Đại tướng Lê Đức Anh – một người sâu sắc và bình dị

TBV -
LTS: Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Phạm Sanh Châu từng là người phiên dịch cho các lãnh đạo cao cấp thời Việt Nam bắt đầu hội nhập, trong đó có Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện với đại sứ Phạm Sanh Châu về những kỷ niệm về ông Lê Đức Anh.

Ông bắt đầu phiên dịch cho Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ khi nào?

Ông nhậm chức từ năm 1991 và kết thúc nhiệm kỳ năm 1997; còn tôi bắt đầu dịch cho ông từ năm 1993 và nhiều nhất là vào giai đoạn 1995-1997.


Ông Lê Đức Anh cùng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (khi ấy là Phó Thủ tướng) trong lễ mừng thọ năm 2014 của ông. Ảnh: VietNamNet


Dịch cho Chủ tịch Lê Đức Anh khác với những lãnh đạo khác thế nào?

Trong số 10 nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam mà tôi được phục vụ với tư cách phiên dịch viên, Chủ tịch Lê Đức Anh đã để lại trong tôi một dấu ấn hoàn toàn riêng biệt.

Thứ nhất, ông rất cao lớn, bề thế, tướng mạo lừng lững. Là vị Đại tướng kinh qua nhiều năm tháng trận mạc, ông tạo ra một uy rất lớn của người lãnh đạo.

Thứ hai, ông nói rất ít. Câu ngắn, ít từ, nhưng rất xúc tích. Trước khi nói, hoặc giữa các câu, thời gian lặng để ông chọn ra từ thích hợp rất lâu. Trong khi đó, ông Võ Văn Kiệt thường chỉ nói đại ý, ý ra trước từ ra sau, tôi phải hiểu ý ông để triển khai chuyển tải thành mạch câu. Ông Đỗ Mười thì nói hóm hỉnh, gần gũi, dân gian và hay pha trò.

Do cách diễn đạt của ông Lê Đức Anh, người nghe rất hồi hộp xem ông nói gì. Nhờ có thời gian làm quen với tư duy của ông nên khi ông nói ra tôi hiểu ngay ý ông. Tôi chỉ việc tìm từ hợp lý để dịch. Những câu nói của ông Lê Đức Anh rất sâu sắc và tôi cảm thấy sự từng trải của một người lính dày dạn trận mạc.

Khi dịch cho ông Lê Đức Anh câu chuyện luôn cẳng thẳng nặng nề vậy sao?

Cũng không hẳn. Có những lúc, câu chuyện của ông cũng nhẹ nhàng, nói chung là tùy theo bối cảnh. Có lần, gặp nguyên thủ một nước, ông nói một câu mà tôi rất ấn tượng: “Việt Nam chúng tôi còn rất nhiều khó khăn, mà một trong những khó khăn đó là chúng tôi phải giải quyết hậu quả chiến tranh…”


Ông Lê Đức Anh và phu nhân thăm trung đoàn không quân 937 vào tháng 5-1996. Ảnh: Tư liệu/ SGGP


Mệnh đề “giải quyết hậu quả chiến tranh” hồi đó các vị lãnh đạo hay nói lắm mà…

Đúng vậy, nhưng ấn tượng là ở câu giải thích tiếp theo. Ông nói: “Có lẽ, chẳng có nhiều nước như Việt Nam, dành dụm được bao nhiêu tiền lại phải dành một nửa trong số đó để chi trả cho những nạn nhân chiến tranh, hay gia đình những người đã hy sinh vì đất nước”. Tức là nước khác kiếm được tiền thì dành phần nhiều cho phát triển, còn Việt Nam phải dành một nửa để tri ân quá khứ.

Hay một lần, ông gặp Fidel Castro tại Hội nghị Các nước không liên kết ở Cartagena de Indias (Colombia) năm 1995. Lúc đó, Việt Nam đã mở cửa gần chục năm, còn Cuba hoàn toàn đóng cửa và họ hiểu lầm rằng Việt Nam đã đi chệch hướng chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra.

Không giải thích nhiều, ông Lê Đức Anh chỉ nói với Fidel một câu: “Bác Hồ của chúng tôi có nói một câu “dĩ bất biến ứng vạn biến” và chúng tôi cứ theo phương châm đó mà làm thôi”. Ông đã nhắc lại câu này trong chuyến đi thăm Cuba sau đó.

Thông điệp trong câu đó rất mạnh, tức là Việt Nam phải xác định được cái gì là nguyên tắc cốt lõi, và cái gì được phép linh hoạt, nếu không nhân dân ắt sẽ khổ. Fidel chỉ ghi nhận thôi, chứ Cuba đến 20 chục năm sau mới mở cửa.

Tức là ông Lê Đức Anh, khi nói chuyện với từng đối tượng khác nhau, luôn có cách nói khác nhau?

Đúng. Khi nói chuyện, ông luôn ngồi suy nghĩ xem ứng xử thế nào cho thích hợp, đưa ra ý kiến cá nhân của ông, bên cạnh việc sử dụng các kiến nghị phát biểu do các cơ quan chức năng chuẩn bị. Tôi rất thích ông ở đặc điểm này.

Trong những lần tháp tùng Chủ tịch nước Lê Đức Anh ra nước ngoài, ông nhớ nhất chuyến đi nào?

Tất nhiên, đó là chuyến đi New York (Mỹ) vào tháng 9/1995, Chủ tịch Lê Đức Anh tham dự phiên họp của Liên Hợp Quốc. Việt Nam mới bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ vào tháng 7 và chưa bổ nhiệm Đại sứ, mà chỉ có Đại sứ Ngô Quang Xuân, Trưởng Phái đoàn Đại diện của Việt Nam tại New York.

Đại sứ Ngô Quang Xuân đã khóc, khi lần đầu tiên thấy máy bay Việt Nam, do phi công Nguyễn Thành Trung (người ném bom xuống Dinh Độc lập tháng 4/1975) lái, hạ cánh xuống đất Mỹ, và anh Trung đã vẫy cờ Việt Nam ra từ trong buồng lái, lúc máy bay lăn bánh vào bãi đỗ.

Trong chuyến đi đó, Chủ tịch Lê Đức Anh đã thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam tặng Liên Hiệp Quốc một phiên bản trống đồng, và đã đọc một bài diễn văn rất ý nghĩa. Tổng thư ký LHQ Boutros Boutros-Ghali đã đáp từ bằng một bài diễn văn giàu cảm xúc.

Cũng trong chuyến đó có một kỷ niệm tôi cho rất sâu sắc, khi Chủ tịch Lê Đức Anh quyết định đi thăm thành phố Harlem, nằm cạnh New York. Đây là thành phố toàn người nghèo, nơi Bác Hồ đã từng đến. Tất cả mọi người đều không đồng ý, kể cả an ninh Mỹ vì không có trong chương trình. Nhưng cái chính là họ sợ không đảm bảo được an ninh vì Harlem có nhiều tội phạm. Tuy nhiên, Chủ tịch Lê Đức Anh đã quyết và mọi người phải nghe theo.

Vì không có địa chỉ cụ thể, Chủ tịch bảo cứ đi đến khu đó vì ông muốn thăm nơi Bác Hồ đã từng sống. Lúc đến khu vực Harlem, tôi ngồi trên xe với vệ sĩ của đoàn, và thấy tất cả các sĩ quan tháp tùng của Mỹ đồng thời lên đạn hết các loại súng và cho mở tất cả cửa xe trong khi ô tô đang chạy. Họ sẵn sàng nhảy xuống và nổ súng, nếu gặp bất trắc.

Sau đó, Chủ tịch Lê Đức Anh bảo xe dừng lại, ông đi xuống xe và lên vỉa hè đi về phía một người da đen trông rất nghèo khổ. Mọi người nín thở chờ đợi, trong khi ông cứ thản nhiên hỏi chuyện người da đen ấy. Tôi lúc ấy phải đến bên cạnh để dịch. Đúng là ông tướng chiến trường có khác, tôi thầm nghĩ, chẳng coi chuyện mà an ninh Mỹ lo sợ là gì.

Sau Bác Hồ, ông Lê Đức Anh là Chủ tịch nước duy nhất nắm cả quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Điều đó tạo ra sự khác biệt ở ông?

Tôi có cảm nhận điều đó khi đi dịch cho cả ba vị lãnh đạo tối cao lúc đó.

Tổng Bí thư Đỗ Mười chuyên về tư tưởng, đường lối. Cá nhân ông cũng đọc rất nhiều và quan tâm đến đường lối phát triển kinh tế. Thủ tướng Võ Văn Kiệt thiên về các biện pháp mạnh mẽ, táo bạo nhằm đổi mới kinh tế. Chủ tịch Nước Lê Đức Anh nắm cả ba lĩnh vực, như anh nói. Lúc đó Bộ Ngoại giao thường báo cáo với Chủ tịch nước Lê Đức Anh để xin chủ trương.

Có phải trong việc bình thường hóa với Trung Quốc năm 1991, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh có vai trò khơi mào quan trọng, nên sau khi lên Chủ tịch nước ông nắm luôn là ngành ngoại giao?

Lúc đó còn trẻ và còn là phiên dịch viên, nên tôi chỉ biết đó là phân công trong Bộ Chính trị. Vào thời điểm đó, Việt Nam chưa bình thường hoá quan hệ với các nước lớn, chưa hội nhập với khu vực và thế giới, việc trao trọng trách như thế cũng thuận.

Mãi đến năm 1995, Việt Nam mới bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN, cũng như ký Hiệp định Hợp tác với Liên minh châu Âu... Một đồng chí lãnh đạo cấp cao vào thời điểm đó phụ trách ba ngành an ninh, quốc phòng và ngoại giao khiến mọi việc được quyết định đồng bộ hơn.

Một nhà báo có nói rằng, thời kỳ ba ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt là thời “tam nhân phân quyền”. Ông có cảm thấy điều đó không?

Tôi có quan sát, và lại thấy nhiều quyết định quan trọng đều do ba ông bàn với nhau, quyết định về chủ trương, rồi phân công cho người phụ trách lĩnh vực đó xử lý cụ thể, hay phát biểu ra bên ngoài, tùy hoàn cảnh. Đương nhiên có các cơ chế khác của Đảng bao gồm Bộ Chính trị và Ban Bí thư, Hội nghị Trung ương và Đại hội Đảng quyết định đường lối chung.

Tôi nhớ có một lần đi tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt dự Hội nghị Cấp cao không chính thức tháng 11/1996 tại Jakarta (Indonesia), Thủ tướng nói Tổng Bí thư và Chủ tịch nước giao ông một nhiệm vụ quan trọng mà ông không phải là người trực tiếp phụ trách.

Đó là việc gì?

Là đến nhà riêng để chia buồn với Tổng thống Suharto vì vợ ông ta mới mất, và tác động với Tổng thống để có thể sớm kết thúc đàm phán về thềm lục địa chồng lấn với Indonesia (bây giờ vẫn chưa xong – PV).

Đi dịch cho ba vị lãnh đạo ấy, ông thích làm việc với ai nhất?

Trong số 10 nhà lãnh đạo tôi đi dịch, tôi thích ông Lê Đức Anh nhất, mặc dù thời gian đi dịch không nhiều.

Vì sao?

Về quan hệ tình cảm, tôi khá gần với Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải. Nhưng Chủ tịch Lê Đức Anh là người đầu tiên cho tôi ân tình giữa người lãnh đạo và người phiên dịch.

Khi được giới thiệu là phiên dịch viên đi cùng ông, tự nhiên ông cầm lấy tay tôi và hỏi han về gia đình rất ân cần, rất kỹ lưỡng và rất lâu. Đó không phải tác phong của Tổng Bí Thư Đỗ Mười hay của Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ông ngồi hỏi cặn kẽ “ba cháu làm gì, mẹ cháu làm gì, nhà cháu ở đâu, anh em cháu thế nào, vợ con ra sao”. Tôi cảm nhận đó là sự chân tình rất thật, chứ không phải hỏi xã giao. Ông hỏi để biết con người sẽ phiên dịch cho mình là con người thế nào. Tôi cảm thấy rất ấm áp và trân trọng sự ân cần và tình cảm của ông. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy thực sự xúc động trong lòng, khi làm việc với lãnh đạo cấp cao.

Sau đó, có một câu chuyện xẩy ra trong chuyến đi của Chủ tịch nước tới thăm căn cứ Subic của Philippines, sau khi ông thăm chính thức thủ đô Manila năm 1995. Khi sang Subic, Thống đốc Subic mở đại tiệc hoành tráng đón tiếp ông. Tham dự có các quan chức đi cùng. Về nguyên tắc, phiên dịch viên như tôi phải ngồi phía sau, không có ghế trong bàn tiệc.

Nhưng tự nhiên ông Lê Đức Anh hỏi: “Ghế của phiên dịch của tôi đâu?” Họ chỉ ở phía sau và ông không đồng ý. Họ rất bối rối vì chưa có tiền lệ như vậy. Để chiều ông họ buộc phải mang thêm ghế lên cho tôi ngồi cạnh ông trong bàn ăn.

Lần thứ ba là chính ông Lê Đức Anh đã viết thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Ngoại giao, đề nghị giúp đỡ tôi ứng cử vào vị trí Tổng Giám đốc UNESCO.

Khi đang làm Đại sứ tại EU ở Bruxel (Bỉ), tôi thấy bà Bokova người Bulgaria, một nước nhỏ vừa gia nhập Liên minh Châu Âu, ra ứng cử vị trí Tổng giám đốc UNESCO thành công. Tôi mới nghĩ tại sao mình không thử xem.

Trong một chuyến về nước công tác, tôi chia sẻ ý định đó cho các vị lãnh đạo mà tôi quen biết. Mọi người đều ủng hộ bằng lời nói, nhưng chỉ có nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh thể hiện bằng hành động thiết thực - đó là viết thư cho Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao.

Đương nhiên thư của Chủ tịch chỉ có giá trị giới thiệu và tham khảo, vì quyết định giới thiệu một ứng cử viên của một quốc gia vào một vị trí lãnh đạo cao nhất của một tổ chức chuyên môn thuộc LHQ là một chuyện lớn, một quyết định có ý nghĩa quan trọng ở tầm quốc gia, nên phải cân nhắc thuận - nghịch, được - mất nhiều mặt, phải có qui trình tham khảo các bộ, ngành, phải thăm dò khả năng thắng cử và phải khảo sát khả năng đề cử của các quốc gia khác...

Hơn nữa, phải tổng hợp các ý kiến để trình Thủ tướng xin chủ trương. Sau khi Thủ tướng đồng ý lại trình xin ý kiến Ban Bí thư. Chuyện đó dài lắm, lúc nào tôi sẽ kể cho anh sau.

Xin hỏi ông câu cuối cùng. Là người có phong cách làm việc là gần gũi các lãnh đạo để giúp cho công việc phiên dịch tốt hơn, ông thấy ông Lê Đức Anh là người như thế nào?

Ông là người bình dị, ăn mặc đơn giản. Từ khi đi với ông, tôi cố gắng chọn bộ quần áo trang trọng mà giản dị để tôn vinh ông.

Thứ hai là ông luôn cố gắng tự làm mọi việc, mặc dù đôi khi sức khỏe ông không được tốt. Có những lúc thấy ông đi liêu xiêu, tôi muốn đỡ ông, nhưng ông bảo để ông tự đi. Có lẽ, năm tháng của đời lính đã rèn giũa ông có phẩm chất như vậy.

Thứ ba là ông rất kỷ luật về giờ giấc về tác phong. Khi họp ông ngồi nghe chăm chú từ đầu đến cuối, không bao giờ bỏ ra ngoài. Ông bảo phải tôn trọng họ ngay cả khi ông họp Hội nghị Cấp cao Liên hiệp quốc, nơi các nhà lãnh đạo khác chỉ đến khi họ phát biểu và rời ngay phòng họp khi phát biểu xong.

Nhưng trên hết cả, ông là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược. Dưới thời ông, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc và Hoa Kỳ, gia nhập ASEAN và khởi động quá trình hội nhập quốc tế.

Ông là người lãnh đạo giản dị, gần gũi, chân tình, nhưng rất sâu sắc và nhân văn.

Xin cám ơn ông về cuộc nói chuyện chân tình này.


Huỳnh Phan
Theo Vietnamnet

Tin liên quan

Tin mới hơn

Thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nghệ nhân làng nghề thành phố Hải Phòng chế tác thành những sản phẩm văn hóa đặc sắc.

Thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nghệ nhân làng nghề thành phố Hải Phòng chế tác thành những sản phẩm văn hóa đặc sắc.

LNV- Trong dòng chảy văn hóa dân tộc, thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là những tác phẩm văn học mang giá trị nghệ thuật đặc sắc mà còn là kết tinh của tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đặc biệt, trong bối cảnh Hải Phòng – thành phố cảng giàu truyền thống cách mạng và văn hóa làng nghề - việc các nghệ nhân làng nghề thành phố, chuyển tải thơ chữ Hán của Bác thành những sản phẩm văn hóa đặc sắc góp phần lan tỏa sâu rộng giá trị tinh thần ý nghĩa cao đẹp.
Cuộc thi làm phim bằng AI đầu tiên tại Việt Nam thu hút nhiều sự quan tâm

Cuộc thi làm phim bằng AI đầu tiên tại Việt Nam thu hút nhiều sự quan tâm

LNV - Không còn là khái niệm xa vời, trí tuệ nhân tạo (AI) đang từng bước hiện diện ở lĩnh vực điện ảnh Việt Nam thông qua cuộc thi “VIETNAM AI FILM 2026” mang chủ đề “Huyền thoại Việt qua lăng kính AI”. Cuộc thi kỳ vọng mở ra một sân chơi sáng tạo mới, nơi công nghệ và nghệ thuật giao thoa; đồng thời thu hút cộng đồng làm phim, giới trẻ yêu sáng tạo cùng những người đam mê công nghệ tham gia khám phá tiềm năng kể chuyện bằng AI.
Toạ đàm Truy xuất nguồn gốc: Hơn 1 triệu mã hàng hóa được xác thực, dự báo tăng trưởng bùng nổ

Toạ đàm Truy xuất nguồn gốc: Hơn 1 triệu mã hàng hóa được xác thực, dự báo tăng trưởng bùng nổ

LNV - Tính đến ngày 19/5, hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa www.verigoods.vn của Bộ Công Thương đã xác thực hơn 1 triệu mã sản phẩm. Con số này được dự báo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, khi thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc chuẩn bị được ban hành, mở ra giai đoạn phát triển mới cho hoạt động xác thực và minh bạch hàng hóa trên thị trường.
Gia Lai: Khởi công xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo xã Ia Nan

Gia Lai: Khởi công xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo xã Ia Nan

LNV - Việc hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, cận nghèo tại xã Ia Nan không chỉ giúp người dân ổn định chỗ ở mà còn lan tỏa tinh thần sẻ chia, nhân ái trong cộng đồng.
Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội 2026”

Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội 2026”

LNV - Tối ngày 15/5/2026, lễ khai mạc Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội năm 2026” đã diễn ra tại Công viên Thiên văn học (phường Dương Nội, Hà Nội). Sự kiện do Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Hỗ trợ phát triển Phụ nữ Hà Nội tổ chức, nằm trong chuỗi chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch trọng điểm của Thủ đô.
Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm OCOP

Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm OCOP

LNV - Với 598 sản phẩm OCOP đạt từ 3–5 sao, trong đó có 13 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao cấp quốc gia, Thái Nguyên đang khẳng định vị thế là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước trong phát triển Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”. Từ thế mạnh nông sản đặc trưng của địa phương, chương trình OCOP không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Để mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP, tỉnh đang tập trung chuẩn hóa chất lượng, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, ứng dụng chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các chủ thể sản xuất.

Tin khác

Gia Lai tập huấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh tại cơ sở

Gia Lai tập huấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh tại cơ sở

LNV - Sáng 20/5, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai tập huấn công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh tại 135 xã, phường trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được kết nối đồng bộ từ điểm cầu Sở Tư pháp đến các địa phương.
Gia Lai: Phường Pleiku hỗ trợ sinh kế, thắp sáng đường quê tại xã Đak Pơ

Gia Lai: Phường Pleiku hỗ trợ sinh kế, thắp sáng đường quê tại xã Đak Pơ

LNV - Phường Pleiku (tỉnh Gia Lai) trao bò sinh kế, thực hiện công trình “Thắp sáng đường quê” tại xã Đak Pơ nhằm chung tay hỗ trợ địa phương phát triển kinh tế-xã hội.
Quảng Ngãi nâng tầm OCOP từ giá trị văn hóa bản địa

Quảng Ngãi nâng tầm OCOP từ giá trị văn hóa bản địa

LNV- Tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chương trình giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035, nhằm phát triển mạnh các sản phẩm đặc trưng địa phương.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Siết chặt kiểm soát chuỗi cung ứng nông sản

Siết chặt kiểm soát chuỗi cung ứng nông sản

LNV - Từ quy định quản lý dựa trên dữ liệu toàn bộ quá trình sản xuất theo Nghị định 248, 249 của Hải quan Trung Quốc, yêu cầu số hóa tiêu chuẩn chứng nhận tại Hàn Quốc đến cơ chế truy xuất nguồn gốc thủy sản mới của Mỹ, xu hướng kiểm soát nông sản theo chuỗi cung ứng đang ngày càng định hình thương mại nông sản toàn cầu.
Gia Lai: Khánh thành cụm tác phẩm điêu khắc “Đất và Người Gia Lai” giai đoạn 2

Gia Lai: Khánh thành cụm tác phẩm điêu khắc “Đất và Người Gia Lai” giai đoạn 2

LNV - Chiều 19/5, tại khu Đô thị suối Hội Phú, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức Lễ khánh thành Cụm tác phẩm điêu khắc “Đất và Người Gia Lai”, giai đoạn II, năm 2026. Buổi lễ diễn ra trong không khí cả nước hướng về kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026).
Khẩn trương hoàn thiện Nghị định triển khai cơ chế đặc thù về phát triển năng lượng giai đoạn 2026-2030

Khẩn trương hoàn thiện Nghị định triển khai cơ chế đặc thù về phát triển năng lượng giai đoạn 2026-2030

LNV- Ngày 19/5, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đã chủ trì cuộc làm việc với Bộ Công Thương cùng một số bộ, ngành về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
Gia Lai dâng hoa, dâng hương kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Gia Lai dâng hoa, dâng hương kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), Sáng ngày 19/5, tại Quảng trường Đại Đoàn Kết (phường Pleiku),Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Gia Lai long trọng tổ chức Lễ dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chi hội Phụ nữ thôn An Lạc lan tỏa yêu thương từ những việc làm theo lời Bác

Chi hội Phụ nữ thôn An Lạc lan tỏa yêu thương từ những việc làm theo lời Bác

LNV - Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện qua những việc làm lớn lao mà còn lan tỏa từ những hành động giản dị, thiết thực trong đời sống hằng ngày. Với tinh thần đó, thời gian qua, Chi hội Phụ nữ thôn An Lạc, xã Trung Giã đã tích cực vận động cán bộ, hội viên phụ nữ phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, chung tay chăm lo cho trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Thị trường tín chỉ carbon: “Vàng xanh” cho hành trình Net Zero của Thủ đô

Thị trường tín chỉ carbon: “Vàng xanh” cho hành trình Net Zero của Thủ đô

LNV - Từ hôm nay (19-5-2026), Nghị định 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050. Không chỉ tạo hành lang pháp lý cho thị trường carbon vận hành, cơ chế mới còn mở ra dư địa phát triển “kinh tế xanh”, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Với Hà Nội, đây là cơ hội để đẩy nhanh quá trình phát triển xanh, xây dựng Thủ đô thông minh, hiện đại và bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Gia Lai: Phường Pleiku trồng 120 cây thông ba lá tại làng Ơp

Gia Lai: Phường Pleiku trồng 120 cây thông ba lá tại làng Ơp

LNV - Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026), sáng 18-5, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Pleiku phối hợp với các tổ chức chính trị-xã hội phường tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2026 tại làng Ơp.
Phường Hoàn Kiếm triển khai tuyến phố an toàn thực phẩm có kiểm soát tại 3 tuyến phố.

Phường Hoàn Kiếm triển khai tuyến phố an toàn thực phẩm có kiểm soát tại 3 tuyến phố.

Tối 16/5, phường Hoàn Kiếm tổ chức gắn biển Tuyến phố an toàn thực phẩm có kiểm soát tại ngã tư Đào Duy Từ-Mã Mây. Phường Hoàn Kiếm đã chọn 3 tuyến phố Đào Duy Từ, Tạ Hiện và Mã Mây – Đây là khu vực tập trung đông cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, khách du lịch - để giải quyết điểm nghẽn về an toàn thực phẩm.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nghệ nhân làng nghề thành phố Hải Phòng chế tác thành những sản phẩm văn hóa đặc sắc.

Thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nghệ nhân làng nghề thành phố Hải Phòng chế tác thành những sản phẩm văn hóa đặc sắc.

LNV- Trong dòng chảy văn hóa dân tộc, thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là những tác phẩm văn học mang giá trị nghệ thuật đặc sắc
Cuộc thi làm phim bằng AI đầu tiên tại Việt Nam thu hút nhiều sự quan tâm

Cuộc thi làm phim bằng AI đầu tiên tại Việt Nam thu hút nhiều sự quan tâm

LNV - Không còn là khái niệm xa vời, trí tuệ nhân tạo (AI) đang từng bước hiện diện ở lĩnh vực điện ảnh Việt Nam thông qua cuộc thi “VIETNAM AI FILM 2026” mang
Toạ đàm Truy xuất nguồn gốc: Hơn 1 triệu mã hàng hóa được xác thực, dự báo tăng trưởng bùng nổ

Toạ đàm Truy xuất nguồn gốc: Hơn 1 triệu mã hàng hóa được xác thực, dự báo tăng trưởng bùng nổ

LNV - Tính đến ngày 19/5, hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa www.verigoods.vn của Bộ Công Thương đã xác thực hơn 1 triệu mã sản phẩm.
Gia Lai: Khởi công xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo xã Ia Nan

Gia Lai: Khởi công xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo xã Ia Nan

LNV - Hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, cận nghèo không chỉ giúp người dân ổn định chỗ ở mà còn lan tỏa tinh thần nhân ái của cộng đồng.
Tổng kết vinh danh tác giả tham gia sáng tác thơ

Tổng kết vinh danh tác giả tham gia sáng tác thơ

Chương trình “Tổng kết vinh danh tác giả tham gia sáng tác thơ” do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy thơ ca Đất Việt được long trọng tổ chức
Giao diện di động