Tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng, lạm dụng chức quyền và đức thanh liêm của người xưa
Triều Lê với “Lê triều hình luật” và việc chống tham nhũng
Bộ “Lê triều hình luật” tuy nhằm thể chế hóa một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, song vẫn chứa đựng những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam – truyền thống lấy nhân nghĩa làm trọng, quan tâm đến đời sống và quyền sống của dân lành. Nhà Lê thấy rõ sức dân trong suốt 10 năm kháng chiến chống giặc Minh và vai trò của nông dân trong sản xuất nông nghiệp, nên rất chú trọng quan tâm đến đời sống của muôn dân, thực hiện quyền làm người cho khắp dân đinh bằng những điều luật cụ thể ngăn cấm quan lại tham nhũng, trừng trị kẻ cậy thế, cậy quyền…
Để ngăn chặn những hậu quả do sự cách biệt về vị trí xã hội gây ra, giữa thứ dân và quan lại, chức sắc có thế có quyền, nhà Lê cho ban hành trong luật nhiều biện pháp ngăn cấm, răn đe những kẻ xu nịnh cấp trên, gây tổn hại cho dân.

“Lê triều hình luật” (hay Quốc triều hình luật) quy định chống tham nhũng đồng bộ từ việc đề ra chế độ công vụ chặt chẽ nghiêm minh, đến việc hạn chế những hành vi cấu kết với nhau, cậy thế cậy thần… sách nhiễu lương dân. Một số luật định đó là: Điều 1, chương “Vi chế” đã ghi rằng, quan lại đặt ra có số nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định, thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ). Từ điều 23 đến điều 26 quy định: “Để chậm trễ công văn, chiếu chỉ 1 ngày phạt 50 roi, chậm 3 ngày tăng nặng lên một bậc”. “Sai đi công cán, xem xét việc gì mà về tâu trình không đúng sự thật, thì “biếm” chức hoặc xử tội “đồ”…”.
Điều 17 đã ghi: “nếu quan lại tự nhiên thu tiền của dân, làm lễ vật cung phụng lên vua, thì sẽ hạ chức 1 bậc và phải trả lại lễ vật cho dân”. Điều 22, chương “Hộ hôn” chỉ rõ: “Nhà quyền quý làm hại dân, mà xã quan bỏ qua, không trình báo, thì xử tội “biếm” một bậc”.
Điều 42, chương “Vi chế” đã ghi: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xủ trảm bêu đầu… tùy theo tội)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén, thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”. Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay. Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ chăm chú mua bán, thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”.
“Lê triều hình luật” với một hệ thống tội danh và những biện pháp trừng trị vô cùng nghiêm khắc, lại được sự chỉ đạo sát sao của một ông vua sang suốt anh minh, đã thực sự phát huy hiệu lực, làm nền tảng cho một nhà nước pháp trị phong kiến thân dân, đưa nước ta trở thành một nhà nước cực thịnh trong suốt những năm Vua Lê Thánh Tông trị vì (từ 1459 đến 1496),v.v…
Vua Minh Mạng chống tham nhũng, lạm dụng chức quyền
Vua Minh Mạng (1820 - 1840) đặc biệt coi trọng cải cách bộ máy hành chính, chống tham nhũng, bè cánh, lạm dụng chức quyền sách nhiễu lương dân, vơ vét vàng bạc công khố. Năm 1831 Minh Mạng cho ban hành “Luật hồi ty” (quy định việc kiêng kỵ, tránh né), buộc tất cả bộ máy điều hành việc nước từ trung ương tới địa phương đều phải triệt để chấp hành, với hàng loạt quy định cụ thể như sau: Khi sắp xếp bộ máy điều hành, bố trí quan lại về các địa phương trị nhậm phải triệt để tránh những nơi: Quê gốc (quê nội), vì đó là quan hệ họ nội đã từng nhiều đời sinh sống…; Quê ngoại, bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học, dù chỉ ngắn ngày.
“Luật hồi ty” được thi hành triệt để, phần nào đã ngăn chặn tệ bè cánh, cấu kết, sách nhiễu lương dân. Năm 1836, Minh Mạng lại cho sửa đổi đôi chỗ, và đến đời Vua Thiệu Trị lại bổ sung thêm những quy định mới, ngày càng chi tiết và đầy đủ rõ ràng. Đó là: Các quan đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Đốc học đều không được cử những người cùng chung một quê. Đây là quy dịnh nhằm ngăn chặn mối quan hệ đồng hương, tránh địa phương cục bộ che chắn cho nhau, hoặc kết hợp với nhau trong hành vi tham nhũng, lạm dụng chức quyền ở từng Bộ, Nha, Sở, Cục… Không được bố trí các lại viên có quan hệ bố - con, anh – em ruột thịt, chú bác, thông gia, họ hàng gần xa, thầy trò thân thiết. Quan lại không được coi thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen ứng thi.
Có thể nói “Luật hồi ty” là sự sáng tạo độc đáo của nhà Nguyễn dưới đời Minh Mạng, Luật được thực thi đã hạn chế đến mức thấp nhất những mối quan hệ thân quen, làm sai lệch công lý, dẫn đến những hành vi cấu kết, đồng phạm tham nhũng, lạm dụng chức quyền, bè cánh, thế thần, giảm được đáng kể hành vi tham nhũng tập thể…
Một số vị quan thanh liêm
Sử sách đã nói nhiều về nhà Nho, nhà Sư phạm Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần đã dâng “Thất trảm sớ” xin vua chém đầu 7 tên gian thần. Và, lịch sử cũng đã nói về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin vua chém đầu 18 tên lộng thần. Dưới đây xin nêu một số tấm gương các vị quan chính trực, sống thanh bạch, ngay thẳng và mạnh dạn chống tham nhũng.
*Mạc Đĩnh Chi một đời chính trực thanh liêm
Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Dương, đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn – 1304, dưới triều Trần Anh Tông. Ông có tri thức uyên thâm, trí thông minh và tài ngoại giao, ứng đối như thần, nên được triều đình Nguyên Mông (lúc bấy giờ đang thống trị Trung Quốc) sắc phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, và được Vua Trần Anh Tông hết lòng trọng dụng tin dùng, cử giữ chức quan Ngự sử.
Khác với một số quan lại và quý tộc đương thời, Mạc Đĩnh Chi luôn giữ khí tiết trong sạch, thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước triều đình, can gián nhà vua trước những việc làm chưa đúng. Với chức trách của quan Ngự sử, ông đã dâng sớ lên vua, tố cáo quan Tư đồ Trần Trung Hoài và lũ tham quan thao túng, lạm dụng đảo lộn kỷ cương, coi thường phép nước. Vua Trần Anh Tông đã bỏ qua ngoài tai những lời can gián của quan Ngự sử, nên được thể bọn quyền thần xúm vào tìm cách hãm hại ông. Chúng tâu vua: “Mạc Đĩnh Chi xuất thân từ lũ tiện dân, được bệ hạ ban ơn, đã không biết ơn, lại hay xét nét mọi việc trong triều, ngay cả việc làm của đấng Quân vương. Khi làm Hà đê Chánh sứ, cậy có chút công, mặc sức vơ vét, xây dinh thự nguy nga ở Lũng Động. Bệ hạ mau trừ mối họa, kẻo hại tới an nguy xã tắc”. Trước những lời sàm tấu của lũ gian thần, Vua Trần Anh Tông băn khoăn suy nghĩ: Đĩnh Chi 15 năm làm quan mà vẫn thanh bần, quê nhà vẫn chỉ một nhà tranh vách đất. Khi mẹ già ốm đau, không tiền thuốc thang, ta ngầm giúp đỡ sai bỏ tiền vào nhà, mà sáng hôm sau lại đem tiền “vô chủ” xin nộp vào kho. Đi sứ Nguyên về, bao nhiêu tặng vật được trao, đã đem nộp hết cho triều đình, chẳng giữ cho mình chút gì, dù chỉ là thước lụa, tấm vóc cỏn con. Khi làm Hà đê Chánh sứ thì dân chúng ngợi ca là chính trực, thanh liêm… Người như thế chẳng thể nào lại vơ vét, tham nhũng. Nghĩ vậy, vua gạt bản tấu của bọn Trung Hoài sang bên và bảo: “Suốt mấy chục năm làm quan trong triều, trẫm chỉ thấy dân ca ngợi, mà tuyệt chưa thấy một lời oán thoán Đĩnh Chi”.
* Quan Tham Tụng (Tể tướng) Nguyễn Công Cơ, điều hành công việc triều chính nghiêm minh và sống cuộc đời thanh bạch
Nguyễn Công Cơ (1673 - 1733), còn gọi là ông Nghè làng Cáo (tên cũ của làng Xuân Tảo, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội ngày nay). Ông đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa thi Đinh Sửu (1697), được bổ nhiệm làm quan trong triều với nhiều chức vụ, sau đến chức Tham Tụng đứng đầu văn võ bá quan.
Ông điều hành công việc triều chính hết sức nghiêm minh. Trong khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1726), ông đã trừng trị 28 người có liên quan đến sự gian trá trong thi cử, nâng đỡ sửa điểm cho con em quan lại đại thân trong triều. Trong việc làm quan, ông không chạy chức, giành quyền cho những người thân, họ hàng.
Mấy chục năm làm quan, khi về nghỉ ở quê nhà, ông vẫn chỉ có 3 gian nhà tranh, phên tre, vách đất, chẳng tiền của châu báu, sống cuộc đời giản dị, thanh bần. Có người hỏi ông: Sao giữ chức lớn trong triều, mà chẳng có chút gì tài sản riêng tư, lại cáo lão từ quan quá sớm? Ông mĩm cười, từ tốn bảo: “Người làm quan phải biết dừng, biết đủ, chớ tham quyền chức, của lắm tiền nhiều, bất nhân thất đức, phải giữ lòng trong sạch, chính trực công minh. Đừng dùng lưc, cậy uy, sách nhiễu dân lành, tham nhũng bòn rút của dân, gây oan khuất, thiệt thòi cho người vô tội ”. Di tích nhà thờ Nguyễn Công Cơ ở làng Xuân Tảo, được xếp hạng di tích cấp Quốc gia.
*Đặng Huy Trứ, một người thầy sáng, một vị quan liêm, đã viết cuốn “Từ thụ yếu quy” đưa ra 104 thủ đoạn hối lộ mà người làm quan phải từ chối và 5 trường hợp có thể nhận.
Đặng Huy Trứ, sinh năm 1825, trong một gia đình Nho phong, nền nếp ở làng Thanh Lương, này thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1847. Trước khi ra làm quan, ông đã từng 8 năm làm một người thầy.
Khi làm quan, Đặng Huy Trứ luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của người thay mặt triều đình, chăm sóc muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Đây là bộ sách bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người xưa.
Cuộc đời làm quan của Đặng Huy Trứ lấy sự tu thân làm đầu, suốt đời giữ trọn thanh liêm. Làm quan, nhưng ông đã từng sống trong cảnh “cơm chỉ rau dưa, canh chủ chốt”, “tường kẻ vách bung, nhà khe mái dột”… Nhưng trước cám dỗ của tiền tài, của những mưu toan hối lộ, ông vẫn giữ “một tấm lòng băng chẳng bụi vương”. Với ông, làm quan trước hết là nô bộc cho Dân, cho Nước; tự coi mình là “con của thứ dân”, và ông đua ra quan niệm sử thế “không chăm sóc nổi dân thì chớ làm quan”. Ông đã giữ quan niệm sống ấy và tấm lòng thành với Dân của ông qua những vần thơ:
…
“Mình thiệt, lợi dân, Dân gắn bó
Đẽo dân, mình béo, Dân căm hờn.
Hờn căm, gắn bó tùy ta cả
Duy chữ Thanh Thanh đối thế nhân”.
TS. Lưu Minh Trị
Nguyên Phó Chủ tịch UBND TP.Hà Nội
Chủ tịch Hội DSVH Thăng Long - Hà Nội
Tin liên quan
Tin mới hơn
Hà Nội: Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Bồi làng nghề diều sáo Bá Dương Nội
07:00 | 15/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Dèng A Lưới, ký họa cố đô thăng hoa trên tà áo dài của Nhà thiết kế Viết Bảo
21:09 | 14/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Làng Lời, xã Thuận An, Hà Nội Vùng đất “ Trồng người”
09:00 | 10/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Gia Lai: Học sinh THPT tăng tốc ôn thi giai đoạn nước rút
11:09 | 07/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Giữ bản sắc người Hà Nội: Nối dài dòng chảy ngàn năm
10:11 | 05/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Tổng kết và trao giải Cuộc thi “Sáng tác ca khúc về Phượng Dực”
08:07 | 05/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Tin khác
Người “giữ lửa” cho nghệ thuật tuồng
18:12 | 04/05/2026 Thơ làng nghề, thơ nghệ nhân
“Hồn Bản”: Hành trình người trẻ chạm vào tâm hồn văn hóa bản địa Sa Pa
09:41 | 04/05/2026 Văn hóa - Xã hội
Lễ hội Tràng An 2026: Lan tỏa “mạch nguồn linh khí”, gợi nhắc về trách nhiệm của con người
17:52 | 03/05/2026 Văn hóa - Xã hội
“Khảm sắc”: Khi khảm trai trở thành trải nghiệm sống động cho du khách quốc tế
11:41 | 29/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Gia Lai: Nhu cầu học bơi của trẻ tăng cao mùa nắng nóng
09:36 | 29/04/2026 Tin tức
Doanh nhân họ Nguyễn hướng tới những bước tiến mới tại Phú Thọ
00:00 | 28/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, trò chuyện với nhân dân tại Đền Hùng
16:00 | 26/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Chương trình nghệ thuật “Đại ngàn reo” dấu ấn nơi đại ngàn cất tiếng
22:36 | 25/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Phú Thọ: Cựu chiến binh - Nhà thơ Trần Sơn Thắng tích cực tham gia các hoạt động xã hội
16:08 | 24/04/2026 Thơ làng nghề, thơ nghệ nhân
Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh với Đảng bộ và phong trào công nhân ở Hải Phòng những năm đầu thế kỷ XX
07:00 | 24/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Sắc rừng tháng Ba
07:18 | 22/04/2026 Thơ làng nghề, thơ nghệ nhân
Tái hiện ký ức làng nghề giữa không gian phố cổ Hà Nội
09:49 | 21/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Ấn tượng Lễ hội cà phê và sách Pleiku 2026
10:10 | 20/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Hà Nội: Trang nghiêm nghi lễ rước kiệu truyền thống tại Cụm di tích Vũ Thạch
09:35 | 20/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Gia Lai: Phố ẩm thực Diên Hồng điểm nhấn thu hút khách du lịch
10:19 | 18/04/2026 Văn hóa - Xã hội
Đà Nẵng: Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Phú Thuận được công nhận nghề truyền thống
08:00 Tin tức
Hà Nội thúc đẩy phát triển ngành nghề nông thôn
07:00 Làng nghề, nghệ nhân
Hội chợ triển lãm Công Thương - OCOP Thái Nguyên 2026
09:00 Tin tức
Hội văn thư lưu trữ Việt Nam 25 năm khẳng định vị thế, đồng hành cùng di sản dân tộc
08:00 Tin tức
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực đưa làng nghề Việt Nam bước vào kỷ nguyên số
08:00 Tin tức
