Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Đại tướng Lê Đức Anh – một người sâu sắc và bình dị

TBV -
LTS: Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Phạm Sanh Châu từng là người phiên dịch cho các lãnh đạo cao cấp thời Việt Nam bắt đầu hội nhập, trong đó có Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện với đại sứ Phạm Sanh Châu về những kỷ niệm về ông Lê Đức Anh.

Ông bắt đầu phiên dịch cho Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ khi nào?

Ông nhậm chức từ năm 1991 và kết thúc nhiệm kỳ năm 1997; còn tôi bắt đầu dịch cho ông từ năm 1993 và nhiều nhất là vào giai đoạn 1995-1997.


Ông Lê Đức Anh cùng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (khi ấy là Phó Thủ tướng) trong lễ mừng thọ năm 2014 của ông. Ảnh: VietNamNet


Dịch cho Chủ tịch Lê Đức Anh khác với những lãnh đạo khác thế nào?

Trong số 10 nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam mà tôi được phục vụ với tư cách phiên dịch viên, Chủ tịch Lê Đức Anh đã để lại trong tôi một dấu ấn hoàn toàn riêng biệt.

Thứ nhất, ông rất cao lớn, bề thế, tướng mạo lừng lững. Là vị Đại tướng kinh qua nhiều năm tháng trận mạc, ông tạo ra một uy rất lớn của người lãnh đạo.

Thứ hai, ông nói rất ít. Câu ngắn, ít từ, nhưng rất xúc tích. Trước khi nói, hoặc giữa các câu, thời gian lặng để ông chọn ra từ thích hợp rất lâu. Trong khi đó, ông Võ Văn Kiệt thường chỉ nói đại ý, ý ra trước từ ra sau, tôi phải hiểu ý ông để triển khai chuyển tải thành mạch câu. Ông Đỗ Mười thì nói hóm hỉnh, gần gũi, dân gian và hay pha trò.

Do cách diễn đạt của ông Lê Đức Anh, người nghe rất hồi hộp xem ông nói gì. Nhờ có thời gian làm quen với tư duy của ông nên khi ông nói ra tôi hiểu ngay ý ông. Tôi chỉ việc tìm từ hợp lý để dịch. Những câu nói của ông Lê Đức Anh rất sâu sắc và tôi cảm thấy sự từng trải của một người lính dày dạn trận mạc.

Khi dịch cho ông Lê Đức Anh câu chuyện luôn cẳng thẳng nặng nề vậy sao?

Cũng không hẳn. Có những lúc, câu chuyện của ông cũng nhẹ nhàng, nói chung là tùy theo bối cảnh. Có lần, gặp nguyên thủ một nước, ông nói một câu mà tôi rất ấn tượng: “Việt Nam chúng tôi còn rất nhiều khó khăn, mà một trong những khó khăn đó là chúng tôi phải giải quyết hậu quả chiến tranh…”


Ông Lê Đức Anh và phu nhân thăm trung đoàn không quân 937 vào tháng 5-1996. Ảnh: Tư liệu/ SGGP


Mệnh đề “giải quyết hậu quả chiến tranh” hồi đó các vị lãnh đạo hay nói lắm mà…

Đúng vậy, nhưng ấn tượng là ở câu giải thích tiếp theo. Ông nói: “Có lẽ, chẳng có nhiều nước như Việt Nam, dành dụm được bao nhiêu tiền lại phải dành một nửa trong số đó để chi trả cho những nạn nhân chiến tranh, hay gia đình những người đã hy sinh vì đất nước”. Tức là nước khác kiếm được tiền thì dành phần nhiều cho phát triển, còn Việt Nam phải dành một nửa để tri ân quá khứ.

Hay một lần, ông gặp Fidel Castro tại Hội nghị Các nước không liên kết ở Cartagena de Indias (Colombia) năm 1995. Lúc đó, Việt Nam đã mở cửa gần chục năm, còn Cuba hoàn toàn đóng cửa và họ hiểu lầm rằng Việt Nam đã đi chệch hướng chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra.

Không giải thích nhiều, ông Lê Đức Anh chỉ nói với Fidel một câu: “Bác Hồ của chúng tôi có nói một câu “dĩ bất biến ứng vạn biến” và chúng tôi cứ theo phương châm đó mà làm thôi”. Ông đã nhắc lại câu này trong chuyến đi thăm Cuba sau đó.

Thông điệp trong câu đó rất mạnh, tức là Việt Nam phải xác định được cái gì là nguyên tắc cốt lõi, và cái gì được phép linh hoạt, nếu không nhân dân ắt sẽ khổ. Fidel chỉ ghi nhận thôi, chứ Cuba đến 20 chục năm sau mới mở cửa.

Tức là ông Lê Đức Anh, khi nói chuyện với từng đối tượng khác nhau, luôn có cách nói khác nhau?

Đúng. Khi nói chuyện, ông luôn ngồi suy nghĩ xem ứng xử thế nào cho thích hợp, đưa ra ý kiến cá nhân của ông, bên cạnh việc sử dụng các kiến nghị phát biểu do các cơ quan chức năng chuẩn bị. Tôi rất thích ông ở đặc điểm này.

Trong những lần tháp tùng Chủ tịch nước Lê Đức Anh ra nước ngoài, ông nhớ nhất chuyến đi nào?

Tất nhiên, đó là chuyến đi New York (Mỹ) vào tháng 9/1995, Chủ tịch Lê Đức Anh tham dự phiên họp của Liên Hợp Quốc. Việt Nam mới bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ vào tháng 7 và chưa bổ nhiệm Đại sứ, mà chỉ có Đại sứ Ngô Quang Xuân, Trưởng Phái đoàn Đại diện của Việt Nam tại New York.

Đại sứ Ngô Quang Xuân đã khóc, khi lần đầu tiên thấy máy bay Việt Nam, do phi công Nguyễn Thành Trung (người ném bom xuống Dinh Độc lập tháng 4/1975) lái, hạ cánh xuống đất Mỹ, và anh Trung đã vẫy cờ Việt Nam ra từ trong buồng lái, lúc máy bay lăn bánh vào bãi đỗ.

Trong chuyến đi đó, Chủ tịch Lê Đức Anh đã thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam tặng Liên Hiệp Quốc một phiên bản trống đồng, và đã đọc một bài diễn văn rất ý nghĩa. Tổng thư ký LHQ Boutros Boutros-Ghali đã đáp từ bằng một bài diễn văn giàu cảm xúc.

Cũng trong chuyến đó có một kỷ niệm tôi cho rất sâu sắc, khi Chủ tịch Lê Đức Anh quyết định đi thăm thành phố Harlem, nằm cạnh New York. Đây là thành phố toàn người nghèo, nơi Bác Hồ đã từng đến. Tất cả mọi người đều không đồng ý, kể cả an ninh Mỹ vì không có trong chương trình. Nhưng cái chính là họ sợ không đảm bảo được an ninh vì Harlem có nhiều tội phạm. Tuy nhiên, Chủ tịch Lê Đức Anh đã quyết và mọi người phải nghe theo.

Vì không có địa chỉ cụ thể, Chủ tịch bảo cứ đi đến khu đó vì ông muốn thăm nơi Bác Hồ đã từng sống. Lúc đến khu vực Harlem, tôi ngồi trên xe với vệ sĩ của đoàn, và thấy tất cả các sĩ quan tháp tùng của Mỹ đồng thời lên đạn hết các loại súng và cho mở tất cả cửa xe trong khi ô tô đang chạy. Họ sẵn sàng nhảy xuống và nổ súng, nếu gặp bất trắc.

Sau đó, Chủ tịch Lê Đức Anh bảo xe dừng lại, ông đi xuống xe và lên vỉa hè đi về phía một người da đen trông rất nghèo khổ. Mọi người nín thở chờ đợi, trong khi ông cứ thản nhiên hỏi chuyện người da đen ấy. Tôi lúc ấy phải đến bên cạnh để dịch. Đúng là ông tướng chiến trường có khác, tôi thầm nghĩ, chẳng coi chuyện mà an ninh Mỹ lo sợ là gì.

Sau Bác Hồ, ông Lê Đức Anh là Chủ tịch nước duy nhất nắm cả quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Điều đó tạo ra sự khác biệt ở ông?

Tôi có cảm nhận điều đó khi đi dịch cho cả ba vị lãnh đạo tối cao lúc đó.

Tổng Bí thư Đỗ Mười chuyên về tư tưởng, đường lối. Cá nhân ông cũng đọc rất nhiều và quan tâm đến đường lối phát triển kinh tế. Thủ tướng Võ Văn Kiệt thiên về các biện pháp mạnh mẽ, táo bạo nhằm đổi mới kinh tế. Chủ tịch Nước Lê Đức Anh nắm cả ba lĩnh vực, như anh nói. Lúc đó Bộ Ngoại giao thường báo cáo với Chủ tịch nước Lê Đức Anh để xin chủ trương.

Có phải trong việc bình thường hóa với Trung Quốc năm 1991, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh có vai trò khơi mào quan trọng, nên sau khi lên Chủ tịch nước ông nắm luôn là ngành ngoại giao?

Lúc đó còn trẻ và còn là phiên dịch viên, nên tôi chỉ biết đó là phân công trong Bộ Chính trị. Vào thời điểm đó, Việt Nam chưa bình thường hoá quan hệ với các nước lớn, chưa hội nhập với khu vực và thế giới, việc trao trọng trách như thế cũng thuận.

Mãi đến năm 1995, Việt Nam mới bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN, cũng như ký Hiệp định Hợp tác với Liên minh châu Âu... Một đồng chí lãnh đạo cấp cao vào thời điểm đó phụ trách ba ngành an ninh, quốc phòng và ngoại giao khiến mọi việc được quyết định đồng bộ hơn.

Một nhà báo có nói rằng, thời kỳ ba ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt là thời “tam nhân phân quyền”. Ông có cảm thấy điều đó không?

Tôi có quan sát, và lại thấy nhiều quyết định quan trọng đều do ba ông bàn với nhau, quyết định về chủ trương, rồi phân công cho người phụ trách lĩnh vực đó xử lý cụ thể, hay phát biểu ra bên ngoài, tùy hoàn cảnh. Đương nhiên có các cơ chế khác của Đảng bao gồm Bộ Chính trị và Ban Bí thư, Hội nghị Trung ương và Đại hội Đảng quyết định đường lối chung.

Tôi nhớ có một lần đi tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt dự Hội nghị Cấp cao không chính thức tháng 11/1996 tại Jakarta (Indonesia), Thủ tướng nói Tổng Bí thư và Chủ tịch nước giao ông một nhiệm vụ quan trọng mà ông không phải là người trực tiếp phụ trách.

Đó là việc gì?

Là đến nhà riêng để chia buồn với Tổng thống Suharto vì vợ ông ta mới mất, và tác động với Tổng thống để có thể sớm kết thúc đàm phán về thềm lục địa chồng lấn với Indonesia (bây giờ vẫn chưa xong – PV).

Đi dịch cho ba vị lãnh đạo ấy, ông thích làm việc với ai nhất?

Trong số 10 nhà lãnh đạo tôi đi dịch, tôi thích ông Lê Đức Anh nhất, mặc dù thời gian đi dịch không nhiều.

Vì sao?

Về quan hệ tình cảm, tôi khá gần với Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải. Nhưng Chủ tịch Lê Đức Anh là người đầu tiên cho tôi ân tình giữa người lãnh đạo và người phiên dịch.

Khi được giới thiệu là phiên dịch viên đi cùng ông, tự nhiên ông cầm lấy tay tôi và hỏi han về gia đình rất ân cần, rất kỹ lưỡng và rất lâu. Đó không phải tác phong của Tổng Bí Thư Đỗ Mười hay của Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ông ngồi hỏi cặn kẽ “ba cháu làm gì, mẹ cháu làm gì, nhà cháu ở đâu, anh em cháu thế nào, vợ con ra sao”. Tôi cảm nhận đó là sự chân tình rất thật, chứ không phải hỏi xã giao. Ông hỏi để biết con người sẽ phiên dịch cho mình là con người thế nào. Tôi cảm thấy rất ấm áp và trân trọng sự ân cần và tình cảm của ông. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy thực sự xúc động trong lòng, khi làm việc với lãnh đạo cấp cao.

Sau đó, có một câu chuyện xẩy ra trong chuyến đi của Chủ tịch nước tới thăm căn cứ Subic của Philippines, sau khi ông thăm chính thức thủ đô Manila năm 1995. Khi sang Subic, Thống đốc Subic mở đại tiệc hoành tráng đón tiếp ông. Tham dự có các quan chức đi cùng. Về nguyên tắc, phiên dịch viên như tôi phải ngồi phía sau, không có ghế trong bàn tiệc.

Nhưng tự nhiên ông Lê Đức Anh hỏi: “Ghế của phiên dịch của tôi đâu?” Họ chỉ ở phía sau và ông không đồng ý. Họ rất bối rối vì chưa có tiền lệ như vậy. Để chiều ông họ buộc phải mang thêm ghế lên cho tôi ngồi cạnh ông trong bàn ăn.

Lần thứ ba là chính ông Lê Đức Anh đã viết thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Ngoại giao, đề nghị giúp đỡ tôi ứng cử vào vị trí Tổng Giám đốc UNESCO.

Khi đang làm Đại sứ tại EU ở Bruxel (Bỉ), tôi thấy bà Bokova người Bulgaria, một nước nhỏ vừa gia nhập Liên minh Châu Âu, ra ứng cử vị trí Tổng giám đốc UNESCO thành công. Tôi mới nghĩ tại sao mình không thử xem.

Trong một chuyến về nước công tác, tôi chia sẻ ý định đó cho các vị lãnh đạo mà tôi quen biết. Mọi người đều ủng hộ bằng lời nói, nhưng chỉ có nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh thể hiện bằng hành động thiết thực - đó là viết thư cho Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao.

Đương nhiên thư của Chủ tịch chỉ có giá trị giới thiệu và tham khảo, vì quyết định giới thiệu một ứng cử viên của một quốc gia vào một vị trí lãnh đạo cao nhất của một tổ chức chuyên môn thuộc LHQ là một chuyện lớn, một quyết định có ý nghĩa quan trọng ở tầm quốc gia, nên phải cân nhắc thuận - nghịch, được - mất nhiều mặt, phải có qui trình tham khảo các bộ, ngành, phải thăm dò khả năng thắng cử và phải khảo sát khả năng đề cử của các quốc gia khác...

Hơn nữa, phải tổng hợp các ý kiến để trình Thủ tướng xin chủ trương. Sau khi Thủ tướng đồng ý lại trình xin ý kiến Ban Bí thư. Chuyện đó dài lắm, lúc nào tôi sẽ kể cho anh sau.

Xin hỏi ông câu cuối cùng. Là người có phong cách làm việc là gần gũi các lãnh đạo để giúp cho công việc phiên dịch tốt hơn, ông thấy ông Lê Đức Anh là người như thế nào?

Ông là người bình dị, ăn mặc đơn giản. Từ khi đi với ông, tôi cố gắng chọn bộ quần áo trang trọng mà giản dị để tôn vinh ông.

Thứ hai là ông luôn cố gắng tự làm mọi việc, mặc dù đôi khi sức khỏe ông không được tốt. Có những lúc thấy ông đi liêu xiêu, tôi muốn đỡ ông, nhưng ông bảo để ông tự đi. Có lẽ, năm tháng của đời lính đã rèn giũa ông có phẩm chất như vậy.

Thứ ba là ông rất kỷ luật về giờ giấc về tác phong. Khi họp ông ngồi nghe chăm chú từ đầu đến cuối, không bao giờ bỏ ra ngoài. Ông bảo phải tôn trọng họ ngay cả khi ông họp Hội nghị Cấp cao Liên hiệp quốc, nơi các nhà lãnh đạo khác chỉ đến khi họ phát biểu và rời ngay phòng họp khi phát biểu xong.

Nhưng trên hết cả, ông là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược. Dưới thời ông, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc và Hoa Kỳ, gia nhập ASEAN và khởi động quá trình hội nhập quốc tế.

Ông là người lãnh đạo giản dị, gần gũi, chân tình, nhưng rất sâu sắc và nhân văn.

Xin cám ơn ông về cuộc nói chuyện chân tình này.


Huỳnh Phan
Theo Vietnamnet

Tin liên quan

Tin mới hơn

Giữ hương vị biển, nâng tầm giá trị làng nghề

Giữ hương vị biển, nâng tầm giá trị làng nghề

Từ khát vọng giữ nghề truyền thống của quê hương vùng biển Bảo Ninh, bà Đào Thị Tám, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chế biến thủy sản Long Tám ở phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị...
Khánh Hòa: Trồng dưa lưới công nghệ cao, năng suất vượt trội

Khánh Hòa: Trồng dưa lưới công nghệ cao, năng suất vượt trội

Việc ứng dụng công nghệ cao tại hai cơ sở trồng dưa lưới ở khu vực Nam Khánh Hòa (thuộc địa bàn tỉnh Ninh Thuận trước đây) đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Năng suất đạt khoảng 33–35 tấn/ha/vụ, trong đó tỷ lệ quả loại 1 chiếm từ 85 - 88%. Đáng chú ý, sản phẩm dưa lưới tại đây đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, khẳng định chất lượng và hướng đi sản xuất an toàn, bền vững.
Tăng tốc du lịch hè, Lâm Đồng khẳng định vị thế điểm đến

Tăng tốc du lịch hè, Lâm Đồng khẳng định vị thế điểm đến

Bước vào cao điểm du lịch hè, thị trường du lịch Lâm Đồng trở nên sôi động hơn bao giờ hết với hàng loạt chương trình kích cầu, gói ưu đãi hấp dẫn cùng nhiều sản phẩm, dịch vụ mới được tung ra. Từ các khu, điểm du lịch nổi tiếng đến hệ thống lưu trú, lữ hành đều chủ động làm mới trải nghiệm, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách.
Giá cam sành tăng từng ngày, nông dân Vĩnh Long phấn khởi

Giá cam sành tăng từng ngày, nông dân Vĩnh Long phấn khởi

Sau một thời gian dài đối mặt với tình trạng giá cả bấp bênh, những ngày đầu tháng 4, người trồng cam sành tại tỉnh Vĩnh Long đang sống trong bầu không khí phấn khởi khi giá cam liên tục “nhảy múa” theo chiều hướng tăng mạnh. Niềm vui hiện rõ trên gương mặt những người nông dân khi thành quả lao động được đền đáp xứng đáng.
Quảng Trị: Trồng ngô sinh khối mang lại hiệu quả cao

Quảng Trị: Trồng ngô sinh khối mang lại hiệu quả cao

Thay bằng cách lấy hạt thông thường, cây ngô đang được nông dân một số nơi ở phía bắc tỉnh Quảng Trị khai thác theo cách khác, đó là trồng ngô sinh khối mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Mô hình này góp phần thay đổi phương thức canh tác, tạo ra mối liên kết giữa nhà nông, chính quyền và doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp.
Đắk Lắk gắn du lịch thân thiện với bảo tồn giá trị núi rừng

Đắk Lắk gắn du lịch thân thiện với bảo tồn giá trị núi rừng

Thay vì những trải nghiệm cưỡi voi băng sông, vượt đồi như trước, du khách đến với Buôn Đôn (Đắk Lắk) nay dần chuyển sang các hoạt động thân thiện hơn như chụp ảnh cùng voi, cho voi ăn và lắng nghe những câu chuyện về “huyền thoại núi rừng”.

Tin khác

Giỗ Tổ Hùng Vương: Bảo tồn giá trị truyền thống, kết nối tinh thần dân tộc Việt

Giỗ Tổ Hùng Vương: Bảo tồn giá trị truyền thống, kết nối tinh thần dân tộc Việt

Cứ vào tháng Ba âm lịch hằng năm, dòng người từ khắp mọi miền Tổ quốc và kiều bào ở nước ngoài lại hướng về Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, nơi hội tụ linh khí thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.
Học viện Chính trị Công an nhân dân triển khai phân loại rác tại nguồn

Học viện Chính trị Công an nhân dân triển khai phân loại rác tại nguồn

LNV - Sáng 13/4/2026, tại Học viện Chính trị Công an nhân dân (CAND), chương trình triển khai mô hình “phân loại rác thải tại nguồn” được tổ chức, đồng thời đưa vào sử dụng 50 thùng rác nhựa phục vụ công tác thu gom, phân loại trong toàn khuôn viên. Hoạt động này được xem là bước đi cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, góp phần xây dựng môi trường học đường theo hướng xanh, sạch, văn minh.
Xem xét chuyển giao Vườn Quốc gia Ba Vì về Hà Nội quản lý

Xem xét chuyển giao Vườn Quốc gia Ba Vì về Hà Nội quản lý

Ngày 13-4, thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ về việc xem xét đề xuất chuyển giao Vườn Quốc gia Ba Vì về UBND thành phố Hà Nội quản lý.
Gia Lai có thêm 13 vùng trồng sầu riêng đạt chuẩn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

Gia Lai có thêm 13 vùng trồng sầu riêng đạt chuẩn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

LNV - Gia Lai chính thức nâng tổng số vùng trồng được cấp mã lên 306, mở cánh cửa xuất khẩu chính ngạch cho nông sản địa phương.
Gia Lai thúc đẩy giao thông xanh, giảm phụ thuộc xăng dầu

Gia Lai thúc đẩy giao thông xanh, giảm phụ thuộc xăng dầu

LNV - Gia Lai triển khai đồng bộ các giải pháp tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và xanh hóa giao thông, từng bước giảm phụ thuộc xăng dầu.
“Nhà khoa học của nhà nông” và khát vọng hồi sinh trà hoa vàng Việt

“Nhà khoa học của nhà nông” và khát vọng hồi sinh trà hoa vàng Việt

Giữa những cánh rừng vùng trung du Bắc Bộ, có một loài hoa từng đứng trước nguy cơ mai một trà hoa vàng. Và cũng từ nơi ấy, một người phụ nữ đã lặng lẽ bắt đầu hành trình hồi sinh loài dược liệu quý, với niềm tin rằng nông nghiệp xanh có thể trở thành “mỏ vàng” thực sự của Việt Nam. Đó là câu chuyện của bà Phạm Thị Lý - người được nhiều nông dân gọi bằng cái tên giản dị: “nhà khoa học của nhà nông”.
Tam nông” tạo lực đẩy cho Lai Châu bứt phá

Tam nông” tạo lực đẩy cho Lai Châu bứt phá

Phát triển nông nghiệp xanh gắn xây dựng nông thôn mới, Lai Châu hướng tới nâng cao thu nhập và giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 10%.
Gia Lai: Nhiều động vật hoang dã quý hiếm được thả về rừng tự nhiên

Gia Lai: Nhiều động vật hoang dã quý hiếm được thả về rừng tự nhiên

LNV - Gia Lai vừa tái thả 8 cá thể động vật hoang dã quý hiếm về rừng tự nhiên tại Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh sau thời gian cứu hộ, phục hồi.
Lan tỏa giá trị di sản, tạo động lực phát triển bền vững

Lan tỏa giá trị di sản, tạo động lực phát triển bền vững

Sau khi được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh, di sản văn hóa thế giới Yên Tử đang đứng trước cơ hội để khẳng định không chỉ là điểm đến tâm linh, mà là trung tâm văn hóa, trí tuệ mang tầm vóc toàn cầu.
Khu 10 Liên Hoa (Tam Nông): Điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Khu 10 Liên Hoa (Tam Nông): Điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Những ngày tháng Tư lịch sử, về Khu 10 Liên Hoa, xã Tam Nông (Phú Thọ), dễ dàng cảm nhận không khí rộn ràng lan tỏa khắp từng ngõ xóm.
Ngược dòng sông Đà: 7 ngày, 10 phiên chợ và những phận người bám sóng

Ngược dòng sông Đà: 7 ngày, 10 phiên chợ và những phận người bám sóng

Sông Đà mênh mang, đẹp đến mê hoặc với núi non soi bóng, nhưng cũng dữ dằn đến khôn lường. Chỉ một cơn bão bất chợt, mặt nước hiền hòa lập tức hóa thành sóng dữ, cuốn phăng tài sản, ước mơ và cả cuộc mưu sinh của những con người bám sông
Làng nghề trước yêu cầu nâng tầm: Hướng đi nào tất yếu?

Làng nghề trước yêu cầu nâng tầm: Hướng đi nào tất yếu?

Với 1.350 làng nghề và làng có nghề, Hà Nội sở hữu một kho tàng giá trị quý giá cả về văn hóa lẫn kinh tế. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh mới, mô hình sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết đã bộc lộ nhiều hạn chế, đòi hỏi những hướng đi đồng bộ và hiệu quả hơn để nâng tầm các làng nghề.
Gò Găng nâng tầm nón lá, tạo đòn bẩy kinh tế nông thôn Gia Lai

Gò Găng nâng tầm nón lá, tạo đòn bẩy kinh tế nông thôn Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng ở phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai, có 578 hộ dân đang tham gia làm nghề nón lá.
Nghệ nhân Chu Văn Ân và kiệt tác “Cội nguồn”: Đánh thức giá trị gỗ quý ngàn năm

Nghệ nhân Chu Văn Ân và kiệt tác “Cội nguồn”: Đánh thức giá trị gỗ quý ngàn năm

Trong dòng chảy nghệ thuật điêu khắc gỗ Việt Nam, tác phẩm “Cội nguồn” của nghệ nhân Chu Văn Ân không chỉ xác lập dấu ấn về quy mô mà còn mở ra hành trình phục dựng vẻ đẹp của dòng gỗ lũa trai vàng quý hiếm có niên đại hàng nghìn năm.
Quảng Trị: Định vị điểm đến, tạo đòn bẩy bứt tốc du lịch

Quảng Trị: Định vị điểm đến, tạo đòn bẩy bứt tốc du lịch

Việc HĐND tỉnh Quảng Trị thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050 là bước đi chiến lược. Đồng thời mở hướng mới cho du lịch, với các điểm đến được định vị rõ vai trò, trở thành hạt nhân thúc đẩy tăng trưởng và nâng tầm giá trị du lịch địa phương.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Giữ hương vị biển, nâng tầm giá trị làng nghề

Giữ hương vị biển, nâng tầm giá trị làng nghề

Từ khát vọng giữ nghề truyền thống của quê hương vùng biển Bảo Ninh, bà Đào Thị Tám, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chế biến thủy sản Long Tám ở phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị...
Khánh Hòa: Trồng dưa lưới công nghệ cao, năng suất vượt trội

Khánh Hòa: Trồng dưa lưới công nghệ cao, năng suất vượt trội

Việc ứng dụng công nghệ cao tại hai cơ sở trồng dưa lưới ở khu vực Nam Khánh Hòa (thuộc địa bàn tỉnh Ninh Thuận trước đây) đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Năng suất đạt khoảng 33–35 tấn/ha/vụ, trong đó tỷ lệ quả loại 1 chiếm từ 85 - 88%. Đáng chú ý, sản phẩm dưa lưới tại đây đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, khẳng định chất lượng và hướng đi sản xuất an toàn, bền vững.
Tăng tốc du lịch hè, Lâm Đồng khẳng định vị thế điểm đến

Tăng tốc du lịch hè, Lâm Đồng khẳng định vị thế điểm đến

Bước vào cao điểm du lịch hè, thị trường du lịch Lâm Đồng trở nên sôi động hơn bao giờ hết với hàng loạt chương trình kích cầu, gói ưu đãi hấp dẫn cùng nhiều sản phẩm, dịch vụ mới được tung ra.
Học sinh Gia Lai kỳ vọng bứt phá với dự án BESOP

Học sinh Gia Lai kỳ vọng bứt phá với dự án BESOP

LNV - Xuất sắc lọt vào top 135 dự án vào vòng chung kết cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” lần thứ VIII, nhóm học sinh đến từ Gia Lai đang tích cực hoàn thiện dự án, sẵn sàng tranh tài ở sân chơi cấp quốc gia diễn ra từ ngày 17/4 – 19/4.
Giá cam sành tăng từng ngày, nông dân Vĩnh Long phấn khởi

Giá cam sành tăng từng ngày, nông dân Vĩnh Long phấn khởi

Sau một thời gian dài đối mặt với tình trạng giá cả bấp bênh, những ngày đầu tháng 4, người trồng cam sành tại tỉnh Vĩnh Long đang sống trong bầu không khí phấn khởi khi giá cam liên tục “nhảy múa”
Giao diện di động