẽn, nâng tầm giá trị làng nghề

Thu hút đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn: Gỡ điểm nghẽn, nâng tầm giá trị làng nghề

LNV - Với lợi thế về nghề truyền thống, đội ngũ nghệ nhân và những sản phẩm giàu bản sắc văn hóa, ngành nghề nông thôn Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, những hạn chế về cơ chế, chính sách, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, công nghệ và thị trường vẫn là rào cản đối với việc thu hút doanh nghiệp đầu tư. Tháo gỡ những điểm nghẽn này là yêu cầu quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển chuỗi liên kết và tạo động lực cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững.
Nghìn năm đỏ lửa nghề đậu bạc làng Định Công

Nghìn năm đỏ lửa nghề đậu bạc làng Định Công

LNV - “Lĩnh Yên Thái, gốm Bát Tràng, bạc Định Công, đồng Ngũ Xá” - câu ca nhắc đến tứ trụ tinh hoa của đất Thăng Long, Hà Nội. Với hơn 1500 năm lịch sử, nghề đậu bạc ghi dấu cùng các sản phẩm được chế tác tỉ mỉ, tinh xảo, từ đôi bàn tay cung phu của người thợ.

Tin khác

Tranh Đông Hồ giữa sức hút du lịch và nguy cơ mai một

Tranh Đông Hồ giữa sức hút du lịch và nguy cơ mai một

LNV - Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Dù vẫn thu hút khách tham quan, trải nghiệm, làng tranh đang đối mặt với nguy cơ mai một khi số hộ duy trì nghề ít dần, sinh kế của người làm tranh chưa được bảo đảm.
Hai thế hệ, một miền ký ức chưa từng ngủ quên

Hai thế hệ, một miền ký ức chưa từng ngủ quên

LNV - Từng hiện diện trên mâm cỗ Trung thu, phỗng đất dần vắng bóng khi người trong làng lần lượt rời nghề mưu sinh. Giữa dòng chảy ấy, nghệ nhân Phùng Đình Giáp vẫn bền bỉ gìn giữ nghề xưa, còn người cháu Phùng Đình Đạt mang theo khát vọng của tuổi trẻ mong muốn tiếp nối và lan tỏa nét đẹp ấy, để phỗng đất tiếp tục hiện diện trong những mùa trăng mai sau.
Làng nghề Phú Nghĩa - Khi di sản trở thành động lực phát triển kinh tế

Làng nghề Phú Nghĩa - Khi di sản trở thành động lực phát triển kinh tế

LNV - Từ những ngành nghề truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ, người dân xã Phú Nghĩa, TP Hà Nội đang từng bước đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Làng cổ Vũ Lăng Giữ hồn nghề hòa nhịp cùng thời đại số

Làng cổ Vũ Lăng Giữ hồn nghề hòa nhịp cùng thời đại số

LNV - Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km, làng Vũ Lăng thuộc xã Dân Hòa từ lâu đã vang danh với nghề sơn tạc tượng và làm đồ thờ truyền thống. Trải qua hơn bốn thế kỷ, người dân nơi đây không chỉ tận tụy giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong từng thớ gỗ, mà còn chủ động tìm kiếm những hướng đi mới để đưa tinh hoa làng nghề vươn xa hơn trong thời đại số.
Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

LNV - Từ những vườn mai được gây dựng trên vùng đất cửa ngõ Yên Tử hơn ba thập kỷ trước, nghề trồng mai cảnh ở Tây Sơn đã dần trở thành sinh kế của nhiều gia đình, góp phần tạo dựng một vùng sản xuất cây cảnh mang bản sắc riêng. Việc Làng nghề Mai cảnh Yên Tử - Tây Sơn chính thức được công nhận không chỉ ghi nhận những nỗ lực gìn giữ nghề truyền thống mà còn mở ra cơ hội nâng tầm thương hiệu, phát triển kinh tế nông thôn gắn với du lịch văn hóa.
Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ:  Người giữ lửa nghề gốm Đông Triều

Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ: Người giữ lửa nghề gốm Đông Triều

LNV - Gần trọn cuộc đời gắn bó với đất và lửa, Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ không chỉ góp phần gìn giữ kỹ thuật gốm nặng lửa Đông Triều mà còn thổi hồn vào những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở cuộc sống. Với ông, làm gốm vừa là nghề mưu sinh, vừa là niềm đam mê sáng tạo và trách nhiệm trao truyền những giá trị truyền thống cho thế hệ sau.
Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

LNV - Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 13 đến 16/11 tại Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội). Sự kiện là dịp tôn vinh tinh hoa nghề thủ công truyền thống, quảng bá giá trị văn hóa làng nghề Việt Nam, đồng thời thúc đẩy giao lưu quốc tế, kết nối thương mại và phát triển du lịch làng nghề.
Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

LNV - Từ 397 sản phẩm, bộ sản phẩm tham gia Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026, Ban Tổ chức đã lựa chọn 90 sản phẩm đoạt giải ở 6 nhóm ngành nghề. Nhiều mẫu thiết kế mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống, đồng thời thể hiện nỗ lực đổi mới công năng, kiểu dáng và cách tiếp cận thị trường. Kết quả cuộc thi không chỉ ghi nhận sự sáng tạo của các nghệ nhân, thợ thủ công và cơ sở sản xuất mà còn gợi mở hướng phát triển sản phẩm làng nghề trong đời sống đương đại.
Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

LNV - Với hơn 1.350 làng nghề, làng có nghề và khoảng 176.000 hộ làm nghề, Hà Nội có nhiều lợi thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ gắn với bản sắc văn hóa truyền thống. Tham gia Hội chợ quốc tế Mega Show Part I 2026 tại Hồng Kông (Trung Quốc), các doanh nghiệp Thủ đô có thêm cơ hội quảng bá sản phẩm, kết nối nhà mua hàng quốc tế, tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

LNV - Giữa đại ngàn Hoàng Liên Sơn, bản Cát Cát (Sa Pa, Lào Cai) hấp dẫn du khách không chỉ bởi cảnh sắc núi rừng thơ mộng mà còn bởi những giá trị văn hóa được đồng bào Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ. Từ sắc chàm trầm ấm, những đường thêu tỉ mỉ đến các sản phẩm thổ cẩm mang dáng dấp hiện đại, nghề thủ công truyền thống đang trở thành cầu nối giữa bảo tồn bản sắc, phát triển du lịch và tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

LNV - Từ những lớp trầm tích khảo cổ bên dòng sông Hồng đến những sản phẩm mang hơi thở đương đại, làng gốm cổ Kim Lan đang từng bước khẳng định giá trị của một nghề thủ công truyền thống giàu bản sắc. Bằng bàn tay tài hoa, kinh nghiệm và sức sáng tạo của người nghệ nhân, những giá trị xưa được tiếp nối, làm mới trong đời sống hôm nay, mở ra hướng phát triển sản phẩm làng nghề gắn với du lịch văn hóa, trải nghiệm và kinh tế sáng tạo.
Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

LNV - Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 16/11 tại Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), với quy mô khoảng 10.000 m². Điểm nhấn của sự kiện là các không gian trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công truyền thống, trong đó ưu tiên bốn làng nghề Hà Nội đã được Hội đồng Thủ công Thế giới công nhận là thành viên mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Hà Nội tôn vinh 10 nữ nghệ nhân có đóng góp trong bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

Hà Nội tôn vinh 10 nữ nghệ nhân có đóng góp trong bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

LNV - Ngày 17/10, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội phối hợp Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội cùng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Chuyên Mỹ tổ chức Diễn đàn “Nữ nghệ nhân làng nghề với phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô” và biểu dương, tôn vinh 10 nữ nghệ nhân tiêu biểu làng nghề Hà Nội năm 2026.
Phú Xuyên quảng bá sản phẩm OCOP, phát huy giá trị làng nghề truyền thống

Phú Xuyên quảng bá sản phẩm OCOP, phát huy giá trị làng nghề truyền thống

LNV - Lễ hội vinh danh làng nghề và Tuần văn hóa, du lịch, thương mại làng nghề năm 2025 tại xã Phú Xuyên, Hà Nội được tổ chức nhằm tôn vinh những giá trị nghề truyền thống, quảng bá sản phẩm OCOP, thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển du lịch làng nghề gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.
Phát huy giá trị di sản Hội An trong giai đoạn phát triển mới

Phát huy giá trị di sản Hội An trong giai đoạn phát triển mới

LNV - Chiều 17/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Đà Nẵng phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An tổ chức hội thảo "Phát triển du lịch Đô thị cổ Hội An - Di sản Văn hóa Thế giới trong kỷ nguyên mới", nhằm tìm kiếm định hướng, giải pháp phát huy giá trị di sản gắn phát triển du lịch theo hướng chất lượng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.544 sản phẩm OCOP

Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.544 sản phẩm OCOP

Sau hơn 7 năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã từng bước khẳng định vai trò
Xã Ứng Thiên phát triển kinh tế, tạo đà xây dựng nông thôn mới

Xã Ứng Thiên phát triển kinh tế, tạo đà xây dựng nông thôn mới

LNV - Tận dụng lợi thế địa phương, nhiều hộ dân xã Ứng Thiên đã chủ động chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các mô hình nông nghiệp đa dạng. Sự đổi mới này không chỉ nâng cao thu nhập, tạo việc làm tại chỗ mà còn tạo đà vững chắc c
VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

LNV - Hai ngày 31/10 và 01/11/2026, xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng mời Nhân dân và du khách về Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia Miếu Lác dự Lễ hội Rươi năm 2026. Với chủ đề "Về miền di tích, đón lộc phù sa", lễ hội tôn vinh nghề rươi truyền thống của
Xã Kiều Phú đưa công nghệ xuống đồng ruộng, nâng cao hiệu quả sản xuất

Xã Kiều Phú đưa công nghệ xuống đồng ruộng, nâng cao hiệu quả sản xuất

LNV - Ứng dụng thiết bị bay không người lái vào sản xuất lúa, xã Kiều Phú từng bước đổi mới phương thức canh tác, giảm chi phí, nâng cao năng suất và thu nhập cho nông dân. Kết quả bước đầu từ mô hình 15ha lúa trong vụ mùa năm 2026 mở ra triển vọng phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.
Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

LNV - Giữa khuôn viên đình Định Công Thượng (Hà Nội), nơi thờ Tổ nghề kim hoàn, xưởng đậu bạc vẫn ngày ngày hoạt động. Nếu bàn thờ Tổ lưu giữ ký ức về cội nguồn, thì đôi tay người thợ đang tiếp nối nghề xưa bằng những sản phẩm được làm ra hôm nay.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động