Hà Nội: 31°C Hà Nội
Đà Nẵng: 32°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 31°C Thừa Thiên Huế

Làng mõ chốn cố Kinh

LNV - Họ mang nỗi lòng mình gửi vào từng thớ gỗ, biến chiếc mõ không chỉ là vật dụng nhỏ hằng ngày trong những ngôi chùa mà còn mang chở cả tâm hồn và tài năng của người Việt trong đó.

Nhọc nhằn nghề chế tác mõ

Ở xứ Huế bây giờ, người ta vẫn nói đến làng mõ. Làng mõ là nơi vẫn duy trì nghề đục đẽo, tạo ra những sản phẩm là những chiếc mõ. Ở phường Thủy Xuân, TP Huế trước đây có một số hộ gia đình đã từng làm mõ nhưng cuối cùng chỉ còn vài ba hộ đứng vững với nghề. Điều đặc biệt là có những cơ sở “gia truyền” 3 đời chuyên làm mõ cung ứng cho khắp nơi một cách lạ kỳ.

Người bình thường ít biết rằng với chiếc mõ cũng có những sự tích gắn liền và gần như tất cả người làng mõ đề biết về sự tích ấy. Nhiều nghệ nhân trong làng mõ kể xưa kia có con cá kình theo thầy chùa, không chịu tu luyện, nên làm chuyện xằng bậy. Thầy chùa quở phạt, làm con cá kình ngộ ra và cúi đầu nhận tội, rồi bảo rằng, ngày ngày thầy cứ cầm dùi gõ vào đầu cá để cá ngộ ra. Từ đó, chiếc mõ phỏng theo hình đầu cá. Nên hoa văn chiếc mõ bao giờ cũng đục theo hoa văn vảy cá, vảy rồng.


Nghệ nhân Lê Thanh Liêm bên chiếc mõ đục dở.

Trong căn nhà nhỏ của mình luôn vang những tiếng đục, tiếng thử mõ, ngổn ngang những khúc gỗ đủ các cỡ để người làm mõ chế tác. Nghệ nhân Lê Thanh Liêm ở phường Thủy Xuân cặm cụi bên một chiếc mõ chưa thành hình. Với ông, hình như mõ đã gắn liền với cái nghiệp của ông vậy. Ông vẫn thường bảo mình là người có “duyên lành” với nghề làm mõ. Năm 18 tuổi, ông Liêm phải “gác bút” để học nghề mộc vì gia cảnh khó khăn. Sau đó, ông chuyển sang nghề chạm, rồi điêu khắc tượng. Nghệ thuật chạm khắc, tạo hình trang trí đã cuốn hút anh đam mê, gắn bó với nghề làm mõ cho đến ngày nay. Bây giờ, ông là một trong số ít những nghệ nhân làm mõ nổi tiếng của xứ Huế này.

Ông Liêm bảo, ngoài tư chất, còn chịu khó cất công lặn lội khắp nơi, ra Bắc vào Nam để học hỏi kinh nghiệm về nghề. Đến nay đã gần 20 năm trong nghề, tiếng mõ của ông đã khẳng định được vị thế trên thị trường. Một điều đặc biệt, ấy là toàn bộ công đoạn làm mõ đều bằng thủ công, mất nhiều thời gian và phải có kinh nghiệm. Tiếng kêu và vẻ đẹp của đường chạm trổ trên từng chiếc mõ là yếu tố phân biệt đẳng cấp của người làm mõ. Vì thế, rất ít người theo học được nghề này bởi nó cần sự kiên nhẫn và đam mê. Muốn làm xong một chiếc mõ nhỏ cần khoảng 2 ngày đối với người cao tay. Còn loại to thì phải mất cả nữa tháng, thậm chí phải mất cả tháng trời mới hoàn thành.


Một chiếc mõ lớn, thể hiện tài năng nghệ thuật của nghệ nhân làng Thủy Xuân.

Nhiều người từng ngỡ ngàng, khi ông Liêm mang tới đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội một chiếc mõ khổng lồ với trọng lượng lên tới 250kg cách đây 10 năm. Đặc biệt, dù là mõ nhưng khi dùng dùi để gõ vào thì phát ra âm thanh rất lớn, vọng như tiếng trống. Nhiều người thuở ấy đã bảo, chiếc mõ đó là ghép lại của nhiều thanh gỗ mít chứ không thể có cây mít nào to như thế để làm mõ được. Mỗi lần nghe mọi người hoài nghi về điều đó và cho tới tận bây giờ, ông Liêm vẫn chỉ cười, bảo một câu rằng: “Với mõ, người làm phải có tâm và tất cả mõ đều phải được làm từ gỗ nguyên khối. Người ta có thể không tin nhưng sự thật là vậy”.

Và ông Liêm cũng không ngại ngần kể về cơ duyên có được cây mít khủng. Đó là cây mít với tuổi đời hơn 200 năm ở sâu trong một ngôi làng heo hút. Ông mất gần 1 tháng mới chuyển về được. Có được gỗ, ông lại mất ngủ vì chắc chắn ông phải làm được cái mõ lớn nhất từ trước đến nay để phù hợp với quy mô của đại lễ. Để làm sao cho mõ vừa đẹp, tiếng mõ phải thanh thoát và nhìn vào nó, ai cũng biết được đây là cái mõ của 1.000 năm Thăng Long. Đó có lẽ là chiếc mõ cuộc đời ông.

Ngoài nghệ nhân Lê Thanh Liêm, gần đó còn có gia đình ông Phạm Ngọc Dư ở thôn Hạ II, phường Thủy Xuân, TP. Huế. Đây có lẽ là gia đình đặc biệt nhất của làng mõ, bởi 3 thế hệ đều theo nghề. Đời ông Dư, đến đời con và bây giờ là đời cháu cũng theo nghề làm mõ. Anh Phạm Ngọc Thanh Hải, cháu đích tôn của ông Phạm Ngọc Dư cũng đã theo nghề được nhiều năm.

Với tuổi mới chỉ sinh năm 1984, anh Hải đã giữ và theo được truyền thống được gọi là “mõ họ Phạm”, rất có tiếng không chỉ ở vùng này mà còn vang xa cả trong và ngoài nước bởi âm thanh vang, kiểu dáng chuẩn, độ bền cao. Anh Hải tự hào khi tiếng mõ từ gia đình mình đã vang xa khắp các vùng, ngõ ngách chùa chiền trong tỉnh, vang cả cùng trời cuối đất nước Việt, rồi sang tận Đài Loan, Nhật Bản và cả những đất nước xa xôi như Mỹ, Úc,...



Xưởng làm mõ tại làng Thủy Xuân.

Tiếng lòng trong mõ

Với nghệ nhân Lê Thanh Liêm, cũng như với gia đình mõ của ông Phạm Ngọc Dư, họ không chỉ đưa thương hiệu mõ Huế đi khắp các tỉnh thành trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Đó không hẳn chỉ là công việc để mưu sinh mà còn là tấm lòng của họ trong từng sản phẩm, là ước mơ đưa tiếng mõ Việt đi khắp nơi.

Nếu mọi người để ý một chút, có thể thấy mõ không xuất hiện ở chỗ lắm tiền nhiều của. Mõ cũng chẳng phải là thứ đồ dùng đắt khách, dễ mua hay dễ dùng, cũng như sản xuất đại trà theo kiểu công nghiệp như những mặt hàng khác. Và thực tế, chẳng mấy người có thể đủ tâm sức để theo nghề làm mõ. Thế nên, chỉ có thể là yêu tiếng mõ ấy lắm người ta mới gắn cuộc đời mình với việc làm ra những chiếc mõ. Những người như ông Liêm, ông Dư và các thế hệ đã âm thầm góp phần duy trì tiếng mõ yên bình, dẫu cho cuộc sống tất bật, xô bồ.

Nghề làm mõ kỳ công lắm. Để hoàn thành một cái mõ, mất rất nhiều thời gian và công sức. Nếu không có tình yêu, sự nhẫn nại thì khó có thể theo đuổi được. Bởi, một chiếc mõ hoàn thiện, trải qua rất nhiều công đoạn. Từ việc chọn gỗ, phác thảo thô, tạo ruột, khắc hoa văn, quét dầu bóng bảo vệ, cho đến phơi khô... Gỗ chọn làm mõ phải đạt được các tiêu chí như không nứt nẻ, cứng nhưng không giòn, không thấm nước. Đặc biệt độ dai, nạc nhưng phải có vân xoắn để khi gõ không bị lực làm bể.

Gỗ mít hiện vừa hiếm, vừa hay bị lỗi bên trong. Nhiều cây bề ngoài thì bình thường nhưng khi mua về đục ra thì bên trong bị hư. Một cây gỗ mua mấy chục triệu đồng thế là phải bỏ. Ngày xưa có nhiều loại gỗ tốt như trắc, mun. Nhưng rừng ngày càng bị thu hẹp nên những loài gỗ quý dần tuyệt chủng.

Bây giờ, khi làm mõ, người ta thường chọn gỗ mít là chính. Gỗ mít vừa đảm bảo được các tiêu chuẩn để làm mõ, hơn nữa không quá hiếm, giá thành lại tương đối rẻ. Một thợ giỏi phải làm mõ loại lớn này trong nhiều tháng mới xong. Hoa văn của mõ Huế thường là cá hóa rồng, dây lá, thư pháp... Ông Liêm chia sẻ như thế khi vừa đưa những nhát đục tài tình vào trong chiếc mõ đang dần thành hình của mình.



Sản phẩm mõ của xứ Huế.

Theo ông Liêm, một chiếc mõ chất lượng không chỉ đẹp với những hình chạm trổ bên ngoài mà quan trọng là âm thanh phát ra. Âm càng vang, càng trong thì càng hay. Khó nhất trong các công đoạn làm mõ là tạo tiếng, mà ngôn ngữ chuyên dụng là lấy tiếng cho mõ. Điều này cực kỳ khó, đòi hỏi sự hiểu biết và độ nhạy bén của nghề. Thực ra đó là cách đục hổng ruột của chiếc mõ. Mõ được cấu tạo theo miệng con cá, hai bên lỗ hổng tròn và một đường xẻ rãnh cắt ngang. Hoa văn của mõ Huế thường là cá hóa rồng, dây lá, thư pháp...

Nguyên lý âm thanh là khi đánh, lực tác dụng sẽ tạo ra âm, va vào thành ruột mõ, thoát ra từ hai bên. Khi tạo ruột mõ, phải linh hoạt, lát đục phải mềm mại, vì chỉ cần mạnh tay sẽ làm thủng vỏ của mõ nhưng nhẹ tay thì không đủ lực cho lát đục. Mõ sẽ kêu được hay hoặc không chính là bởi độ nhạy cảm nghề. Điều này, chỉ có những người có đôi tai đặc biệt, kết hợp với đôi tay nhuần nhuyễn mới có thể làm được.

Điều thú vị nhất là người giỏi nghề sẽ biết lấy cả tiếng mõ đực, mõ cái. Với những nghệ nhân như ông Liêm, ông Dư chỉ cần đi ngang qua chùa nghe tiếng mõ là biết ngay chùa đó có nữ tu hay nam tu. Tiếng mõ chùa nữ tu nghe vang “cốc cốc cốc”, còn chùa có nam tu sẽ có tiếng mõ nghe trầm hơn “cúng cúng cúng”, âm trầm. Theo các nhà nghiên cứu dân gian, thì âm thanh tiếng mõ thể hiện triết lý âm dương. Tiếng mõ đực nghe âm trầm nhưng rất vang, ngược lại, tiếng mõ cái thanh nhưng nhanh chìm. Có lẽ, với những người nghệ nhân khi làm mõ như thế này, họ phải đủ độ thiền tụng trong từng nhát đục, khi mỗi tiếng mõ cất lên, dù ở trong chùa hay trong nhà, đó như đã là một nhiệm mầu của sự sống rồi.

Những chiếc mõ do các nghệ nhân Thủy Xuân xứ Huế làm bây giờ không chỉ có mặt ở những ngôi chùa lớn nhỏ ở Huế như Từ Đàm, Từ Hiếu, Linh Mụ, Tường Vân, mà còn vào Nam ra Bắc và thậm chí là xuất sang các nước như Ấn Độ, Pháp, Mỹ, Canada. Những tiếng mõ làng Thủy Xuân bây giờ vẫn thế, cứ râm ran trong sự khắc khoải lòng người...

Theo CAND

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân Lô Thị Hương -  Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

Nghệ nhân Lô Thị Hương - Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

LNV - Hơn 80 năm gắn bó với làn điệu dân ca Thái, bà Hương đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tin khác

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.
Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH đến thăm, tặng quà cho các bệnh nhi tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh
Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái của Hợp tác xã Sơn Trà chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt hạng 5 sao OCOP cấp quốc gia
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

LVN - Sở Công Thương tỉnh Điện Biên vừa xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Trong đó, đối với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Điện Biên, Sở đề xuất giữ nguyên cơ cấu tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính; tiếp tục là đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Làng nghề Hồng Vân - Nơi giữ gìn nét đẹp truyền thống và du lịch sinh thái

Làng nghề Hồng Vân - Nơi giữ gìn nét đẹp truyền thống và du lịch sinh thái

làng quê Hồng Vân được ví như một ốc đảo xanh tươi, thanh bình bên bờ sông Hồng, là địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn
Giao diện di động