Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải: “Được hát quan họ hạnh phúc biết bao

LNV - Nói đến Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải, nguyên Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, đại biểu Quốc hội khóa IX, trước hết phải nói đến cái duyên quan họ. Mảnh đất Kinh Bắc đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ quan họ nhưng để khán giả yêu, khán giả nhớ về một người “có cái duyên quan họ” thì không phải ai cũng may mắn như bà.
66 tuổi, bà đã có 50 năm hát dân ca và cống hiến cho sân khấu quan họ chuyên nghiệp. Có thể nói bà là kết tinh của nhiều vẻ đẹp, chỉ cần khoác trên mình bộ trang phục liền chị, chít chiếc khăn mỏ quạ, khán giả đã thấy ở bà toát ra những nét duyên quan họ đằm thắm, duyên từ giọng nói, miệng cười, duyên từ ánh mắt, dáng đi và hơn hết bà có cái duyên ngay ở chính giọng hát của mình.

Những năm tháng không thể quên

Sinh ra ở xã Phật Tích (nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngay từ những năm lên 6, Thúy Cải đã được người mẹ, vốn là người làng Ném Đoài, một trong những làng quan họ cổ, dạy hát những bài quan họ giọng vặt như: “Khách đến chơi nhà”, “Cây trúc xinh”, “Người ở đừng về”, “Ba sáu thứ chim”, “Lý Thiên Thai”... Hơn nữa, lại được sống trong một không gian làng quê đậm đà bản sắc với những câu hát quan họ khiến cô bé Cải ngày càng yêu thích và mong muốn được gắn cuộc đời mình với quan họ.

Tháng 5-1969, nghệ nhân Nguyễn Đức Siêu, sau là Trưởng đoàn đầu tiên của Đoàn Dân ca quan họ Hà Bắc có ý định chọn cô Canh, là chị gái của cô Cải vào Đội ca hát quan họ (lúc này chưa thành lập đoàn) vì nhan sắc có phần trội hơn. Thế nhưng, bà cụ thân sinh với kinh nghiệm của mình đã từ chối và kiên quyết cho cô em đi, vì theo bà “nhất thanh, nhì sắc”. Hơn nữa, bà thấy cô Cải có tố chất quan trọng của người hát, đó là “trường cổ đại thanh”. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời của cô bé 16 tuổi.


NSND Thúy Cải với tiếng hát quan họ đi vào lòng đông đảo công chúng.


Thúy Cải là người thứ 9 được tuyển vào Đội ca hát quan họ. Nói là ca hát quan họ nhưng nhiệm vụ chính là sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và giới thiệu dân ca quan họ. Thúy Cải và các học viên nhập cuộc với bài hát “La rằng” (bài lề lối): “Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà/ Hôm nay họp mặt giao hòa/ Nguyện xin nguyệt lão giăng già se duyên”. Lời có vậy mà cứ i a ư hự, học gần một tháng mà bẻ câu chưa thành.

Cuối năm 1969, cán bộ, diễn viên, nhạc công đã lên đến con số 30 người. Nơi tạm trú của Đội quan họ tại thôn Tĩnh Lộc, sau chuyển sang làng Lai (xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ngoài học hát những bài quan họ cổ do nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi truyền dạy, diễn viên và nhạc công được học các môn lý luận cơ bản tại Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc. Ban đầu biết bao khó khăn, thiếu thốn như cơm phải đựng vào chậu đóng bằng gỗ, ăn tập trên sân kho đầm vôi cát, mỗi khi có cơn gió đi qua thì bụi bay mù mịt. Nhưng rồi khó khăn cũng qua, với một năm vừa học tập, vừa xây dựng tổ chức đơn vị, Đoàn dân ca quan họ Hà Bắc chính thức hình thành.

Kịch mục đầu tiên là ca cảnh “Cây sáo trúc” của tác giả Đào Thiệm cơ bản đã dựng xong. Tuy nhiên, dân ca quan họ là một thể loại ca hát trữ tình, với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn lúc bấy giờ xem chừng chưa phù hợp. Vậy là Đoàn chuyển sang dựng các ca cảnh “Ngày hội năm xưa”, “Vào chùa”, “ Ông cháu”, “Giã bạn”… Đó là các ca cảnh quan họ được gom lại từ những nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của quan họ rồi đưa lên sân khấu, sau gộp cả lại mang tựa đề “Quan họ ngày hội”.

Tháng 10-1970, Đoàn chuyển về xóm Chinh, làng Lũng Giang, xã Vân Tương, huyện Tiên Sơn (nay là huyện Tiên Du). Với phương châm bám vùng quan họ gốc để thực hiện nhiệm vụ sưu tầm các làn điệu, văn bản lời ca và lề lối sinh hoạt văn hóa quan họ… Còn về học hát quan họ cổ, hằng ngày diễn viên và nhạc công theo các nghệ nhân làm lụng ngoài đồng hay dọn dẹp ở nhà, tối đến mới có cơi trầu đến kính các bậc nghệ nhân xin được truyền lại cho những làn điệu, lời ca hay đôi ba câu đối đáp trước canh hát. Chuyện học hát những câu quan họ cổ dần dần đã có phần quen, nhưng lúc bấy giờ ở vùng quan họ mấy ai hát quan họ cổ (!), chỉ có đôi ba làn điệu được đặt lời mới phục vụ chính trị nên thường gọi là “Quan họ đài”, còn quan họ truyền thống gần như bị lãng quên. Hơn nữa, tại thời điểm đó nước nhà chưa thống nhất, kinh tế còn rất khó khăn, ai cũng lo làm lo ăn có nghĩ đâu đến việc ca hát.


Dân ca Quan họ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


“Mấy anh trai làng nghe chúng tôi học hát, cứ bảo chúng tôi học khấn tiên sư… Cũng buồn. Nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ nên việc học, việc sưu tầm và xây dựng chương trình biểu diễn vẫn cứ tiếp diễn trong nhiều tháng” - Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải bồi hồi nhớ lại. Guồng máy đang có đà thì trận lụt lớn năm 1971 ập tới, cả vùng quan họ chìm trong biển nước, công tác phục vụ bão lụt lại đặt lên hàng đầu, lại chia năm xẻ bảy về từng xóm, thôn cùng bà con khắc phục hậu quả bão lụt. Cũng từ đây hai ca cảnh “Khóm trúc bên sông” và “Đống rạ ải” đã ra đời. Sau trận lụt, khó khăn vẫn chưa hết, Nhà nước phát động cán bộ, viên chức tự túc một phần lương thực. Chúng tôi về núi Hiểu, xã Quang Châu (nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) xin ruộng cày cấy. Ruộng chiêm trũng cấy gặt nước đều ngập tới thắt lưng, vị nào sợ đỉa thì khổ biết chừng nào. Yên ổn với những nhiệm vụ bất thường, công việc sưu tầm, xây dựng chương trình biểu diễn lại chóng mặt. “Đón bạn ngày xuân” là chương trình quan họ truyền thống thứ hai, mô phỏng cảnh liền anh, liền chị các làng quan họ luyện hát, sắm sửa chuẩn bị cho việc đón bạn kết nghĩa của mình khi mùa xuân tới”.

“Có công mài sắt có ngày nên kim”, sau khi kết thúc khóa học, Thúy Cải và các học viên đã sưu tầm và hát được hơn 200 làn điệu quan họ với hơn 500 bài ca quan họ. Trong đó có hàng trăm bài quan họ gốc thể hiện rõ những giá trị đặc trưng của loại hình dân ca đặc sắc phổ biến ở vùng quê Kinh Bắc cùng những lề lối sinh hoạt truyền thống. Các chương trình biểu diễn của Đoàn được các diễn viên, nhạc công thể hiện khá thuần thục. Sau đó, Đoàn có hai đợt biểu diễn báo cáo Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu cùng cán bộ, nhân dân Thủ đô một cách thành công, khẳng định và gợi ra một tầm nhìn đúng đắn về dân ca quan họ nói riêng, nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung. Đó là năm 1974. Cũng từ đấy biết bao đoàn khách trong và ngoài nước đã về Bắc Ninh nghe hát dân ca quan họ và đặc biệt là tìm hiểu về hát canh trong quan họ. Cũng năm ấy là cái mốc đánh dấu sự hồi sinh của dân ca quan họ, bởi đó là năm người dân miền Bắc xem bộ phim “Đến hẹn lại lên” mà trong đó Thúy Cải đã có một vai diễn để đời. Cùng với việc đưa Đoàn đi biểu diễn phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách quốc tế xem, quan họ Bắc Ninh đã thực sự “sống lại” như lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám lúc bấy giờ.

Đã khẳng định mình thì phải gánh vác nhiệm vụ mới, năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà, Đoàn chính thức nhận kế hoạch biểu diễn phục vụ nhân dân hằng năm. Những buổi biểu diễn phục vụ quân và dân, máy phát điện được cải tiến từ máy bơm nước Ba Lan, phương tiện vận chuyển thì bằng xe cải tiến, xe bò, người kéo, xe đạp cá nhân… Buổi đầu tiên tại bãi chiếu bóng đồi Lim, đúng là trời vui, đất vui, nhân dân vui - một môn nghệ thuật được đưa lên sân khấu hoàn toàn mới mẻ. Anh chị em trong Đoàn ai nấy đều phấp phỏng lo âu về cái “vạn sự khởi đầu nan” này. Trong tâm trạng đan xen vui mừng, lo âu khó ai đo đếm, các đồng chí lãnh đạo còn lo gấp bội. Nhưng rồi phấn khởi bất ngờ. Mới chập tối điểm bán vé vừa lên đèn mà khán giả đã từ các ngả đường ùn ùn kéo đến. Vé bán không kịp, người dồn vào bãi mỗi lúc một đông, cửa xé vé ùn tắc, xé vé không kịp, chen chúc, cản không xong, rồi vỡ òa tháo khoán... Với Thúy Cải, việc khán giả ủng hộ cho đêm diễn thành công là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi.

Chuỗi ngày tươi sáng đang bừng chiếu thì đột nhiên xuất hiện nhiệm vụ mới. Thúy Cải và các nghệ sĩ lại hành quân lên biên giới phía bắc phục vụ các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Từng tốp, từng tốp hát “chay”, không có thiết bị, mưa rét vẫn hát. Mặc bom rơi, đạn nổ, tiếng hát, tiếng đàn của các nghệ sĩ vẫn nồng cháy, vút bay làm ấm lòng bao chiến sĩ. Những năm đầu của thập niên 80, nhiều chương trình thể nghiệm được dàn dựng như “Sự tích trầu cau”, “Đôi ngọc lưu ly”, “Chuyện tình Tiên Du”; các ca cảnh như “Khúc hát đảo xa”, “Khúc hát làng sông”. Các chương trình ca múa nhạc cùng với các chương trình quan họ truyền thống đã giới thiệu tới đông đảo khán giả trong và ngoài nước, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và lan tỏa di sản quan họ trong đời sống đương đại.

Vẫn đắm say trên con đường đã chọn

Nhiều người yêu quan họ đều nhận xét rằng nghe Thúy Cải hát một lần sẽ nhớ, nhớ rồi sẽ thích, thích rồi sẽ mê. Với bà, dù biểu diễn trên sân khấu đơn sơ nơi vùng sâu, vùng xa hay sân khấu sang trọng ở nước ngoài, dù biểu diễn cho những người dân lao động chân lấm tay bùn hay những chính khách thì cứ được hát quan họ là hạnh phúc biết bao. 50 năm trong nghề, ngoài giọng hát quan họ say đắm lòng người thì bà còn là vị lãnh đạo hết lòng vì công việc. 12 năm trên cương vị Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, Thúy Cải không chỉ nỗ lực để anh chị em trong Đoàn sống tốt bằng nghề mà còn cố gắng để quan họ đến được với nhiều vùng quê trong cả nước. Bà đã nhiều lần đi nói chuyện trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa ở các trường học để lớp trẻ hiểu và yêu quan họ cũng như văn hóa của người quan họ.

Có một công việc mà Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải cũng rất miệt mài, tâm huyết, đó là giảng dạy tại các cơ sở đào tạo quan họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang. Theo bà, một giọng hát quan họ hay thì phải vang, rền, nền, nảy, mà “nảy” trong quan họ rất quan trọng nhưng không phải ai cũng hát được. Muốn giọng hát “nảy” được thì thế hệ trẻ phải học hỏi rất nhiều, ngoài học trường lớp còn phải học các nghệ nhân ở các làng quan họ cổ cùng quá trình tập luyện kỳ công. Đặc biệt, bà rất quan tâm đến việc truyền tình yêu quan họ đến với các em nhỏ. Bởi theo bà, chính các em sẽ góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống của quê hương. Được biết, khoảng 10 năm trở lại đây, khi đã trở về quê nhà dưới chân núi Bất Lự (xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống, cứ mỗi chủ nhật bà lại đứng lớp dạy các em nhỏ hát quan họ. Những giá trị của làn điệu dân ca truyền thống từ bao đời nay là không thể phủ nhận vì thế những lớp học truyền khẩu như vậy dường như là biện pháp tốt nhất để có thể truyền thụ một cách rõ ràng, hiệu quả nhất những tinh hoa truyền thống.

Với những đóng góp không ngừng nghỉ cho dân ca quan họ nói riêng, cho âm nhạc truyền thống nói chung, bà đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2015. Thế nhưng, trò chuyện với tôi hôm nay, trong một buổi chiều đông 2019, bà lại bảo rằng: Danh hiệu ấy là rất quý nhưng quan trọng và hạnh phúc hơn là đi đến đâu người ta cũng biết đến bà và mong muốn được trực tiếp nghe bà hát.

Đạt được những thành công trong ngày hôm nay, bà vẫn luôn tâm niệm nếu không có chồng con thì mình không làm được gì hết. Học cùng nhau ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc rồi sau này công tác cùng Đoàn (chồng bà phụ trách âm thanh, ánh sáng), vợ chồng bà luôn kề vai sát cánh trong mọi hành trình. Ngoài làm việc ở Đoàn quan họ, bà còn tham gia HĐND tỉnh, là đại biểu Quốc hội khóa IX (1992-1997). Như vậy có nghĩa là công việc rất bận rộn, chồng bà đã tự nguyện lùi về phía sau, lo lắng, chăm sóc con cái, nhà cửa cho bà yên tâm công tác. Có lẽ vì vậy bà luôn cảm thấy may mắn vì có hậu phương vững chắc là gia đình. Vì thế, dù cho có những lúc thăng hoa trên sân khấu nhưng không bao giờ bà quên phép tắc gia phong và giữ gìn chính mình trong lề lối nghiêm ngặt của người quan họ. Bởi vậy, bà có một cuộc sống hạnh phúc, đầm ấm nhiều người mơ ước. Được biết, người con gái lớn của bà là chị Lê Ngọc Lương, hiện là Trưởng Phòng Nghệ thuật quần chúng, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh, cũng đang tiếp nối người mẹ của mình để lan tỏa dân ca quan họ nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.

Đến bây giờ mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng trong lòng bà vẫn còn canh cánh với ước mơ quan họ ngày nào. “Cái phải ghi nhớ đó là ai đã tạo ra và để lại cho người dân Bắc Ninh hôm nay nền văn hiến Kinh Bắc, trong đó có quan họ. Nhân dân biết trân trọng nền văn hiến của địa phương mà giữ gìn đến ngày nay, để Thúy Cải cùng bao nghệ sĩ khác được thừa hưởng hương thơm ấy, để rồi được vinh danh. 50 năm - nửa thế kỷ, dài mà ngắn. Dài ngắn đâu kể, mà là kể cái ta được thừa hưởng hương thơm của dân ca quan họ; ngược lại chúng ta tri ân được bao nhiêu cho sự trường tồn của dân ca quan họ, ấy mới là điều cần gắng sức. Các bạn trẻ hãy vì nghệ thuật mà lao động, sáng tạo để xứng đáng với những giá trị văn hóa quan họ mà người xưa để lại, xứng với miền quê văn hiến mà mình đã sinh ra. Nay thế hệ đi trước đang bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” muốn vương vấn với quan họ mà lực bất tòng tâm. Tương lai trên con đường gìn giữ và phát triển dân ca quan họ nhờ cậy cả vào thế hệ hôm nay. Những mong các bạn hãy đem loại hình nghệ thuật hát dân ca quan họ Bắc Ninh hòa vào cuộc sống bằng tâm huyết thực sự và tài năng sáng tạo của thời đại mới. Như vậy dân ca quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa”, Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải nghẹn ngào chia sẻ.

Kỳ lạ thay cuộc đời của một người nghệ sĩ với gần 70 năm tuổi đời, 35 tuổi đảng, 50 năm gắn bó, sắt son với quan họ nhưng nét duyên quan họ vẫn còn nguyên, cả thanh và sắc vẫn giữ được bền, chỉ chín chắn hơn, đằm thắm hơn và sâu nặng nghĩa tình hơn mà thôi. Có lẽ vì thế mà người bạn diễn suốt nửa thế kỷ của bà là Nghệ sĩ Ưu tú Quý Tráng từng nhận xét rằng: “Quan họ sinh ra để dành cho Thúy Cải như một bông hoa nguyên chất không cần cấy ghép”.

Bài và ảnh Ngô Đăng Khoa

Tin liên quan

Tin mới hơn

Đại Đồng đổi mới nghề đúc đồng và nâng tầm làng nghề truyền thống

Đại Đồng đổi mới nghề đúc đồng và nâng tầm làng nghề truyền thống

LNV - Phát huy giá trị nghề đúc đồng truyền thống gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ và liên kết sản xuất, xã Đại Đồng (Hưng Yên) đã từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm đúc đồng trên thị trường. Sự đổi mới trong tư duy sản xuất, tiêu thụ không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo việc làm ổn định, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Làng nghề Hà Nội 2026: Bảo tồn truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn

Làng nghề Hà Nội 2026: Bảo tồn truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn

LNV - Hà Nội hiện là nơi có số lượng làng nghề và làng có nghề lớn nhất cả nước, với hệ thống làng nghề đa dạng, phong phú, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống và tạo việc làm cho người dân nông thôn. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế sâu rộng, việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển làng nghề đang được Hà Nội chú trọng bằng các chính sách mang tầm chiến lược, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.
Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên – Gìn giữ truyền thống, lan tỏa giá trị làng nghề Thủ đô

Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên – Gìn giữ truyền thống, lan tỏa giá trị làng nghề Thủ đô

LNV - Trong không khí phấn khởi chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Lễ khai mạc Lễ hội “Tinh hoa nghệ thuật quất cảnh Tứ Liên” đã được long trọng tổ chức tại phường Hồng Hà (Hà Nội). Sự kiện là hoạt động văn hóa – kinh tế tiêu biểu, góp phần tôn vinh giá trị truyền thống, quảng bá thương hiệu quất cảnh Tứ Liên – một làng nghề đặc trưng lâu đời của Thăng Long – Hà Nội.
Làng nghề cá khô Bình Thắng

Làng nghề cá khô Bình Thắng

LNV - Được hình thành từ nhu cầu bảo quản hải sản của ngư dân ven biển, làng nghề cá khô Bình Thắng không chỉ tạo việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn lưu giữ giá trị văn hóa truyền thống. Trước yêu cầu mới của thị trường, địa phương đang từng bước hỗ trợ các cơ sở nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra cho sản phẩm cá khô.
Mở đường cho làng nghề Hà Nội vươn xa

Mở đường cho làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Hà Nội là địa phương có số lượng làng nghề và làng có nghề thuộc nhóm lớn nhất cả nước, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và gìn giữ bản sắc văn hóa Thủ đô. Trong bối cảnh khu vực làng nghề vẫn đối mặt nhiều khó khăn,Nghị quyết 49 được kỳ vọng sẽ tạo cú hích chính sách mạnh mẽ, hiện thực hóa các định hướng của Luật Thủ đô sửa đổi, mở ra dư địa phát triển bền vững cho làng nghề và ngành nghề nông thôn.
Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

Làng nghề bánh đa Dụ Đại tất bật “chạy đua” đơn hàng Tết

LNV - Những ngày giáp Tết Nguyên đán, làng nghề bánh đa Dụ Đại (xã Quỳnh An) rộn ràng tiếng máy, đỏ lửa suốt ngày đêm để kịp phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, vừa giữ gìn hương vị truyền thống từ hạt gạo quê, vừa tạo sinh kế bền vững cho hàng trăm lao động nông thôn.

Tin khác

Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

Hà Nội phê duyệt quy hoạch bảo tồn, phát triển làng lụa Vạn Phúc gắn với du lịch

LNV - UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc. Quy hoạch nhằm bảo tồn không gian làng nghề truyền thống, phát huy giá trị văn hóa lịch sử của nghề dệt lụa, đồng thời tạo nền tảng phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống người dân địa phương.
Gốm Ngọc Phù Lãng:  Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

Gốm Ngọc Phù Lãng: Linh vật “Ngựa hoan hỉ” thổi sinh khí mới cho Tết cổ truyền 2026

LNV - Từ nguồn đất đỏ quý của vùng Cung Kiệm, qua bàn tay sáng tạo của thế hệ nghệ nhân trẻ, cơ sở Gốm Ngọc Phù Lãng (Bắc Ninh) đang thổi một diện mạo mới cho gốm truyền thống Kinh Bắc. Đón Tết cổ truyền 2026, đơn vị đã ra mắt linh vật “Ngựa hoan hỉ” cùng nhiều dòng sản phẩm sinh thái, kết hợp giữa tinh hoa thủ công và triết lý văn hóa Việt.
Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

Hải Gốm: Giữ nghề bằng đam mê, làm nghề bằng sáng tạo

LNV - Giữa làn sóng đô thị hóa và sự cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường hiện đại, nghề gốm truyền thống vẫn âm thầm tồn tại và chuyển mình nhờ những người trẻ dám dấn thân, dám đổi mới và kiên trì với giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Trong số đó, hành trình của họa sĩ thiết kế Hải Gốm – Nguyễn Văn Hải, người sáng lập thương hiệu Hceramic, là một lát cắt sinh động về cách thế hệ trẻ đang viết tiếp câu chuyện làng nghề bằng tinh thần sáng tạo, khoa học và trách nhiệm xã hội.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Tấn Phát và khát vọng hồi sinh nghề sơn mài

LNV - Năm 2025, danh hiệu Nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng cho Nguyễn Tấn Phát đã để lại nhiều xúc động trong giới thủ công mỹ nghệ. Không chỉ bởi những cống hiến bền bỉ với nghề sơn mài, mà còn bởi anh là nghệ nhân ưu tú trẻ nhất được vinh danh trong đợt phong tặng này – một dấu mốc cho thấy sự tiếp nối đầy triển vọng của các làng nghề truyền thống Việt Nam.
“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

“Xanh hóa” làng nghề: Hà Nội chuyển mình vì môi trường và tương lai

LNV - Hà Nội đang đẩy mạnh “xanh hóa” các làng nghề truyền thống thông qua quy hoạch đồng bộ, ứng dụng công nghệ sạch, hoàn thiện chính sách và nâng cao ý thức cộng đồng.
Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

Quảng Ngãi: Các làng nghề sôi động chuẩn bị Tết với đa dạng sản phẩm truyền thống

LNV - Làng nghề sản xuất bánh tráng, nước mắm, mộc mỹ nghệ rộn ràng đón Tết, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người dân.
Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới rộn ràng sắc xuân

LNV - Làng nghề cúc mâm xôi Long Thới nay thuộc xã Chợ Lách (tỉnh Vĩnh Long), vào những ngày này, nhiều luống hoa mới hé nở, khoe điểm sắc vàng lấm tấm khiến nhà vườn càng nôn nao, khấp khởi đón chờ vụ hoa cúc Tết.
Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

Làng nghề đường phèn đỏ lửa suốt trăm năm ở Quảng Ngãi

LNV - Làng nghề đường phèn ở Ba La - Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng.
Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

Làng nghề hoa giấy Phù Đổng phát triển bền vững

LNV - Làng nghề hoa giấy Phù Đổng bắt đầu từ những năm 2010, khi xã được chọn là địa phương điểm xây dựng nông thôn mới. Nhận thấy tiềm năng của đất đai và khí hậu, người dân Phù Đổng đã chọn hoa giấy làm cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, con đường phát triển của làng nghề không hề bằng phẳng.
Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm

LNV - Trong những ngày cuối năm, làng nghề đúc đồng Đại Bái (xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) sôi động, đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu Tết và giữ gìn truyền thống lâu đời.
Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

LNV - Dù còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2026 nhưng không khí sản xuất tại làng nghề bánh tráng Thuận Hưng (TP Cần Thơ) đã trở nên tất bật. Các hộ làm nghề tăng ca liên tục để kịp những đơn hàng Tết được đặt sớm từ khắp nơi
Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (2005 - 2025) và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân lần thứ XII. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã phát biểu trong Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Tạp chí Làng nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài phát biểu của ông.
Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

LNV - Từ thuở con người biết lấy đất nặn hình, nung trong lửa để tạo nên vật dụng, gốm đã trở thành chứng nhân của nền văn minh Việt. Qua hàng nghìn năm, từ bàn tay khéo léo của người thợ, từ lò gốm thô sơ nơi làng quê đến những xưởng hiện đại hôm nay, nghề gốm Việt vẫn bền bỉ giữ hồn đất, hồn người qua từng thớ men, từng đường nét tinh xảo.
Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

LNV - Chiều ngày 08/01/2026 tại Nhà văn hoá xã Phù Lãng (Bắc Ninh), UBND xã Phù Lãng phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Hội nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”, xét đặc cách cho 03 nghệ nhân tiêu biểu, không chỉ là sự ghi nhận tài năng cá nhân mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của một dòng gốm di sản vùng Kinh Bắc.
Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

LNV - Tiên Kiều từng được mệnh danh là “thủ phủ” chiếu cói của vùng đồng chiêm trũng của xã Hà Đông (thành phố Hải Phòng) nhưng nay đã mai một. Từ việc cả làng làm chiếu cói, nay chỉ còn vài hộ. Trong sâu thẳm của những người còn giữ nghề, mỗi tấm chiếu như một sản phẩm tinh thần gắn trọn cuộc đời với họ, không dễ gì phôi pha dù giờ đây khung dệt không còn nhiều.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đảm bảo an toàn PCCC khi thắp hương thờ cúng dịp Lễ tết

Đảm bảo an toàn PCCC khi thắp hương thờ cúng dịp Lễ tết

LNV - Thờ cúng tổ tiên là nét đẹp tâm linh truyền thống của mọi gia đình Việt. Đi kèm với đó là thói quen thắp hương, đốt vàng mã vào các ngày ngày lễ, Tết, mùng một, ngày rằm. Tuy nhiên, thắp hương, đốt vàng mã không bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy
Xây dựng vùng liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Sóc Sơn

Xây dựng vùng liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Sóc Sơn

LNV - Trong những năm gần đây, phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ gắn với liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị đang trở thành xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng. Tại xã Sóc Sơn (Hà Nộ
Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường

...Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm trao đổi, thảo luận về các định hướng nghiên cứu khoa học, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
Lễ hội Cướp Kén – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của cộng đồng Dị Nậu xưa

Lễ hội Cướp Kén – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của cộng đồng Dị Nậu xưa

LNV - Lễ hội truyền thống “Cướp Kén” của Nhân dân Dị Nậu xưa (nay thuộc xã Thọ Văn, tỉnh Phú Thọ), là một sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo, mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng nông nghiệp và văn hóa phồn thực.
Mùa xuân trên công trường đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát mang sức bật chiến lược của tỉnh Gia Lai

Mùa xuân trên công trường đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát mang sức bật chiến lược của tỉnh Gia Lai

LNV - Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, khi nhiều công trình bước vào giai đoạn hoàn thiện để tạm nghỉ, thì trên đại công trường xây dựng đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát, không khí lao động vẫn hối hả, khẩn trương.
Giao diện di động