Hà Nội: 23°C Hà Nội
Đà Nẵng: 25°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

[Thông điệp từ lịch sử] Tổng đốc Hoàng Trọng Phu - từ “Làng nghề Hà Đông” đến lập ấp ở Đà Lạt

LNV- Là một trong những người Việt Nam đầu tiên du học ở Pháp về, Hoàng Trọng Phu đã có một tầm nhìn mới về văn hóa và kinh tế đương thời. Quan trọng và đáng quý là ông đã có nhiều đóng góp thiết thực để phát triển kinh tế và văn hóa ở Hà Đông mà ông có gần 30 năm làm Tống đốc. Tổng đốc Tây học

Tổng đốc Tây học

Hoàng Trọng Phu (1872 – 1946) tự Văn Mệnh, hiệu Hoa Liễu Lâu, quê ở làng Đông Thái, xã Việt Yên hạ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay là làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con Hoàng Cao Khải – Khâm sai Kinh lược Bắc ký; em Hoàng Mạnh Trí - Tổng đốc Nam Định. Bố vợ cả của Hoàng Trọng Phu là Phan Đình Vận, em trai Phan Đình Phùng; bố vợ thứ là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương.

Năm 1888, Hoàng Trọng Phu được chính quyền thuộc địa Pháp cử sang học trường Thuộc địa (École Coloniale) tại Paris (Pháp) cùng với Thân Trọng Huề và Lê Văn Miến.

Lúc mới về nước, vì có cha đang làm quan, nên ông chỉ làm thông ngôn cho vua Thành Thái một thời gian ngắn. Năm1897, ông làm Án sát Bắc Ninh, giảng dạy trường Hậu bổ rồi Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên). Năm 1906, ông làm Tổng đốc Hà Đông đến năm 1937 thì về hưu và mất năm 1946. Do có nhiều công lao với Nam triều, ông được phong Võ hiển điện Đại học sĩ, hàm Thái tử Thiếu bảo, nên được gọi là cụ Thiếu Hà Đông.


Tổng đốc Hoàng Trọng Phu.

Theo một số nhà nghiên cứu thì bên cạnh việc thực thi nhiệm vụ của một quan chức trong chế độ lúc đó, ông là người có tinh thần dân tộc. Ông cùng với anh trai Hoàng Mạnh Trí là Tổng đốc Nam Định đều âm thầm hỗ trợ Phong trào Đông Du bằng cách làm lơ cho Hội Duy tân tuyển chọn và đưa người sang Nhật du học trên địa bàn hai tỉnh này (?).

Hoạt động văn hóa xã hội

Hoàng Trọng Phu làm Tổng đốc Hà Đông nhưng tham gia nhiều hoạt động chính trị văn hóa xã hội có tư tưởng tiến bộ. Ông cổ súy phong trào chấn hưng Phật giáo tại Bắc kỳ những năm 1930. Ngày 18/11/1934, Hội Phật giáo Bắc kỳ được thành lập, Hoàng Trọng Phu là Danh dự Hội trưởng (người Nam) và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho việc xuất bản các Tập Kỷ Yếu (4 số) tạp chí Đuốc Tuệ (255 số) của Hội. Tạp chí này do ông Nguyễn Năng Quốc làm Chủ nhiệm, sư cụ Phan Trung Thứ và sư cụ Dương Văn Hiền thay nhau làm chánh chủ bút, Nguyễn Trọng Thuật làm thư ký, được đánh giá có nội dung vượt trội hơn so với các báo chí Phật giáo khác bởi có sự tham gia của nhiều trí thức uyên thâm nổi tiếng như Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Thiều Chửu...

Ông còn cho trùng tu các danh thắng như chùa Trầm ở Chương Mỹ, chùa Bút Tháp phủ Thuận Thành (Bắc Ninh); Chùa Bảo Đài (thuộc quần thể chùa Hương tích (Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội). Tại đây vẫn còn lưu bia ghi về việc này. Ông mở mang xây dựng ấp Thái Hà, đặc biệt khu lăng mộ của Hoàng Cao Khải và gia tộc họ Hoàng với kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc độc đáo, đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia từ năm 1961.

Ông là thành viên Hội đồng quản lý Hội Khai trí Tiến đức - một hiệp hội tư lập từ năm 1919 với chủ trương giao lưu văn hóa giữa trào lưu Tây học và học thuật truyền thống Việt Nam, chủ trương mở rộng con đường thâu nhận kiến thức Tây phương để phát triển xã hội, đề cao tiếng Việt, chữ Quốc ngữ, danh nhân văn hóa.

Ông còn là Chủ tịch Ủy ban tương tế xã hội trung ương Bắc Kỳ, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Bản xứ Bắc Kỳ.

Với “Nghề truyền thống Hà Đông”

Tổng đốc Hoàng Trọng Phu là người rất yêu và dành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu và phát triển các nghề truyền thống ở Hà Đông. Ông nhìn thấy không chỉ các giá trị văn hóa độc đáo của các nghề, làng nghề mà cả ý nghĩa, vai trò kinh tế của nó với đời sống dân sinh. Ông đã viết cuốn Les Industries Familiales de Hadong (Nghề truyền thống Hà Đông) mô tả chi tiết về các làng nghề truyền thống của tỉnh Hà Đông. Ông thống kê được toàn tỉnh Hà Đông có 136 ngành nghề thủ công với nhiều sản phẩm nổi tiếng, nhất là ngành tơ lụa, khảm trai, thêu ren. Trong Lời nói đầu, đề tại Hà Đông ngày 15-7-1932, ông viết: “Trong các tỉnh ở Bắc Kỳ, hình như Hà Đông tập hợp được phần lớn các nghề có tầm quan trọng đặc biệt bởi sự đa dạng và sự phát triển của ngành nghề. Những đồ dùng bằng đồi mồi, đồ gỗ, và nhất là the lụa và hàng thêu của Hà Đông được tất cả người sành ưa chuộng”.

Không dừng lại đó, ông đã đóng góp nhiều công sức phát triển các làng nghề, góp phần giải quyết vấn đề dân sinh. Ông đã khôi phục các làng nghề cho tỉnh Hà Đông vốn đã nổi tiếng với "the La, lụa Vạn, chồi Phùng". Ông quan tâm phát triển làng nghề lụa Vạn Phúc trở thành một “mô hình” mẫu về kinh tế làng nghề thủ công. Ông mời nghệ nhân điêu khắc gỗ Nguyễn Văn Đông ở làng Nhân Hiền, phủ Thường Tín về làm Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Bách nghệ; thành lập Hội Tiểu canh nông công nghệ Hà Đông. Ông cử các phái đoàn mang sản phẩm thủ công (the, lụa, mây tre đan) tham dự triển lãm tại Paris (Pháp). Nhiều lần chính ông đã chu cấp tiền cho người Vạn Phúc mang lụa đi tham gia triển lãm ở Paris. Nhờ đó làng nghề ngày càng phát triển, sản phẩm ngày càng nhiều, càng tốt, đời sống của người dân khấm khá hơn nhiều.

Để mở mang thêm ngành nghề và nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm, ông còn chọn các nghệ nhân đưa sang Trung Quốc học nghề lụa tơ tằm, sang Nhật học sơn mài, rồi cả nghề mộc, nghề bạc. Để tôn vinh và quảng bá sản phẩm, ông mở bảo tàng mỹ nghệ cho các nghệ nhân ở La Cả, La Khê.

Khi đã về hưu, vì muốn có người tâm huyết tiếp tục phát triển các ngành nghề thủ công tại Hà Đông nên ông đã đề nghị với triều đình Huế đưa con rể là Tiến sĩ Luật khoa Hồ Đắc Điềm lúc đó đang là Án sát tỉnh Bắc Ninh về làm Tổng đốc vào năm 1941.

Lập ấp Hà Đông tại Đà Lạt

Năm 1937, Quản đạo Đà Lạt là Trần Văn Lý nhận thấy Đà Lạt là vùng khí hậu mát mẻ, nhiều đất hoang chưa khai phá, nhu cầu rau quả tươi sống của người Pháp cũng tăng lên, trong khi nông dân miền Bắc lại thiếu đất canh tác nên đã đề nghị Tổng đốc Hoàng Trọng Phu đồng thời kiêm Chủ tịch Ủy ban Tương tế xã hội Trung ương Bắc Kỳ di dân vào lập ấp tại Đà Lạt. Ông nhận lời đề nghị này và giao cho Thương tá Canh nông tỉnh Hà Đông là Lê Văn Định xây dựng kế hoạch và chuẩn bị thực hiện.

Ngày 29/5/1938, nhóm cư dân Hà Đông đầu tiên gồm 33 người (27 nam, 6 nữ) là những nông dân khỏe mạnh thạo nghề làm vườn của các làng xã ven Hồ Tây được huấn luyện kỹ càng thêm phương thức canh tác tiên tiến theo mô hình châu Âu lên tàu hỏa vào Đà Lạt. Đầu năm 1939, thêm 19 người vào ấp. Từ năm 1940 đến năm 1942, lại thêm 47 người. Nhiều người đã chủ động xin vào ấp, có trường hợp đích thân Tổng đốc Hoàng Trọng Phu viết giấy giới thiệu vào. Cuối năm 1943, ấp Hà Đông đã có 57 gia đình và trở thành những người đầu tiên mở ra nghề trồng hoa và trồng rau của Đà Lạt.

Năm 1940, Hoàng Trọng Phu vào thăm ấp. Bà con xin được lấy tên ông đặt tên cho ấp nhưng ông đã khéo léo từ chối và đề nghị bà con nên lấy tên là ấp Hà Đông để mai sau con cháu nhớ về cội nguồn.

Trước đó, khi làm Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên), Hoàng Trọng Phu đã lập ấp Quế Võ (Bắc Ninh), tuyển chọn và đưa dân làng Đông Thái (thuộc xã Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh) ra khá đông.

Mới đây, trong cuốn sách Lịch sử Đảng bộ quận Hà Đông (1926 - 2010), NXB Hà Nội (2014) đã dẫn lại đánh giá về Tổng đốc Hoàng Trọng Phu của viên Công sứ Pháp ở Hà Đông như sau: “Bằng cách đem lại mối lợi, ông đã thành công trong việc thắt chặt dây liên lạc giữa các gia đình, hướng tâm trí người ta vào việc làm ăn, xua đuổi sự nhàn rỗi thường là nguyên nhân sinh ra nhiều tật xấu. Nền kinh tế phát triển giúp cho ông quan đầu tỉnh bản xứ rất lớn trong công việc cai trị về phương diện chính trị”.

Tổng đốc Hoàng Trọng Phu là một trường hợp khá đặc biệt trong hàng ngũ quan lại dưới chế độ thuộc Pháp. Vượt lên chức trách cai trị của một vị quan, chắc hẳn ông có một tầm nhìn sâu sắc về văn hóa và kinh tế mới có thái độ và những việc làm hữu ích.

Theo Kinh tế đô thị

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

LNV - Với tâm huyết và trách nhiệm, đội ngũ nghệ nhân tại Hưng Yên đang đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền dạy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch cộng đồng, đưa giá trị văn hóa truyền thống lan tỏa trong đời sống hiện đại.
Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

LNV - Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống khuyến nông đang từng bước đổi mới theo hướng bám sát cơ sở, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường. Tuy nhiên, quá trình kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ vẫn còn nhiều khó khăn cần sớm tháo gỡ để phát huy hiệu quả.
Đánh thức nghề dệt Cao Lan giữa nhịp sống hiện đại

Đánh thức nghề dệt Cao Lan giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề dệt truyền thống của đồng bào Cao Lan ở xã Lục Sơn (Bắc Ninh) vẫn được gìn giữ như một phần hồn cốt văn hóa. Từ những khung cửi mộc mạc, người dân nơi đây đang từng bước khôi phục, phát triển nghề xưa, đưa sản phẩm thủ công gắn với bản sắc dân tộc vươn ra thị trường.
Hát Xoan – Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của đất Tổ Phú Thọ

Hát Xoan – Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của đất Tổ Phú Thọ

LNV - Là loại hình dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan Phú Thọ không chỉ mang giá trị nghệ thuật đặc sắc mà còn chứa đựng chiều sâu lịch sử, văn hóa của dân tộc. Trải qua nhiều thăng trầm, di sản này đang được bảo tồn, phát huy, trở thành điểm nhấn trong đời sống văn hóa và phát triển du lịch vùng đất Tổ.
Làng nghề xứ Thanh khẳng định vai trò trong phát triển nông thôn

Làng nghề xứ Thanh khẳng định vai trò trong phát triển nông thôn

LNV - Từ đúc đồng Trà Đông đến nghề mộc Đạt Tài, các làng nghề truyền thống xứ Thanh đang từng bước khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mở rộng giá trị sản phẩm trên thị trường.
Nghệ nhân tiếp nối dòng tranh Đông Hồ giữa nhịp sống hiện đại

Nghệ nhân tiếp nối dòng tranh Đông Hồ giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Sinh ra trong gia đình nhiều đời làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa không chỉ kế thừa kỹ thuật in tranh dân gian cổ truyền mà còn nỗ lực tìm hướng đi mới, đưa dòng tranh nổi tiếng của Bắc Ninh thích ứng với thị trường hiện đại.

Tin khác

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

LNV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống thêu tại vùng quê Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (nay là xã Phúc Sơn, TP Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Thị Hằng đã dành hơn hai thập kỷ bền bỉ gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ kỹ thuật thêu tay truyền thống, chị còn tìm hướng đi mới để đưa nghề hòa vào nhịp sống hiện đại, mở rộng không gian sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa.
Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

LNV - Làng nghề đệm bàng Phò Trạch (phường Phong Dinh, TP Huế) từ lâu đã trở thành một phần ký ức văn hóa của người dân xứ Huế. Trải qua nhiều biến động của thị trường và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, nghề truyền thống này vẫn được người dân nơi đây bền bỉ gìn giữ, từng bước thích nghi để tồn tại và phát triển.
Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

LNV - Là một trong những phường rối cổ truyền tiêu biểu của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, rối nước Nguyên Xá (Hưng Yên) không chỉ lưu giữ kho tàng tích trò độc đáo mà còn đang từng bước tìm hướng đi mới để bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Giữa những biến chuyển của xã hội, những nghệ nhân nơi đây vẫn lặng lẽ giữ nghề, truyền lửa và đưa nghệ thuật rối nước đến gần hơn với công chúng.
Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

LNV - Từ những mảnh vườn nhỏ lẻ, Gò Móc (Thái Nguyên) đã từng bước phát triển thành làng nghề sinh vật cảnh quy mô với hàng chục hộ tham gia. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế hàng tỷ đồng, nơi đây còn trở thành điểm hội tụ đam mê, khẳng định hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với giá trị nghệ thuật.
Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa dòng chảy mạnh mẽ của công nghiệp hóa, làng nghề giấy dó Phong Phú (Nghệ An) vẫn âm thầm gìn giữ một nghề thủ công truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa Việt. Từ những tấm giấy mỏng nhẹ nhưng bền dai, người dân nơi đây không chỉ bảo tồn một nghề cổ mà còn từng bước tìm hướng đi mới để thích ứng với thị trường hiện đại.
Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

LNV - Giữa miền sông nước Đồng Tháp, làng chiếu Định Yên vẫn đều đặn vang lên tiếng khung cửi qua bao thế hệ. Hơn hai thế kỷ trôi qua, những tấm chiếu lác không chỉ là sản phẩm mưu sinh mà còn là “nhịp thở” văn hóa, kết tinh từ sự cần cù và lòng yêu nghề của người dân nơi đây.
Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

LNV - Trong nhiệm kỳ 2020–2025, Hội làng nghề truyền thống mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa, Hà Nội) đã ghi dấu một chặng đường phát triển năng động, bền vững, từng bước khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế – xã hội địa phương, đồng thời gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa nghề truyền thống.
Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

LNV - Nghề điêu khắc và sơn son thếp vàng của Sơn Đồng (Hà Nội) không chỉ bảo tồn giá trị truyền thống mà còn mở rộng thị trường quốc tế và phát triển du lịch.
Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

LNV - Ít ai biết rằng, đằng sau những chùm bưởi Diễn vàng óng, căng mọng nổi tiếng khắp Hà Nội là cả một nghệ thuật thụ phấn nhân tạo tỉ mẩn mà người dân làng Diễn (phường Phú Diễn, Hà Nội) vẫn trìu mến gọi là "se duyên" cho hoa.
Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

LNV - Mùa xuân đến, không khí tại các làng nghề truyền thống ở Hưng Yên trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Từ tiếng khung cửi lách cách nơi làng dệt đũi, âm thanh đục chạm kim loại ở làng bạc, đến các món đặc sản quê nhà, tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh mùa xuân giàu bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ của nghề truyền thống.
Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

LNV - Âm thanh không tự cất lên từ những ống tre nếu thiếu đi đôi bàn tay thấu hiểu. Với nghệ nhân ưu tú Y Sinh, tiếng đàn Klông-pút của người Xơ Đăng không chỉ là âm thanh, mà là ký ức văn hóa được đánh thức qua từng nhịp vỗ – một di sản sống đang được gìn giữ giữa dòng chảy hiện đại.
Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

LNV - Giữa vùng non nước của Cao Bằng, làng bún ngũ sắc Hồng Quang (xã Hưng Đạo) nổi bật với những sợi bún nhiều màu sắc được làm từ nguyên liệu tự nhiên. Từ nghề truyền thống của đồng bào Tày, sản phẩm bún khô nơi đây đang từng bước khẳng định giá trị, góp phần bảo tồn văn hóa ẩm thực và phát triển kinh tế nông thôn.
Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

LNV - Trưng bày và quảng bá nghề thủ công trong không gian đô thị giúp nghề truyền thống tiếp cận công chúng mới và mở rộng thị trường.
Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

LNV - Trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, nhiều làng nghề truyền thống tại Thanh Hóa đang chuyển mình mạnh mẽ bằng cách tận dụng kênh số để mở rộng thị trường. Không chỉ gia tăng doanh thu, việc “lên sàn” còn giúp sản phẩm địa phương từng bước xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trong nền kinh tế số.
Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

LNV - Giữa không gian làng nghề ven sông Hồng, Bảo tàng Gốm Bát Tràng hiện lên như một dấu ấn văn hóa đặc biệt của làng nghề Bát Tràng. Đây là nơi tái hiện hành trình hàng trăm năm của nghề gốm truyền thống và cũng là nơi lưu giữ những sản phẩm gốm tiêu biểu của Bát Tràng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

LNV - Với tâm huyết và trách nhiệm, đội ngũ nghệ nhân tại Hưng Yên đang đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền dạy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch cộng đồng, đưa giá trị văn hóa truyền thống lan
Đà Nẵng xây dựng cơ chế khuyến công mới, mở rộng hỗ trợ doanh nghiệp và làng nghề

Đà Nẵng xây dựng cơ chế khuyến công mới, mở rộng hỗ trợ doanh nghiệp và làng nghề

LNV - Sau khi hợp nhất với Quảng Nam, TP Đà Nẵng đang đề xuất ban hành nghị quyết mới nhằm đồng bộ chính sách khuyến công, khắc phục chồng chéo và mở rộng hỗ trợ cho doanh nghiệp, làng nghề, đặc biệt tại khu vực miền núi, hải đảo và lĩnh vực sản xuất sản
Khai hội Đền Mai Bảng 2026 tại Cửa Lò

Khai hội Đền Mai Bảng 2026 tại Cửa Lò

LNV - Diễn ra tại Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Mai Bảng (phường Cửa Lò, Nghệ An), lễ hội năm 2026 không chỉ là dịp tưởng nhớ danh tướng Lê Khôi mà còn đánh dấu sự kiện được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thu hút đông đảo người dân
Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

Khuyến nông chuyển mình theo mô hình chính quyền hai cấp

LNV - Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống khuyến nông đang từng bước đổi mới theo hướng bám sát cơ sở, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường. Tuy nhiên, quá trình kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ vẫn
RAH LAN CHUNG - SỰ TÍN NHIỆM KHÔNG CHỈ TỪ LÁ PHIẾU

RAH LAN CHUNG - SỰ TÍN NHIỆM KHÔNG CHỈ TỪ LÁ PHIẾU

LNV - Sự tín nhiệm tuyệt đối không chỉ là kết quả của một kỳ họp, mà là sự kết tinh của niềm tin được gây dựng qua thời gian. Ở đó, vai trò của người đứng đầu không nằm ở chức danh, mà ở cách họ gắn mình với đời sống nhân dân.
Giao diện di động