Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải: “Được hát quan họ hạnh phúc biết bao

LNV - Nói đến Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải, nguyên Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, đại biểu Quốc hội khóa IX, trước hết phải nói đến cái duyên quan họ. Mảnh đất Kinh Bắc đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ quan họ nhưng để khán giả yêu, khán giả nhớ về một người “có cái duyên quan họ” thì không phải ai cũng may mắn như bà.
66 tuổi, bà đã có 50 năm hát dân ca và cống hiến cho sân khấu quan họ chuyên nghiệp. Có thể nói bà là kết tinh của nhiều vẻ đẹp, chỉ cần khoác trên mình bộ trang phục liền chị, chít chiếc khăn mỏ quạ, khán giả đã thấy ở bà toát ra những nét duyên quan họ đằm thắm, duyên từ giọng nói, miệng cười, duyên từ ánh mắt, dáng đi và hơn hết bà có cái duyên ngay ở chính giọng hát của mình.

Những năm tháng không thể quên

Sinh ra ở xã Phật Tích (nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngay từ những năm lên 6, Thúy Cải đã được người mẹ, vốn là người làng Ném Đoài, một trong những làng quan họ cổ, dạy hát những bài quan họ giọng vặt như: “Khách đến chơi nhà”, “Cây trúc xinh”, “Người ở đừng về”, “Ba sáu thứ chim”, “Lý Thiên Thai”... Hơn nữa, lại được sống trong một không gian làng quê đậm đà bản sắc với những câu hát quan họ khiến cô bé Cải ngày càng yêu thích và mong muốn được gắn cuộc đời mình với quan họ.

Tháng 5-1969, nghệ nhân Nguyễn Đức Siêu, sau là Trưởng đoàn đầu tiên của Đoàn Dân ca quan họ Hà Bắc có ý định chọn cô Canh, là chị gái của cô Cải vào Đội ca hát quan họ (lúc này chưa thành lập đoàn) vì nhan sắc có phần trội hơn. Thế nhưng, bà cụ thân sinh với kinh nghiệm của mình đã từ chối và kiên quyết cho cô em đi, vì theo bà “nhất thanh, nhì sắc”. Hơn nữa, bà thấy cô Cải có tố chất quan trọng của người hát, đó là “trường cổ đại thanh”. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời của cô bé 16 tuổi.


NSND Thúy Cải với tiếng hát quan họ đi vào lòng đông đảo công chúng.


Thúy Cải là người thứ 9 được tuyển vào Đội ca hát quan họ. Nói là ca hát quan họ nhưng nhiệm vụ chính là sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và giới thiệu dân ca quan họ. Thúy Cải và các học viên nhập cuộc với bài hát “La rằng” (bài lề lối): “Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà/ Hôm nay họp mặt giao hòa/ Nguyện xin nguyệt lão giăng già se duyên”. Lời có vậy mà cứ i a ư hự, học gần một tháng mà bẻ câu chưa thành.

Cuối năm 1969, cán bộ, diễn viên, nhạc công đã lên đến con số 30 người. Nơi tạm trú của Đội quan họ tại thôn Tĩnh Lộc, sau chuyển sang làng Lai (xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ngoài học hát những bài quan họ cổ do nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi truyền dạy, diễn viên và nhạc công được học các môn lý luận cơ bản tại Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc. Ban đầu biết bao khó khăn, thiếu thốn như cơm phải đựng vào chậu đóng bằng gỗ, ăn tập trên sân kho đầm vôi cát, mỗi khi có cơn gió đi qua thì bụi bay mù mịt. Nhưng rồi khó khăn cũng qua, với một năm vừa học tập, vừa xây dựng tổ chức đơn vị, Đoàn dân ca quan họ Hà Bắc chính thức hình thành.

Kịch mục đầu tiên là ca cảnh “Cây sáo trúc” của tác giả Đào Thiệm cơ bản đã dựng xong. Tuy nhiên, dân ca quan họ là một thể loại ca hát trữ tình, với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn lúc bấy giờ xem chừng chưa phù hợp. Vậy là Đoàn chuyển sang dựng các ca cảnh “Ngày hội năm xưa”, “Vào chùa”, “ Ông cháu”, “Giã bạn”… Đó là các ca cảnh quan họ được gom lại từ những nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của quan họ rồi đưa lên sân khấu, sau gộp cả lại mang tựa đề “Quan họ ngày hội”.

Tháng 10-1970, Đoàn chuyển về xóm Chinh, làng Lũng Giang, xã Vân Tương, huyện Tiên Sơn (nay là huyện Tiên Du). Với phương châm bám vùng quan họ gốc để thực hiện nhiệm vụ sưu tầm các làn điệu, văn bản lời ca và lề lối sinh hoạt văn hóa quan họ… Còn về học hát quan họ cổ, hằng ngày diễn viên và nhạc công theo các nghệ nhân làm lụng ngoài đồng hay dọn dẹp ở nhà, tối đến mới có cơi trầu đến kính các bậc nghệ nhân xin được truyền lại cho những làn điệu, lời ca hay đôi ba câu đối đáp trước canh hát. Chuyện học hát những câu quan họ cổ dần dần đã có phần quen, nhưng lúc bấy giờ ở vùng quan họ mấy ai hát quan họ cổ (!), chỉ có đôi ba làn điệu được đặt lời mới phục vụ chính trị nên thường gọi là “Quan họ đài”, còn quan họ truyền thống gần như bị lãng quên. Hơn nữa, tại thời điểm đó nước nhà chưa thống nhất, kinh tế còn rất khó khăn, ai cũng lo làm lo ăn có nghĩ đâu đến việc ca hát.


Dân ca Quan họ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


“Mấy anh trai làng nghe chúng tôi học hát, cứ bảo chúng tôi học khấn tiên sư… Cũng buồn. Nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ nên việc học, việc sưu tầm và xây dựng chương trình biểu diễn vẫn cứ tiếp diễn trong nhiều tháng” - Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải bồi hồi nhớ lại. Guồng máy đang có đà thì trận lụt lớn năm 1971 ập tới, cả vùng quan họ chìm trong biển nước, công tác phục vụ bão lụt lại đặt lên hàng đầu, lại chia năm xẻ bảy về từng xóm, thôn cùng bà con khắc phục hậu quả bão lụt. Cũng từ đây hai ca cảnh “Khóm trúc bên sông” và “Đống rạ ải” đã ra đời. Sau trận lụt, khó khăn vẫn chưa hết, Nhà nước phát động cán bộ, viên chức tự túc một phần lương thực. Chúng tôi về núi Hiểu, xã Quang Châu (nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) xin ruộng cày cấy. Ruộng chiêm trũng cấy gặt nước đều ngập tới thắt lưng, vị nào sợ đỉa thì khổ biết chừng nào. Yên ổn với những nhiệm vụ bất thường, công việc sưu tầm, xây dựng chương trình biểu diễn lại chóng mặt. “Đón bạn ngày xuân” là chương trình quan họ truyền thống thứ hai, mô phỏng cảnh liền anh, liền chị các làng quan họ luyện hát, sắm sửa chuẩn bị cho việc đón bạn kết nghĩa của mình khi mùa xuân tới”.

“Có công mài sắt có ngày nên kim”, sau khi kết thúc khóa học, Thúy Cải và các học viên đã sưu tầm và hát được hơn 200 làn điệu quan họ với hơn 500 bài ca quan họ. Trong đó có hàng trăm bài quan họ gốc thể hiện rõ những giá trị đặc trưng của loại hình dân ca đặc sắc phổ biến ở vùng quê Kinh Bắc cùng những lề lối sinh hoạt truyền thống. Các chương trình biểu diễn của Đoàn được các diễn viên, nhạc công thể hiện khá thuần thục. Sau đó, Đoàn có hai đợt biểu diễn báo cáo Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu cùng cán bộ, nhân dân Thủ đô một cách thành công, khẳng định và gợi ra một tầm nhìn đúng đắn về dân ca quan họ nói riêng, nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung. Đó là năm 1974. Cũng từ đấy biết bao đoàn khách trong và ngoài nước đã về Bắc Ninh nghe hát dân ca quan họ và đặc biệt là tìm hiểu về hát canh trong quan họ. Cũng năm ấy là cái mốc đánh dấu sự hồi sinh của dân ca quan họ, bởi đó là năm người dân miền Bắc xem bộ phim “Đến hẹn lại lên” mà trong đó Thúy Cải đã có một vai diễn để đời. Cùng với việc đưa Đoàn đi biểu diễn phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách quốc tế xem, quan họ Bắc Ninh đã thực sự “sống lại” như lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám lúc bấy giờ.

Đã khẳng định mình thì phải gánh vác nhiệm vụ mới, năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà, Đoàn chính thức nhận kế hoạch biểu diễn phục vụ nhân dân hằng năm. Những buổi biểu diễn phục vụ quân và dân, máy phát điện được cải tiến từ máy bơm nước Ba Lan, phương tiện vận chuyển thì bằng xe cải tiến, xe bò, người kéo, xe đạp cá nhân… Buổi đầu tiên tại bãi chiếu bóng đồi Lim, đúng là trời vui, đất vui, nhân dân vui - một môn nghệ thuật được đưa lên sân khấu hoàn toàn mới mẻ. Anh chị em trong Đoàn ai nấy đều phấp phỏng lo âu về cái “vạn sự khởi đầu nan” này. Trong tâm trạng đan xen vui mừng, lo âu khó ai đo đếm, các đồng chí lãnh đạo còn lo gấp bội. Nhưng rồi phấn khởi bất ngờ. Mới chập tối điểm bán vé vừa lên đèn mà khán giả đã từ các ngả đường ùn ùn kéo đến. Vé bán không kịp, người dồn vào bãi mỗi lúc một đông, cửa xé vé ùn tắc, xé vé không kịp, chen chúc, cản không xong, rồi vỡ òa tháo khoán... Với Thúy Cải, việc khán giả ủng hộ cho đêm diễn thành công là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi.

Chuỗi ngày tươi sáng đang bừng chiếu thì đột nhiên xuất hiện nhiệm vụ mới. Thúy Cải và các nghệ sĩ lại hành quân lên biên giới phía bắc phục vụ các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Từng tốp, từng tốp hát “chay”, không có thiết bị, mưa rét vẫn hát. Mặc bom rơi, đạn nổ, tiếng hát, tiếng đàn của các nghệ sĩ vẫn nồng cháy, vút bay làm ấm lòng bao chiến sĩ. Những năm đầu của thập niên 80, nhiều chương trình thể nghiệm được dàn dựng như “Sự tích trầu cau”, “Đôi ngọc lưu ly”, “Chuyện tình Tiên Du”; các ca cảnh như “Khúc hát đảo xa”, “Khúc hát làng sông”. Các chương trình ca múa nhạc cùng với các chương trình quan họ truyền thống đã giới thiệu tới đông đảo khán giả trong và ngoài nước, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và lan tỏa di sản quan họ trong đời sống đương đại.

Vẫn đắm say trên con đường đã chọn

Nhiều người yêu quan họ đều nhận xét rằng nghe Thúy Cải hát một lần sẽ nhớ, nhớ rồi sẽ thích, thích rồi sẽ mê. Với bà, dù biểu diễn trên sân khấu đơn sơ nơi vùng sâu, vùng xa hay sân khấu sang trọng ở nước ngoài, dù biểu diễn cho những người dân lao động chân lấm tay bùn hay những chính khách thì cứ được hát quan họ là hạnh phúc biết bao. 50 năm trong nghề, ngoài giọng hát quan họ say đắm lòng người thì bà còn là vị lãnh đạo hết lòng vì công việc. 12 năm trên cương vị Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, Thúy Cải không chỉ nỗ lực để anh chị em trong Đoàn sống tốt bằng nghề mà còn cố gắng để quan họ đến được với nhiều vùng quê trong cả nước. Bà đã nhiều lần đi nói chuyện trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa ở các trường học để lớp trẻ hiểu và yêu quan họ cũng như văn hóa của người quan họ.

Có một công việc mà Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải cũng rất miệt mài, tâm huyết, đó là giảng dạy tại các cơ sở đào tạo quan họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang. Theo bà, một giọng hát quan họ hay thì phải vang, rền, nền, nảy, mà “nảy” trong quan họ rất quan trọng nhưng không phải ai cũng hát được. Muốn giọng hát “nảy” được thì thế hệ trẻ phải học hỏi rất nhiều, ngoài học trường lớp còn phải học các nghệ nhân ở các làng quan họ cổ cùng quá trình tập luyện kỳ công. Đặc biệt, bà rất quan tâm đến việc truyền tình yêu quan họ đến với các em nhỏ. Bởi theo bà, chính các em sẽ góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống của quê hương. Được biết, khoảng 10 năm trở lại đây, khi đã trở về quê nhà dưới chân núi Bất Lự (xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống, cứ mỗi chủ nhật bà lại đứng lớp dạy các em nhỏ hát quan họ. Những giá trị của làn điệu dân ca truyền thống từ bao đời nay là không thể phủ nhận vì thế những lớp học truyền khẩu như vậy dường như là biện pháp tốt nhất để có thể truyền thụ một cách rõ ràng, hiệu quả nhất những tinh hoa truyền thống.

Với những đóng góp không ngừng nghỉ cho dân ca quan họ nói riêng, cho âm nhạc truyền thống nói chung, bà đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2015. Thế nhưng, trò chuyện với tôi hôm nay, trong một buổi chiều đông 2019, bà lại bảo rằng: Danh hiệu ấy là rất quý nhưng quan trọng và hạnh phúc hơn là đi đến đâu người ta cũng biết đến bà và mong muốn được trực tiếp nghe bà hát.

Đạt được những thành công trong ngày hôm nay, bà vẫn luôn tâm niệm nếu không có chồng con thì mình không làm được gì hết. Học cùng nhau ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc rồi sau này công tác cùng Đoàn (chồng bà phụ trách âm thanh, ánh sáng), vợ chồng bà luôn kề vai sát cánh trong mọi hành trình. Ngoài làm việc ở Đoàn quan họ, bà còn tham gia HĐND tỉnh, là đại biểu Quốc hội khóa IX (1992-1997). Như vậy có nghĩa là công việc rất bận rộn, chồng bà đã tự nguyện lùi về phía sau, lo lắng, chăm sóc con cái, nhà cửa cho bà yên tâm công tác. Có lẽ vì vậy bà luôn cảm thấy may mắn vì có hậu phương vững chắc là gia đình. Vì thế, dù cho có những lúc thăng hoa trên sân khấu nhưng không bao giờ bà quên phép tắc gia phong và giữ gìn chính mình trong lề lối nghiêm ngặt của người quan họ. Bởi vậy, bà có một cuộc sống hạnh phúc, đầm ấm nhiều người mơ ước. Được biết, người con gái lớn của bà là chị Lê Ngọc Lương, hiện là Trưởng Phòng Nghệ thuật quần chúng, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh, cũng đang tiếp nối người mẹ của mình để lan tỏa dân ca quan họ nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.

Đến bây giờ mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng trong lòng bà vẫn còn canh cánh với ước mơ quan họ ngày nào. “Cái phải ghi nhớ đó là ai đã tạo ra và để lại cho người dân Bắc Ninh hôm nay nền văn hiến Kinh Bắc, trong đó có quan họ. Nhân dân biết trân trọng nền văn hiến của địa phương mà giữ gìn đến ngày nay, để Thúy Cải cùng bao nghệ sĩ khác được thừa hưởng hương thơm ấy, để rồi được vinh danh. 50 năm - nửa thế kỷ, dài mà ngắn. Dài ngắn đâu kể, mà là kể cái ta được thừa hưởng hương thơm của dân ca quan họ; ngược lại chúng ta tri ân được bao nhiêu cho sự trường tồn của dân ca quan họ, ấy mới là điều cần gắng sức. Các bạn trẻ hãy vì nghệ thuật mà lao động, sáng tạo để xứng đáng với những giá trị văn hóa quan họ mà người xưa để lại, xứng với miền quê văn hiến mà mình đã sinh ra. Nay thế hệ đi trước đang bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” muốn vương vấn với quan họ mà lực bất tòng tâm. Tương lai trên con đường gìn giữ và phát triển dân ca quan họ nhờ cậy cả vào thế hệ hôm nay. Những mong các bạn hãy đem loại hình nghệ thuật hát dân ca quan họ Bắc Ninh hòa vào cuộc sống bằng tâm huyết thực sự và tài năng sáng tạo của thời đại mới. Như vậy dân ca quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa”, Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải nghẹn ngào chia sẻ.

Kỳ lạ thay cuộc đời của một người nghệ sĩ với gần 70 năm tuổi đời, 35 tuổi đảng, 50 năm gắn bó, sắt son với quan họ nhưng nét duyên quan họ vẫn còn nguyên, cả thanh và sắc vẫn giữ được bền, chỉ chín chắn hơn, đằm thắm hơn và sâu nặng nghĩa tình hơn mà thôi. Có lẽ vì thế mà người bạn diễn suốt nửa thế kỷ của bà là Nghệ sĩ Ưu tú Quý Tráng từng nhận xét rằng: “Quan họ sinh ra để dành cho Thúy Cải như một bông hoa nguyên chất không cần cấy ghép”.

Bài và ảnh Ngô Đăng Khoa

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt:  Kỳ 2:  Phá vỡ lối mòn tư duy thế hệ

Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt: Kỳ 2: Phá vỡ lối mòn tư duy thế hệ

LNV - Cuộc đại dịch chuyển lên không gian mạng đang đặt các làng nghề trăm tuổi vào cuộc chiến tư duy khốc liệt. Làn sóng công nghệ số sẵn sàng bỏ lại những ai ngại thay đổi, mở đường cho những người dám học hỏi. Hành trình này đặt ra “bài toán” cho việc thu hẹp khoảng cách tư duy giữa các thế hệ làm nghề.
Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt:  Kỳ 1: Chàng trai Quảng Bình “bán cói” quê hương lấy Đô-la

Nỗ lực “di cư” làng nghề Việt: Kỳ 1: Chàng trai Quảng Bình “bán cói” quê hương lấy Đô-la

LNV - Từng bị xem là kẻ “gàn dở” khi bỏ tấm bằng du học Nhật Bản để về ôm lấy đống tre, nứa bám bụi ở quê nhà, Trần Tuấn Dũng, người sáng lập thương hiệu ChicnChill đã chứng minh tư duy số và công nghệ chính là chiếc đòn bẩy vạn năng để giải phóng sản phẩm truyền thống khỏi lối mòn “chờ khách đến nhà”, đưa hồn Việt vươn xa trên thế giới.
Tỉnh Cao Bằng phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

Tỉnh Cao Bằng phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn

LNV - Năm 2026 đánh dấu cột mốc khởi động giai đoạn 2026 - 2030 trong chiến lược phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Cao Bằng, hướng tới mục tiêu đồng bộ giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và nâng cao sinh kế cho người dân.
Cà Mau có nhiều nghề truyền thống đặc trưng

Cà Mau có nhiều nghề truyền thống đặc trưng

LNV - Cà Mau sở hữu hệ sinh thái sông nước và rừng ngập mặn phong phú, tạo ra hệ thống các làng nghề truyền thống đặc trưng. Nổi bật nhất phải kể đến nghề làm tôm khô Rạch Gốc (Ngọc Hiển), nghề dệt chiếu (Tân Thành), gác kèo ong lấy mật, và chế biến mắm ba khía trứ danh
Làng bún hơn 400 tuổi được công nhận là di sản văn hóa quốc gia

Làng bún hơn 400 tuổi được công nhận là di sản văn hóa quốc gia

LNV - Nghề làm bún Vân Cù là làng nghề truyền thống có tuổi đời hơn 400 năm ở vùng đất cố đô Huế, gắn liền với câu chuyện về “bà Bún” - người được dân làng tôn thờ như một vị thần hoàng.
Mùa “dứa nữ hoàng” ở Na Sang (Điện Biên)

Mùa “dứa nữ hoàng” ở Na Sang (Điện Biên)

Tháng 5 về trên miền biên viễn, xã Na Sang (Điện Biên) lại ngập trong mùi thơm của dứa chín. Từ trên các triền đồi nhìn xuống, từng đoàn người gùi dứa, chở dứa men theo Quốc lộ 12 tạo nên khung cảnh nhộn nhịp hiếm thấy. Có những du khách dừng xe chỉ vì bị kéo lại bởi hương thơm ngọt lịm ven đường, rồi mang theo vài quả dứa vàng óng như mang cả vị nắng gió Tây Bắc về xuôi. Ở Na Sang, mùa dứa không chỉ là mùa thu hoạch nông sản. Đó còn là mùa của hy vọng, của tiếng cười sau một năm cặm cụi trên nương dốc. Từ những nương ngô, nương sắn cho thu nhập bấp bênh, cây dứa giờ đã mở ra sinh kế mới, mang theo giấc mơ đổi đời của nhiều hộ dân nơi đây.

Tin khác

Không gian sáng tạo làng nghề truyền thống hút khách tại trung tâm thương mại Hà Nội

Không gian sáng tạo làng nghề truyền thống hút khách tại trung tâm thương mại Hà Nội

LNV - Ngày 13/6, tại Trung tâm Thương mại Vincom Mega Mall Royal City, “Chợ phiên kết duyên sáng tạo” dành cho các làng nghề truyền thống Việt Nam chính thức khai mạc. Sự kiện là cầu nối quảng bá tinh hoa nghề thủ công, khơi dậy sức sáng tạo của các làng nghề Hà Nội, đồng thời đưa sản phẩm làng nghề đến gần hơn với người tiêu dùng trong không gian trải nghiệm hiện đại.
Khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề

Khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề

Ngày 13/6/2026 tại Vincom Mega Mall Royal City,72A Nguyễn Trãi, phường Khương Đình, TP Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam chính thức khởi động chương trình phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026.
Làng gốm Phù Lãng gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm

Làng gốm Phù Lãng gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm

LNV - Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng thuộc tỉnh Bắc Ninh, làng gốm cổ Phù Lãng từ lâu đã nổi tiếng với những sản phẩm gốm sành mộc mạc, mang đậm hồn cốt của vùng đất Kinh Bắc. Trải qua hơn 700 năm thăng trầm, trước áp lực cạnh tranh gay gắt của thị trường hiện đại, Phù Lãng không dừng lại hay để mai một nét nghề. Bằng việc chủ động gắn kết giữa sản xuất truyền thống với mô hình du lịch trải nghiệm, những người thợ gốm nơi đây đang tự mở ra một hướng phát triển kinh tế bền vững, vừa bảo tồn giá trị văn hóa, vừa nâng cao giá trị thương mại cho từng thớ đất quê hương.
Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng biến lá bồ đề thành tác phẩm nghệ thuật độc đáo

Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng biến lá bồ đề thành tác phẩm nghệ thuật độc đáo

LNV - Với sự kiên trì và tài hoa, Nghệ nhân Võ Ngọc Hùng đã biến lá tự nhiên thành tranh thủ công thể hiện nét đẹp văn hóa và tâm linh xứ Huế, lan tỏa khắp thế giới.
Nghệ nhân Thanh Liễu phục dựng tranh cổ “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”

Nghệ nhân Thanh Liễu phục dựng tranh cổ “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”

LNV - Hai nghệ nhân Hải Phòng hoàn thành bộ ván in mộc bản phục dựng tranh cổ Trúc Lâm, thể hiện kỹ thuật khắc tinh xảo và giá trị lịch sử Việt Nam.
Làng nghề làm hương đen Văn Quan giữ gìn truyền thống độc đáo

Làng nghề làm hương đen Văn Quan giữ gìn truyền thống độc đáo

LNV - Nghề làm hương đen Văn Quan (xã Diên Hà, Hưng Yên) từ nhựa trám và than (tro của cây vừng và đỗ tương), mang lại sinh kế bền vững, đồng thời góp phần bảo tồn nghề truyền thống của làng.
Gìn giữ và lan tỏa di sản mỹ thuật dân gian qua tranh tứ bình

Gìn giữ và lan tỏa di sản mỹ thuật dân gian qua tranh tứ bình

LNV - Ngày 8/6, tại Hà Nội, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức lễ ra mắt sách tái bản: “Tranh Tứ bình – Sưu tập chọn lọc Tranh Dân gian”. Đây là hoạt động thiết thực của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Bảo tàng (24/6/1966 - 24/6/2026).
Nghề thủ công truyền thống: Nơi giữ gìn và lan tỏa văn hóa Việt

Nghề thủ công truyền thống: Nơi giữ gìn và lan tỏa văn hóa Việt

LNV - Cảm thấy chưa đủ với những workshop ngắn hướng dẫn làm đồ thủ công trong các không gian nhỏ thành phố, nhiều người trẻ còn lặn lội tìm về những lớp học ngay tại làng nghề truyền thống. Không chỉ học những kỹ thuật làm gốm, thêu hoa, họ còn được tham quan xưởng, nghe kể về lịch sử làng nghề và khám phá nét đẹp văn hóa truyền thống.
Khi người nông dân học bán hàng online từ những hợp tác xã vùng quê

Khi người nông dân học bán hàng online từ những hợp tác xã vùng quê

LVN - Không còn quanh quẩn ở những phiên chợ quê, nhiều hợp tác xã (HTX) trên cả nước đang từng bước đưa nông sản truyền thống lên các sàn thương mại điện tử. Từ tinh bột nghệ đỏ, thịt chua đến các loại trái cây đặc sản, hành trình chuyển mình này không chỉ mở rộng đầu ra mà còn góp phần nâng tầm giá trị nông sản Việt trong thời đại số.
Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

LNV - Giữa vùng quê yên bình của xã Vạn Thắng, tỉnh Khánh Hòa, làng nghề trầm hương Phú Hội 1 đã tồn tại hơn một thế kỷ như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân địa phương. Qua nhiều thế hệ, nghề làm trầm không chỉ giúp người dân mưu sinh mà còn lưu giữ nét đẹp truyền thống đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là “xứ trầm hương” của Việt Nam.
Đông Cứu và hành trình đánh thức giá trị di sản thêu long bào

Đông Cứu và hành trình đánh thức giá trị di sản thêu long bào

LNV - Tồn tại hơn 300 năm, làng nghề thêu truyền thống Đông Cứu (xã Dũng Tiến, Hà Nội) từng có thời điểm đứng trước nguy cơ mai một bởi những biến động của thời cuộc. Thế nhưng, nhờ không ngừng đổi mới mẫu mã, bám sát nhu cầu thị trường, nghề thêu long bào đã hồi sinh mạnh mẽ, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao. Dẫu vậy, phía sau sự sôi động của những khung thêu vẫn còn đó nỗi trăn trở khi một di sản nghề độc đáo vẫn chưa thể trở thành điểm đến du lịch chuyên nghiệp, tương xứng với tiềm năng và giá trị văn hóa vốn có.
Tuổi trẻ Hà Nội góp phần thay đổi diện mạo làng nghề truyền thống

Tuổi trẻ Hà Nội góp phần thay đổi diện mạo làng nghề truyền thống

LNV - Những năm gần đây, tại nhiều vùng quê có nghề ở Hà Nội, số người trẻ tuổi sau khi được đào tạo bài bản đã lựa chọn quay về quê hương để tiếp nối, phát triển nghề truyền thống của cha ông ngày một đông. Với tư duy mới, khả năng ứng dụng công nghệ tốt, cách tiếp cận thị trường linh hoạt, họ đang góp phần làm hồi sinh, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các làng nghề...
Chung tay cải thiện môi trường làng nghề vì phát triển bền vững

Chung tay cải thiện môi trường làng nghề vì phát triển bền vững

LNV - Hải Phòng có 78 làng nghề được công nhận, song hoạt động sản xuất vẫn đặt ra nhiều thách thức trong bảo vệ môi trường.
80 năm nhớ Khánh Ký – Danh nhân của nghề nhiếp ảnh Việt Nam

80 năm nhớ Khánh Ký – Danh nhân của nghề nhiếp ảnh Việt Nam

LNV - Nhân kỷ niệm 80 năm ngày mất của Danh nhân nhiếp ảnh Nguyễn Đình Khánh (Khánh Ký) (1946 - 2026), cùng nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của người đã đặt nền móng cho sự phát triển của nghề nhiếp ảnh Việt Nam, đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.
Nghệ nhân Lô Thị Hương -  Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

Nghệ nhân Lô Thị Hương - Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

LNV - Hơn 80 năm gắn bó với làn điệu dân ca Thái, bà Hương đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô

Cây quế tạo sinh kế cho nông dân Nghĩa Đô

Người dân vùng quế Lào Cai bước vào mùa thu hoạch, biến “vàng xanh” miền sơn cước thành nguồn thu nhập quan trọng cho nhiều gia đình.
Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng

Mai Hạ gọi nắng, bếp gọi men rừng

Giữa núi rừng Mai Hạ, rượu Láu Siêu của người Thái ở Chiềng Hạ lưu giữ hương vị truyền thống qua nhiều thế hệ. Từ “men rừng” trong những gian bếp nhỏ, sản phẩm đang dần trở thành đặc sản mang bản sắc văn hóa địa phương.
Phú Thọ: "Tấm hộ chiếu” đưa nông sản vươn xa

Phú Thọ: "Tấm hộ chiếu” đưa nông sản vươn xa

Mã số vùng trồng đang mở đường cho nông sản Phú Thọ nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu.
Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi

Chè Shan tuyết cổ thụ: Nếm vị gió và mây của “vàng xanh” trên đỉnh núi

Chè Shan tuyết cổ thụ Tà Xùa là “vàng xanh” của núi cao, được hình thành qua hàng trăm năm giữa sương gió Tây Bắc và mang giá trị đặc biệt trong văn hóa, sản xuất trà.
Tạp Chí Làng Nghề Việt Nam: Gặp mặt kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm

Tạp Chí Làng Nghề Việt Nam: Gặp mặt kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm

Ngày 19/6, tại Hà Nội, Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã tổ chức Buổi gặp mặt chào mừng kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026). Đồng thời, cơ quan đã tiến hành Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động