Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 31°C Thừa Thiên Huế

Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải: “Được hát quan họ hạnh phúc biết bao

LNV - Nói đến Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải, nguyên Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, đại biểu Quốc hội khóa IX, trước hết phải nói đến cái duyên quan họ. Mảnh đất Kinh Bắc đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ quan họ nhưng để khán giả yêu, khán giả nhớ về một người “có cái duyên quan họ” thì không phải ai cũng may mắn như bà.
66 tuổi, bà đã có 50 năm hát dân ca và cống hiến cho sân khấu quan họ chuyên nghiệp. Có thể nói bà là kết tinh của nhiều vẻ đẹp, chỉ cần khoác trên mình bộ trang phục liền chị, chít chiếc khăn mỏ quạ, khán giả đã thấy ở bà toát ra những nét duyên quan họ đằm thắm, duyên từ giọng nói, miệng cười, duyên từ ánh mắt, dáng đi và hơn hết bà có cái duyên ngay ở chính giọng hát của mình.

Những năm tháng không thể quên

Sinh ra ở xã Phật Tích (nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngay từ những năm lên 6, Thúy Cải đã được người mẹ, vốn là người làng Ném Đoài, một trong những làng quan họ cổ, dạy hát những bài quan họ giọng vặt như: “Khách đến chơi nhà”, “Cây trúc xinh”, “Người ở đừng về”, “Ba sáu thứ chim”, “Lý Thiên Thai”... Hơn nữa, lại được sống trong một không gian làng quê đậm đà bản sắc với những câu hát quan họ khiến cô bé Cải ngày càng yêu thích và mong muốn được gắn cuộc đời mình với quan họ.

Tháng 5-1969, nghệ nhân Nguyễn Đức Siêu, sau là Trưởng đoàn đầu tiên của Đoàn Dân ca quan họ Hà Bắc có ý định chọn cô Canh, là chị gái của cô Cải vào Đội ca hát quan họ (lúc này chưa thành lập đoàn) vì nhan sắc có phần trội hơn. Thế nhưng, bà cụ thân sinh với kinh nghiệm của mình đã từ chối và kiên quyết cho cô em đi, vì theo bà “nhất thanh, nhì sắc”. Hơn nữa, bà thấy cô Cải có tố chất quan trọng của người hát, đó là “trường cổ đại thanh”. Đây chính là bước ngoặt trong cuộc đời của cô bé 16 tuổi.


NSND Thúy Cải với tiếng hát quan họ đi vào lòng đông đảo công chúng.


Thúy Cải là người thứ 9 được tuyển vào Đội ca hát quan họ. Nói là ca hát quan họ nhưng nhiệm vụ chính là sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và giới thiệu dân ca quan họ. Thúy Cải và các học viên nhập cuộc với bài hát “La rằng” (bài lề lối): “Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà/ Hôm nay họp mặt giao hòa/ Nguyện xin nguyệt lão giăng già se duyên”. Lời có vậy mà cứ i a ư hự, học gần một tháng mà bẻ câu chưa thành.

Cuối năm 1969, cán bộ, diễn viên, nhạc công đã lên đến con số 30 người. Nơi tạm trú của Đội quan họ tại thôn Tĩnh Lộc, sau chuyển sang làng Lai (xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ngoài học hát những bài quan họ cổ do nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi truyền dạy, diễn viên và nhạc công được học các môn lý luận cơ bản tại Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc. Ban đầu biết bao khó khăn, thiếu thốn như cơm phải đựng vào chậu đóng bằng gỗ, ăn tập trên sân kho đầm vôi cát, mỗi khi có cơn gió đi qua thì bụi bay mù mịt. Nhưng rồi khó khăn cũng qua, với một năm vừa học tập, vừa xây dựng tổ chức đơn vị, Đoàn dân ca quan họ Hà Bắc chính thức hình thành.

Kịch mục đầu tiên là ca cảnh “Cây sáo trúc” của tác giả Đào Thiệm cơ bản đã dựng xong. Tuy nhiên, dân ca quan họ là một thể loại ca hát trữ tình, với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn lúc bấy giờ xem chừng chưa phù hợp. Vậy là Đoàn chuyển sang dựng các ca cảnh “Ngày hội năm xưa”, “Vào chùa”, “ Ông cháu”, “Giã bạn”… Đó là các ca cảnh quan họ được gom lại từ những nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của quan họ rồi đưa lên sân khấu, sau gộp cả lại mang tựa đề “Quan họ ngày hội”.

Tháng 10-1970, Đoàn chuyển về xóm Chinh, làng Lũng Giang, xã Vân Tương, huyện Tiên Sơn (nay là huyện Tiên Du). Với phương châm bám vùng quan họ gốc để thực hiện nhiệm vụ sưu tầm các làn điệu, văn bản lời ca và lề lối sinh hoạt văn hóa quan họ… Còn về học hát quan họ cổ, hằng ngày diễn viên và nhạc công theo các nghệ nhân làm lụng ngoài đồng hay dọn dẹp ở nhà, tối đến mới có cơi trầu đến kính các bậc nghệ nhân xin được truyền lại cho những làn điệu, lời ca hay đôi ba câu đối đáp trước canh hát. Chuyện học hát những câu quan họ cổ dần dần đã có phần quen, nhưng lúc bấy giờ ở vùng quan họ mấy ai hát quan họ cổ (!), chỉ có đôi ba làn điệu được đặt lời mới phục vụ chính trị nên thường gọi là “Quan họ đài”, còn quan họ truyền thống gần như bị lãng quên. Hơn nữa, tại thời điểm đó nước nhà chưa thống nhất, kinh tế còn rất khó khăn, ai cũng lo làm lo ăn có nghĩ đâu đến việc ca hát.


Dân ca Quan họ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


“Mấy anh trai làng nghe chúng tôi học hát, cứ bảo chúng tôi học khấn tiên sư… Cũng buồn. Nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ nên việc học, việc sưu tầm và xây dựng chương trình biểu diễn vẫn cứ tiếp diễn trong nhiều tháng” - Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải bồi hồi nhớ lại. Guồng máy đang có đà thì trận lụt lớn năm 1971 ập tới, cả vùng quan họ chìm trong biển nước, công tác phục vụ bão lụt lại đặt lên hàng đầu, lại chia năm xẻ bảy về từng xóm, thôn cùng bà con khắc phục hậu quả bão lụt. Cũng từ đây hai ca cảnh “Khóm trúc bên sông” và “Đống rạ ải” đã ra đời. Sau trận lụt, khó khăn vẫn chưa hết, Nhà nước phát động cán bộ, viên chức tự túc một phần lương thực. Chúng tôi về núi Hiểu, xã Quang Châu (nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) xin ruộng cày cấy. Ruộng chiêm trũng cấy gặt nước đều ngập tới thắt lưng, vị nào sợ đỉa thì khổ biết chừng nào. Yên ổn với những nhiệm vụ bất thường, công việc sưu tầm, xây dựng chương trình biểu diễn lại chóng mặt. “Đón bạn ngày xuân” là chương trình quan họ truyền thống thứ hai, mô phỏng cảnh liền anh, liền chị các làng quan họ luyện hát, sắm sửa chuẩn bị cho việc đón bạn kết nghĩa của mình khi mùa xuân tới”.

“Có công mài sắt có ngày nên kim”, sau khi kết thúc khóa học, Thúy Cải và các học viên đã sưu tầm và hát được hơn 200 làn điệu quan họ với hơn 500 bài ca quan họ. Trong đó có hàng trăm bài quan họ gốc thể hiện rõ những giá trị đặc trưng của loại hình dân ca đặc sắc phổ biến ở vùng quê Kinh Bắc cùng những lề lối sinh hoạt truyền thống. Các chương trình biểu diễn của Đoàn được các diễn viên, nhạc công thể hiện khá thuần thục. Sau đó, Đoàn có hai đợt biểu diễn báo cáo Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu cùng cán bộ, nhân dân Thủ đô một cách thành công, khẳng định và gợi ra một tầm nhìn đúng đắn về dân ca quan họ nói riêng, nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung. Đó là năm 1974. Cũng từ đấy biết bao đoàn khách trong và ngoài nước đã về Bắc Ninh nghe hát dân ca quan họ và đặc biệt là tìm hiểu về hát canh trong quan họ. Cũng năm ấy là cái mốc đánh dấu sự hồi sinh của dân ca quan họ, bởi đó là năm người dân miền Bắc xem bộ phim “Đến hẹn lại lên” mà trong đó Thúy Cải đã có một vai diễn để đời. Cùng với việc đưa Đoàn đi biểu diễn phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách quốc tế xem, quan họ Bắc Ninh đã thực sự “sống lại” như lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám lúc bấy giờ.

Đã khẳng định mình thì phải gánh vác nhiệm vụ mới, năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà, Đoàn chính thức nhận kế hoạch biểu diễn phục vụ nhân dân hằng năm. Những buổi biểu diễn phục vụ quân và dân, máy phát điện được cải tiến từ máy bơm nước Ba Lan, phương tiện vận chuyển thì bằng xe cải tiến, xe bò, người kéo, xe đạp cá nhân… Buổi đầu tiên tại bãi chiếu bóng đồi Lim, đúng là trời vui, đất vui, nhân dân vui - một môn nghệ thuật được đưa lên sân khấu hoàn toàn mới mẻ. Anh chị em trong Đoàn ai nấy đều phấp phỏng lo âu về cái “vạn sự khởi đầu nan” này. Trong tâm trạng đan xen vui mừng, lo âu khó ai đo đếm, các đồng chí lãnh đạo còn lo gấp bội. Nhưng rồi phấn khởi bất ngờ. Mới chập tối điểm bán vé vừa lên đèn mà khán giả đã từ các ngả đường ùn ùn kéo đến. Vé bán không kịp, người dồn vào bãi mỗi lúc một đông, cửa xé vé ùn tắc, xé vé không kịp, chen chúc, cản không xong, rồi vỡ òa tháo khoán... Với Thúy Cải, việc khán giả ủng hộ cho đêm diễn thành công là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi.

Chuỗi ngày tươi sáng đang bừng chiếu thì đột nhiên xuất hiện nhiệm vụ mới. Thúy Cải và các nghệ sĩ lại hành quân lên biên giới phía bắc phục vụ các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Từng tốp, từng tốp hát “chay”, không có thiết bị, mưa rét vẫn hát. Mặc bom rơi, đạn nổ, tiếng hát, tiếng đàn của các nghệ sĩ vẫn nồng cháy, vút bay làm ấm lòng bao chiến sĩ. Những năm đầu của thập niên 80, nhiều chương trình thể nghiệm được dàn dựng như “Sự tích trầu cau”, “Đôi ngọc lưu ly”, “Chuyện tình Tiên Du”; các ca cảnh như “Khúc hát đảo xa”, “Khúc hát làng sông”. Các chương trình ca múa nhạc cùng với các chương trình quan họ truyền thống đã giới thiệu tới đông đảo khán giả trong và ngoài nước, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và lan tỏa di sản quan họ trong đời sống đương đại.

Vẫn đắm say trên con đường đã chọn

Nhiều người yêu quan họ đều nhận xét rằng nghe Thúy Cải hát một lần sẽ nhớ, nhớ rồi sẽ thích, thích rồi sẽ mê. Với bà, dù biểu diễn trên sân khấu đơn sơ nơi vùng sâu, vùng xa hay sân khấu sang trọng ở nước ngoài, dù biểu diễn cho những người dân lao động chân lấm tay bùn hay những chính khách thì cứ được hát quan họ là hạnh phúc biết bao. 50 năm trong nghề, ngoài giọng hát quan họ say đắm lòng người thì bà còn là vị lãnh đạo hết lòng vì công việc. 12 năm trên cương vị Trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh, Thúy Cải không chỉ nỗ lực để anh chị em trong Đoàn sống tốt bằng nghề mà còn cố gắng để quan họ đến được với nhiều vùng quê trong cả nước. Bà đã nhiều lần đi nói chuyện trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa ở các trường học để lớp trẻ hiểu và yêu quan họ cũng như văn hóa của người quan họ.

Có một công việc mà Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải cũng rất miệt mài, tâm huyết, đó là giảng dạy tại các cơ sở đào tạo quan họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang. Theo bà, một giọng hát quan họ hay thì phải vang, rền, nền, nảy, mà “nảy” trong quan họ rất quan trọng nhưng không phải ai cũng hát được. Muốn giọng hát “nảy” được thì thế hệ trẻ phải học hỏi rất nhiều, ngoài học trường lớp còn phải học các nghệ nhân ở các làng quan họ cổ cùng quá trình tập luyện kỳ công. Đặc biệt, bà rất quan tâm đến việc truyền tình yêu quan họ đến với các em nhỏ. Bởi theo bà, chính các em sẽ góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống của quê hương. Được biết, khoảng 10 năm trở lại đây, khi đã trở về quê nhà dưới chân núi Bất Lự (xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống, cứ mỗi chủ nhật bà lại đứng lớp dạy các em nhỏ hát quan họ. Những giá trị của làn điệu dân ca truyền thống từ bao đời nay là không thể phủ nhận vì thế những lớp học truyền khẩu như vậy dường như là biện pháp tốt nhất để có thể truyền thụ một cách rõ ràng, hiệu quả nhất những tinh hoa truyền thống.

Với những đóng góp không ngừng nghỉ cho dân ca quan họ nói riêng, cho âm nhạc truyền thống nói chung, bà đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2015. Thế nhưng, trò chuyện với tôi hôm nay, trong một buổi chiều đông 2019, bà lại bảo rằng: Danh hiệu ấy là rất quý nhưng quan trọng và hạnh phúc hơn là đi đến đâu người ta cũng biết đến bà và mong muốn được trực tiếp nghe bà hát.

Đạt được những thành công trong ngày hôm nay, bà vẫn luôn tâm niệm nếu không có chồng con thì mình không làm được gì hết. Học cùng nhau ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Hà Bắc rồi sau này công tác cùng Đoàn (chồng bà phụ trách âm thanh, ánh sáng), vợ chồng bà luôn kề vai sát cánh trong mọi hành trình. Ngoài làm việc ở Đoàn quan họ, bà còn tham gia HĐND tỉnh, là đại biểu Quốc hội khóa IX (1992-1997). Như vậy có nghĩa là công việc rất bận rộn, chồng bà đã tự nguyện lùi về phía sau, lo lắng, chăm sóc con cái, nhà cửa cho bà yên tâm công tác. Có lẽ vì vậy bà luôn cảm thấy may mắn vì có hậu phương vững chắc là gia đình. Vì thế, dù cho có những lúc thăng hoa trên sân khấu nhưng không bao giờ bà quên phép tắc gia phong và giữ gìn chính mình trong lề lối nghiêm ngặt của người quan họ. Bởi vậy, bà có một cuộc sống hạnh phúc, đầm ấm nhiều người mơ ước. Được biết, người con gái lớn của bà là chị Lê Ngọc Lương, hiện là Trưởng Phòng Nghệ thuật quần chúng, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh, cũng đang tiếp nối người mẹ của mình để lan tỏa dân ca quan họ nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.

Đến bây giờ mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng trong lòng bà vẫn còn canh cánh với ước mơ quan họ ngày nào. “Cái phải ghi nhớ đó là ai đã tạo ra và để lại cho người dân Bắc Ninh hôm nay nền văn hiến Kinh Bắc, trong đó có quan họ. Nhân dân biết trân trọng nền văn hiến của địa phương mà giữ gìn đến ngày nay, để Thúy Cải cùng bao nghệ sĩ khác được thừa hưởng hương thơm ấy, để rồi được vinh danh. 50 năm - nửa thế kỷ, dài mà ngắn. Dài ngắn đâu kể, mà là kể cái ta được thừa hưởng hương thơm của dân ca quan họ; ngược lại chúng ta tri ân được bao nhiêu cho sự trường tồn của dân ca quan họ, ấy mới là điều cần gắng sức. Các bạn trẻ hãy vì nghệ thuật mà lao động, sáng tạo để xứng đáng với những giá trị văn hóa quan họ mà người xưa để lại, xứng với miền quê văn hiến mà mình đã sinh ra. Nay thế hệ đi trước đang bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” muốn vương vấn với quan họ mà lực bất tòng tâm. Tương lai trên con đường gìn giữ và phát triển dân ca quan họ nhờ cậy cả vào thế hệ hôm nay. Những mong các bạn hãy đem loại hình nghệ thuật hát dân ca quan họ Bắc Ninh hòa vào cuộc sống bằng tâm huyết thực sự và tài năng sáng tạo của thời đại mới. Như vậy dân ca quan họ Bắc Ninh sẽ mãi mãi trường tồn và lan tỏa”, Nghệ sĩ Nhân dân Thúy Cải nghẹn ngào chia sẻ.

Kỳ lạ thay cuộc đời của một người nghệ sĩ với gần 70 năm tuổi đời, 35 tuổi đảng, 50 năm gắn bó, sắt son với quan họ nhưng nét duyên quan họ vẫn còn nguyên, cả thanh và sắc vẫn giữ được bền, chỉ chín chắn hơn, đằm thắm hơn và sâu nặng nghĩa tình hơn mà thôi. Có lẽ vì thế mà người bạn diễn suốt nửa thế kỷ của bà là Nghệ sĩ Ưu tú Quý Tráng từng nhận xét rằng: “Quan họ sinh ra để dành cho Thúy Cải như một bông hoa nguyên chất không cần cấy ghép”.

Bài và ảnh Ngô Đăng Khoa

Tin liên quan

Tin mới hơn

Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

LNV - Giữa núi non hùng vĩ của Si Ma Cai (Lào Cai), làng nghề nấu rượu ngô ở thôn Mù Tráng Phìn từ lâu đã trở thành điểm nhấn văn hóa – ẩm thực đặc sắc. Từ hạt ngô trên nương và nguồn nước suối tinh khiết, người Mông nơi đây đã tạo nên thứ rượu thơm nồng, đậm đà, không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn lưu giữ bản sắc truyền thống của cộng đồng.
Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

LNV - Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, Phú Thọ hiện có hơn 110 làng nghề được công nhận, mang lại doanh thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm và tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Đây không chỉ là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn mà còn là động lực để địa phương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh mới.
Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

LNV- Giữa tháng Ba, chúng tôi có mặt tại xã đảo Tam Hải (TP. Đà Nẵng). Trưa nắng trải dài trên bãi cát vàng óng. Gió biển thổi nhẹ, luồn qua những rặng dừa xanh rì rào. Khung cảnh mở ra bình yên, mộc mạc. Một vùng đảo nhỏ nhưng mang vẻ đẹp riêng, khó trộn lẫn.
Làng sơn mài Tương Bình Hiệp: Tinh hoa thủ công giữa nhịp sống đô thị

Làng sơn mài Tương Bình Hiệp: Tinh hoa thủ công giữa nhịp sống đô thị

LNV - Từng được biết đến là một trong những cái nôi của nghề sơn mài Nam Bộ, làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp (phường Chánh Hiệp, TP Hồ Chí Minh) không chỉ lưu giữ những giá trị thủ công truyền thống lâu đời mà còn đang nỗ lực thích ứng với nhịp sống hiện đại để tiếp tục phát triển.
Làng dệt khăn choàng Long Khánh: Gìn giữ nghề truyền thống, mở hướng phát triển mới

Làng dệt khăn choàng Long Khánh: Gìn giữ nghề truyền thống, mở hướng phát triển mới

LNV - Làng nghề dệt khăn choàng Long Khánh (Đồng Tháp) đang từng bước khẳng định vị thế không chỉ bằng giá trị truyền thống lâu đời mà còn nhờ sự thích ứng linh hoạt với thị trường hiện đại. Từ những khung dệt thủ công, sản phẩm khăn choàng nơi đây đã vươn ra nhiều thị trường, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.
Bộ phim Ngược đường ngược nắng:  Câu chuyện  về hành trình giữ nghề hương truyền thống

Bộ phim Ngược đường ngược nắng: Câu chuyện về hành trình giữ nghề hương truyền thống

LNV - Bộ phim “Ngược đường ngược nắng” đang chiếu trên truyền hình VTV, khắc họa đời sống làng nghề hương, đan xen câu chuyện tình yêu và khát vọng gìn giữ, đổi mới nghề truyền thống trong bối cảnh hiện đại

Tin khác

Nghề ươm cây giống cây ăn quả và cây cảnh tại Hưng Yên

Nghề ươm cây giống cây ăn quả và cây cảnh tại Hưng Yên

LNV - Người dân các xã như Châu Ninh, Tiên Hưng (tỉnh Hưng Yên) tận dụng đất trống, kỹ thuật cao để phát triển nghề ươm cây, đáp ứng thị trường trong và ngoài nước.
Nón lá Trường Văn Mạch ngầm văn hóa và khát vọng sinh kế bền vững

Nón lá Trường Văn Mạch ngầm văn hóa và khát vọng sinh kế bền vững

Giữa dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, làng nghề nón lá Trường Giang (nay là xã Trường Văn, Thanh Hóa) vẫn bền bỉ tồn tại. Thu nhập không cao, nhưng nghề thủ công đang níu giữ sinh kế cho hàng nghìn lao động nông thôn
Nghệ An: Cá trích nướng Hải Châu thu hút du khách

Nghệ An: Cá trích nướng Hải Châu thu hút du khách

LNV - Món cá trích nướng tươi ngon, bình dân từ vùng biển Nghệ An trở thành điểm hẹn ẩm thực hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách và giới trẻ.
Những người giữ lửa làng nghề truyền thống giữa cơn lốc đô thị hóa

Những người giữ lửa làng nghề truyền thống giữa cơn lốc đô thị hóa

LNV - Các nghệ nhân làng nghề truyền thống như dệt lụa tơ sen, guốc mộc, đàn đàn, rèn… đang nỗ lực truyền nghề để giữ gìn nét đẹp văn hóa xưa cũ.
Thái Nguyên: Trao quyết định công nhận Làng nghề Chè Shan Tuyết

Thái Nguyên: Trao quyết định công nhận Làng nghề Chè Shan Tuyết

LNV- Ngày 26/3, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên tổ chức công bố quyết định công nhận làng nghề chè Shan tuyết Bằng Phúc, một trong những vùng thuộc"ngũ đại danh trà" của tỉnh
Vị thế của làng nghề  trong cấu trúc kinh tế hiện đại

Vị thế của làng nghề trong cấu trúc kinh tế hiện đại

Làng nghề truyền thống Việt Nam từ lâu đã không còn đơn thuần là không gian sản xuất hàng hóa mà là một “bảo tàng sống”, nơi lưu giữ tri thức bản địa và bản sắc dân tộc.
Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

LNV - Tối 27/3, tại Quảng trường 3/2 (phường Bắc Giang), tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; công bố Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản văn hóa thế giới; khai mạc Festival “Về miền di sản Bắc Ninh - 2026”
Hơi thở làng nghề giữa không gian Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Hơi thở làng nghề giữa không gian Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

LNV - Nằm trên phố Nguyễn Thái Học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không chỉ trưng bày các tác phẩm mỹ thuật mà còn lưu giữ tinh hoa làng nghề truyền thống. Từ lớp sơn mài óng ánh đến những chi tiết điêu khắc gỗ tinh xảo, từng tác phẩm đều phản ánh kỹ thuật, sự khéo léo và tâm huyết của các nghệ nhân, mang đến cái nhìn đầy đủ về giá trị văn hóa và mỹ thuật Việt Nam.
Cao khô Vạn Linh - Làng nghề truyền thống mở lối làm du lịch

Cao khô Vạn Linh - Làng nghề truyền thống mở lối làm du lịch

LNV - Từ một làng nghề truyền thống của đồng bào Nùng, Vạn Linh (Lạng Sơn) đang từng bước chuyển mình khi đưa sản xuất cao khô gắn với phát triển du lịch trải nghiệm. Hướng đi này không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn mở ra mô hình phát triển mới, kết nối làng nghề với không gian Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.
Ra mắt ban vận động CLB Doanh Nhân Họ Nguyễn Tp. Hồ Chí Minh

Ra mắt ban vận động CLB Doanh Nhân Họ Nguyễn Tp. Hồ Chí Minh

LNV - Sáng ngày 31/03/2026, trong không gian trang trọng tại Bảo tàng – Siêu thị Đá quý Thiên Vạn (TP.HCM), Ban vận động thành lập Câu lạc bộ (CLB) Doanh nhân họ Nguyễn TP. Hồ Chí Minh đã chính thức ra mắt.
Quốc tửu Bàu Đá: Từ làng nghề trăm tuổi đến sản phẩm OCOP trứ danh

Quốc tửu Bàu Đá: Từ làng nghề trăm tuổi đến sản phẩm OCOP trứ danh

LNV - Giữa núi rừng An Nhơn Tây, nghề nấu rượu Bàu Đá vẫn âm thầm lưu giữ bí quyết thủ công truyền đời. Không máy móc hiện đại, không sản xuất đại trà, từng giọt rượu đều được hun đúc từ nguồn nước tinh khiết, men lá gia truyền và ngọn lửa liu riu suốt nhiều giờ liền. Chính sự tỉ mỉ này đã tạo nên hương vị trứ danh, làm say lòng người suốt hơn 200 năm qua.
Lễ hội làng gốm Bát Tràng tiếp nối sứ mệnh gìn giữ văn hóa làng cổ

Lễ hội làng gốm Bát Tràng tiếp nối sứ mệnh gìn giữ văn hóa làng cổ

LNV - Sáng 31/3, tiếng trống khai mạc Lễ hội truyền thống làng gốm Bát Tràng chính thức vang lên, mở ra không gian mang đậm dấu ấn văn hóa di sản dân tộc

'Xanh hóa' làng nghề

LNV - Theo thời gian, làng nghề Thủ đô không chỉ đơn thuần là danh lam thắng cảnh và không gian văn hóa đặc sắc, mà đang dần trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế, góp phần gia tăng sức hút cho Hà Nội.
Tơ sen nâng tầm sản phẩm làng nghề dệt lụa Phùng Xá

Tơ sen nâng tầm sản phẩm làng nghề dệt lụa Phùng Xá

LNV - Nằm kế bên dòng sông Đáy, làng nghề dệt lụa Phùng Xá (xã Hồng Sơn, Hà Nội) vẫn miệt mài giữ nhịp thoi đưa hàng trăm năm qua. Từ những sản phẩm dệt truyền thống, bằng sự sáng tạo và khéo léo, nghệ nhân Phan Thị Thuận đã làm mới sản phẩm truyền thống với lụa tơ sen
Phù Yên: Làng mộc chuyển mình nâng tầm giá trị kinh tế

Phù Yên: Làng mộc chuyển mình nâng tầm giá trị kinh tế

Làng mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa, TP. Hà Nội) đang từng bước đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, qua đó nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Đồng thời, các cơ sở sản xuất trong làng mở rộng thị trường tiêu thụ, đa dạng hóa mẫu mã, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, hướng tới phát triển bền vững và khẳng định vị thế của làng nghề mộc truyền thống Phù Yên trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Việt Nam chủ động các kịch bản, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia

Việt Nam chủ động các kịch bản, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia

sáng nay 4/4, Quyền Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng khẳng định: Dù thị trường năng lượng thế giới biến động phức tạp, Việt Nam vẫn hoàn toàn làm chủ tình hình nguồn cung xăng dầu
Khai mạc phiên chợ sản phẩm OCOP và nông sản Quảng Trị tại xã Cửa Việt

Khai mạc phiên chợ sản phẩm OCOP và nông sản Quảng Trị tại xã Cửa Việt

Tối 3/4, tại xã Cửa Việt, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh tổ chức khai mạc phiên chợ sản phẩm OCOP và nông sản tỉnh Quảng Trị năm 2026
Mô hình trồng chuối Nam Mỹ ở “thủ phủ” du lịch: Mở hướng đi mới phát triển nông nghiệp Quảng Ngãi

Mô hình trồng chuối Nam Mỹ ở “thủ phủ” du lịch: Mở hướng đi mới phát triển nông nghiệp Quảng Ngãi

Mô hình trồng chuối Nam Mỹ ở “thủ phủ” du lịch: Mở hướng đi mới phát triển nông nghiệp Quảng Ngãi
Khi cà phê Robusta Gia Lai bước vào “sân chơi” cao cấp

Khi cà phê Robusta Gia Lai bước vào “sân chơi” cao cấp

LNV - Nhờ thay đổi tư duy sản xuất từ truyền thống sang chất lượng cao, những năm qua nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã tạo ra sản phẩm cà phê Robusta đặc sản mang hương vị riêng biệt, ghi dấu ấn mạnh mẽ trên bản đồ nông sản thế giới.
Khi học sinh Gia Lai trở thành “người nâng tầm” nông sản quê hương

Khi học sinh Gia Lai trở thành “người nâng tầm” nông sản quê hương

LNV - Dự án “BESOP - Pleiku Beyond Starch Optimization / Sức trẻ Gia Lai - Kiến tạo giá trị nông sản Việt” của nhóm học sinh trường Trường THPT Pleiku (tỉnh Gia Lai) xuất sắc là một trong 135 dự án lọt vào vòng chung kết cuộc thi “Học sinh, sinh viên với
Giao diện di động