Hà Nội: 34°C Hà Nội
Đà Nẵng: 31°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 32°C Thừa Thiên Huế

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

LNV - Trong dòng chảy lịch sử và văn hóa Việt Nam, các làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, mà còn là không gian lưu giữ ký ức cộng đồng, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa vùng miền. Mỗi làng nghề đều mang trong mình câu chuyện về con người, thiên nhiên và tinh thần sáng tạo, góp phần tạo nên sức sống bền bỉ cho văn hóa Việt. Liên quan tới chủ đề này, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có những chia sẻ sâu sắc với Tạp chí điện tử Làng nghề Việt Nam

Phóng viên: Theo ông, đâu là những yếu tố lịch sử và văn hóa hình thành nên các làng nghề truyền thống ở Việt Nam?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Xã hội cuả Quốc hội: Theo tôi, muốn hiểu làng nghề Việt Nam, trước hết phải đặt nó trong lịch sử của làng xã Việt Nam. Làng nghề không đơn thuần là một đơn vị sản xuất mà là kết quả của quá trình con người thích nghi với điều kiện tự nhiên, tổ chức đời sống cộng đồng và tích lũy tri thức qua nhiều thế hệ. Trước hết là yếu tố điều kiện tự nhiên và nguồn nguyên liệu bản địa. Mỗi vùng đất đã sinh ra những nghề phù hợp với tài nguyên của mình: Nơi có đất sét hình thành nghề gốm, vùng có tre nứa phát triển nghề mây tre đan, vùng trồng dâu nuôi tằm phát triển nghề dệt lụa, nơi có nguồn gỗ phù hợp hình thành nghề mộc… Vì thế, sản phẩm làng nghề thường mang dấu ấn rất rõ của địa lý văn hóa.

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại
GS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội cuả Quốc hội

Thứ hai là nhu cầu của đời sống. Ban đầu, rất nhiều nghề ra đời để phục vụ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, tín ngưỡng của chính cộng đồng. Khi kỹ năng được tích lũy, chuyên môn hóa và trao truyền qua các thế hệ, nghề trở thành sinh kế, rồi thành truyền thống. Nhưng yếu tố tôi cho là đặc biệt quan trọng chính là con người và cộng đồng. Những bí quyết nghề nghiệp được truyền từ cha sang con, từ thầy sang trò; những vị tổ nghề được tôn vinh; những lễ hội, phong tục, quy ước nghề nghiệp được hình thành. Qua thời gian, nghề không còn chỉ là cách làm ra một sản phẩm mà trở thành một phần căn cước của làng. Bởi vậy, nói đến Bát Tràng, Vạn Phúc, Đồng Kỵ, Phú Vinh, Chu Đậu hay nhiều làng nghề khác, chúng ta không chỉ nghĩ đến một mặt hàng. Chúng ta nghĩ đến một vùng văn hóa, một cộng đồng và những lớp ký ức đã được kết tinh trong sản phẩm. Đó chính là chiều sâu làm nên sức sống bền bỉ của làng nghề Việt Nam

Phóng viên: Làng nghề truyền thống mang lại những giá trị tinh thần và bản sắc văn hóa gì cho cộng đồng địa phương, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của làng nghề không nằm hoàn toàn ở những sản phẩm mà chúng ta có thể cầm, nắm hay mua bán, mà còn ở những giá trị vô hình phía sau sản phẩm ấy. Mỗi sản phẩm thủ công truyền thống là một dạng “ký ức vật chất” của cộng đồng. Trong một chiếc bình gốm, một tấm lụa, một sản phẩm sơn mài hay mây tre đan có tri thức về nguyên liệu, kỹ thuật, thẩm mỹ, phong tục, tín ngưỡng và cả quan niệm sống của nhiều thế hệ. Có những hoa văn tưởng như chỉ để trang trí nhưng phía sau lại là cả một câu chuyện về lịch sử, thiên nhiên và thế giới tinh thần của người Việt.

Làng nghề còn tạo ra sự gắn kết cộng đồng rất đặc biệt. Người dân không chỉ cùng sống trên một địa bàn mà còn chia sẻ một nghề, một vị tổ nghề, những quy tắc nghề nghiệp, niềm tự hào và danh tiếng chung. Chính điều đó tạo nên ý thức cộng đồng, trách nhiệm đối với thanh danh của làng và sự tiếp nối giữa các thế hệ. Tôi đặc biệt trân trọng giá trị giáo dục của làng nghề. Một người trẻ được lớn lên trong tiếng khung cửi, bên bàn xoay gốm hay trong xưởng mộc của gia đình sẽ tiếp nhận văn hóa không phải qua những bài giảng trừu tượng mà từ chính đời sống. Các em hiểu rằng để làm ra một sản phẩm đẹp cần có sự kiên nhẫn, kỷ luật, sáng tạo và lòng tự trọng nghề nghiệp. Vì thế, bảo vệ làng nghề thực chất cũng là bảo vệ một không gian văn hóa sống. Nếu một nghề truyền thống mất đi, chúng ta không chỉ mất một sản phẩm mà có thể mất cả một kho tri thức dân gian, một ký ức cộng đồng và một phần bản sắc của vùng đất ấy.

Phóng viên: Các làng nghề truyền thống đóng góp như thế nào vào sự phát triển kinh tế vùng và quốc gia thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ chúng ta cần nhìn đóng góp kinh tế của làng nghề rộng hơn giá trị hàng hóa được bán ra. Trước hết, làng nghề tạo sinh kế và việc làm tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Người dân có thể vừa tham gia sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề, hoặc chuyển dần sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn. Điều đó giúp giảm áp lực di cư lao động, duy trì sự ổn định của cộng đồng và khai thác được những nguồn lực bản địa vốn rất khó thay thế. Thứ hai, làng nghề tạo ra chuỗi giá trị rộng hơn chính bản thân nghề thủ công: từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, logistics, thương mại điện tử đến du lịch, lưu trú, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa.

Khi một làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn, người hưởng lợi không chỉ có nghệ nhân mà còn là người bán hàng, lái xe, nhà hàng, homestay và nhiều dịch vụ khác. Đặc biệt, tôi cho rằng làng nghề là một nguồn lực rất quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Giá trị lớn nhất của sản phẩm thủ công trong tương lai không phải nằm ở số lượng nguyên liệu hay số giờ lao động, mà ở thiết kế, câu chuyện văn hóa, thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ. Theo thông tin Bộ Công Thương công bố cuối năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã tăng từ khoảng 2,23 tỷ USD năm 2019 lên gần 4 tỷ USD năm 2024, với các sản phẩm như mây tre đan, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, thêu ren hiện diện tại nhiều thị trường. Nếu biết chuyển từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị văn hóa và trải nghiệm”, tôi tin đóng góp kinh tế của các làng nghề còn lớn hơn rất nhiều.

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

Phóng viên: Ông có thể cho biết, trong bối cảnh công nghiệp hóa, làng nghề truyền thống đang đối mặt với những khó khăn gì? Làng nghề Việt Nam có thể hòa nhập vào xu hướng tiêu dùng và thị trường toàn cầu như thế nào?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Khó khăn lớn nhất, theo tôi, chính là sự thay đổi của môi trường sống và thị trường diễn ra nhanh hơn khả năng thích ứng của nhiều làng nghề. Trước hết là vấn đề đứt gãy truyền nghề. Nhiều người trẻ không còn muốn tiếp tục nghề của cha ông vì thu nhập chưa tương xứng, điều kiện lao động vất vả, triển vọng nghề nghiệp chưa rõ ràng. Khi những nghệ nhân cao tuổi mất đi mà tri thức chưa được truyền lại, chúng ta có nguy cơ mất những kỹ thuật mà tiền bạc không thể dễ dàng phục hồi.

Thứ hai là sức ép của sản xuất công nghiệp. Sản phẩm thủ công phải cạnh tranh với hàng sản xuất hàng loạt rẻ hơn, đồng đều hơn. Một số nơi vì chạy theo thị trường đã đơn giản hóa quy trình, sử dụng mẫu mã sao chép, làm mờ nhạt bản sắc. Ngược lại, có nơi lại quá khép kín trong truyền thống, chậm thay đổi thiết kế nên sản phẩm ngày càng xa nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra còn những vấn đề về ô nhiễm môi trường, mặt bằng sản xuất, vốn, thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, năng lực thiết kế, thương mại điện tử và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Trong khi đó, thị trường toàn cầu ngày càng chú ý đến phát triển bền vững, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và các tiêu chuẩn ESG; đồng thời chuyển mạnh sang thương mại điện tử và minh bạch dữ liệu. Đây vừa là thách thức nhưng cũng chính là cơ hội cho hàng thủ công Việt Nam, bởi sản phẩm thủ công vốn có lợi thế về vật liệu tự nhiên, hàm lượng văn hóa, tính độc bản và câu chuyện con người.

Theo tôi, làng nghề Việt Nam không nên cạnh tranh với công nghiệp bằng giá rẻ và số lượng. Chúng ta phải cạnh tranh bằng bản sắc, chất lượng, thiết kế, tính bền vững và câu chuyện văn hóa. Đó mới là lợi thế mà sản xuất hàng loạt rất khó sao chép.

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

Phóng viên: Làm thế nào để kết hợp yếu tố truyền thống với sáng tạo hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm? Theo ông, tiềm năng phát triển du lịch làng nghề ở Việt Nam hiện nay ra sao?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải hiểu đúng mối quan hệ giữa truyền thống và sáng tạo. Truyền thống không có nghĩa là bất biến; truyền thống chỉ thực sự sống khi có khả năng đối thoại với hiện tại. Chúng ta cần giữ cái “hồn” nhưng có thể đổi cái “áo”. Cái phải giữ là kỹ thuật cốt lõi, tri thức nghề nghiệp, hoa văn tiêu biểu, câu chuyện lịch sử, tinh thần thẩm mỹ và những giá trị làm nên căn cước của làng nghề. Nhưng hình thức sản phẩm, công năng, kích thước, màu sắc, bao bì và cách tiếp thị hoàn toàn có thể thay đổi để phù hợp với đời sống đương đại. Tôi rất mong có nhiều hơn nữa sự hợp tác giữa nghệ nhân – nhà thiết kế – doanh nghiệp – trường đại học – nghệ sĩ – chuyên gia công nghệ. Nghệ nhân có tri thức truyền thống, người trẻ có tư duy thiết kế và khả năng tiếp cận thị trường. Khi hai nguồn lực đó gặp nhau một cách tôn trọng, chúng ta có thể tạo ra những sản phẩm vừa rất Việt Nam, vừa có tính quốc tế. Du lịch làng nghề cũng có tiềm năng rất lớn, nhưng chúng ta không nên hiểu đơn giản là đưa khách đến làng, mua vài món quà rồi rời đi. Cần chuyển từ tham quan sang trải nghiệm: du khách được nghe câu chuyện về làng, gặp nghệ nhân, tự làm sản phẩm, thưởng thức ẩm thực, tham gia lễ hội, khám phá cảnh quan và đời sống cộng đồng. Khi ấy, chúng ta không chỉ bán một chiếc bình hay một tấm lụa. Chúng ta bán một câu chuyện, một trải nghiệm và một ký ức về Việt Nam. Giá trị kinh tế vì thế cũng tăng lên nhiều lần.

Phóng viên: Nhà nước và địa phương cần có những chính sách gì để bảo tồn và phát triển làng nghề thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều đầu tiên cần thay đổi là tư duy chính sách: không xem bảo tồn và phát triển là hai nhiệm vụ tách rời. Bảo tồn tốt phải tạo ra nguồn lực cho phát triển; và phát triển đúng hướng phải quay trở lại nuôi dưỡng di sản. Chính phủ đã ban hành Quyết định 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Vấn đề quan trọng hiện nay, theo tôi, là biến định hướng ấy thành những chính sách cụ thể, phù hợp với từng làng nghề. Trước hết, cần bảo vệ nghệ nhân và truyền nghề. Nghệ nhân chính là “báu vật nhân văn sống”. Cần có chính sách đãi ngộ, hỗ trợ không gian sáng tạo, đào tạo học trò và số hóa tri thức nghề. Việc dạy nghề cũng nên gắn với trường học, giáo dục địa phương và các chương trình khởi nghiệp cho thanh niên. Thứ hai, đầu tư hạ tầng và giải quyết môi trường làng nghề. Không thể lấy lý do bảo tồn truyền thống để chấp nhận công nghệ gây ô nhiễm. Làng nghề tương lai phải là làng nghề xanh, ứng dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và hướng đến kinh tế tuần hoàn.

Thứ ba, Nhà nước cần hỗ trợ thiết kế, thương hiệu, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xúc tiến thị trường quốc tế. Trong bối cảnh các thị trường phát triển ngày càng đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn xanh, nguồn gốc và trách nhiệm xã hội, hỗ trợ làng nghề thích ứng với những chuẩn mực mới phải trở thành một phần của chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh. Thứ tư, quy hoạch làng nghề phải gắn với du lịch và phát triển không gian văn hóa. Không nên chỉ bảo tồn một vài ngôi nhà hay công trình, mà phải giữ được cảnh quan, đình làng, đền thờ tổ nghề, chợ, không gian sản xuất và cả đời sống cộng đồng. Và cuối cùng, theo tôi, người dân phải là chủ thể của quá trình bảo tồn. Nhà nước có thể hỗ trợ chính sách, doanh nghiệp có thể đưa thị trường đến, chuyên gia có thể cung cấp tri thức, nhưng nếu cộng đồng không nhìn thấy lợi ích, không có niềm tự hào và không muốn tiếp tục nghề thì mọi chính sách đều khó bền vững. Đích đến cuối cùng không phải là giữ làng nghề như một “bảo tàng của quá khứ”, mà phải giúp làng nghề trở thành một không gian sống của văn hóa, một không gian sáng tạo của hiện tại và một nguồn lực phát triển của tương lai. Khi người làm nghề có thể sống tốt, thậm chí làm giàu chính đáng bằng di sản cha ông để lại, đó mới là sự bảo tồn bền vững nhất.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông

Văn Bình - Phụng Thiên

Tin liên quan

Tin mới hơn

Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

LNV - Từ những vườn mai được gây dựng trên vùng đất cửa ngõ Yên Tử hơn ba thập kỷ trước, nghề trồng mai cảnh ở Tây Sơn đã dần trở thành sinh kế của nhiều gia đình, góp phần tạo dựng một vùng sản xuất cây cảnh mang bản sắc riêng. Việc Làng nghề Mai cảnh Yên Tử - Tây Sơn chính thức được công nhận không chỉ ghi nhận những nỗ lực gìn giữ nghề truyền thống mà còn mở ra cơ hội nâng tầm thương hiệu, phát triển kinh tế nông thôn gắn với du lịch văn hóa.
Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ:  Người giữ lửa nghề gốm Đông Triều

Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ: Người giữ lửa nghề gốm Đông Triều

LNV - Gần trọn cuộc đời gắn bó với đất và lửa, Nghệ nhân Ưu tú Lê Trọng Mỹ không chỉ góp phần gìn giữ kỹ thuật gốm nặng lửa Đông Triều mà còn thổi hồn vào những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở cuộc sống. Với ông, làm gốm vừa là nghề mưu sinh, vừa là niềm đam mê sáng tạo và trách nhiệm trao truyền những giá trị truyền thống cho thế hệ sau.
Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

LNV - Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 13 đến 16/11 tại Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội). Sự kiện là dịp tôn vinh tinh hoa nghề thủ công truyền thống, quảng bá giá trị văn hóa làng nghề Việt Nam, đồng thời thúc đẩy giao lưu quốc tế, kết nối thương mại và phát triển du lịch làng nghề.
Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

Từ những mẫu thiết kế đoạt giải đến hướng phát triển mới cho sản phẩm làng nghề Hà Nội

LNV - Từ 397 sản phẩm, bộ sản phẩm tham gia Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026, Ban Tổ chức đã lựa chọn 90 sản phẩm đoạt giải ở 6 nhóm ngành nghề. Nhiều mẫu thiết kế mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống, đồng thời thể hiện nỗ lực đổi mới công năng, kiểu dáng và cách tiếp cận thị trường. Kết quả cuộc thi không chỉ ghi nhận sự sáng tạo của các nghệ nhân, thợ thủ công và cơ sở sản xuất mà còn gợi mở hướng phát triển sản phẩm làng nghề trong đời sống đương đại.
Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

Hà Nội đưa sản phẩm làng nghề vươn ra thị trường quốc tế tại Mega Show 2026

LNV - Với hơn 1.350 làng nghề, làng có nghề và khoảng 176.000 hộ làm nghề, Hà Nội có nhiều lợi thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ gắn với bản sắc văn hóa truyền thống. Tham gia Hội chợ quốc tế Mega Show Part I 2026 tại Hồng Kông (Trung Quốc), các doanh nghiệp Thủ đô có thêm cơ hội quảng bá sản phẩm, kết nối nhà mua hàng quốc tế, tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

LNV - Giữa đại ngàn Hoàng Liên Sơn, bản Cát Cát (Sa Pa, Lào Cai) hấp dẫn du khách không chỉ bởi cảnh sắc núi rừng thơ mộng mà còn bởi những giá trị văn hóa được đồng bào Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ. Từ sắc chàm trầm ấm, những đường thêu tỉ mỉ đến các sản phẩm thổ cẩm mang dáng dấp hiện đại, nghề thủ công truyền thống đang trở thành cầu nối giữa bảo tồn bản sắc, phát triển du lịch và tạo sinh kế cho người dân địa phương.

Tin khác

Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

LNV - Từ những lớp trầm tích khảo cổ bên dòng sông Hồng đến những sản phẩm mang hơi thở đương đại, làng gốm cổ Kim Lan đang từng bước khẳng định giá trị của một nghề thủ công truyền thống giàu bản sắc. Bằng bàn tay tài hoa, kinh nghiệm và sức sáng tạo của người nghệ nhân, những giá trị xưa được tiếp nối, làm mới trong đời sống hôm nay, mở ra hướng phát triển sản phẩm làng nghề gắn với du lịch văn hóa, trải nghiệm và kinh tế sáng tạo.
Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

Hà Nội chuẩn bị tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026

LNV - Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 16/11 tại Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), với quy mô khoảng 10.000 m². Điểm nhấn của sự kiện là các không gian trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công truyền thống, trong đó ưu tiên bốn làng nghề Hà Nội đã được Hội đồng Thủ công Thế giới công nhận là thành viên mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Hà Nội tôn vinh 10 nữ nghệ nhân có đóng góp trong bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

Hà Nội tôn vinh 10 nữ nghệ nhân có đóng góp trong bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

LNV - Ngày 17/10, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội phối hợp Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội cùng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Chuyên Mỹ tổ chức Diễn đàn “Nữ nghệ nhân làng nghề với phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô” và biểu dương, tôn vinh 10 nữ nghệ nhân tiêu biểu làng nghề Hà Nội năm 2026.
Phú Xuyên quảng bá sản phẩm OCOP, phát huy giá trị làng nghề truyền thống

Phú Xuyên quảng bá sản phẩm OCOP, phát huy giá trị làng nghề truyền thống

LNV - Lễ hội vinh danh làng nghề và Tuần văn hóa, du lịch, thương mại làng nghề năm 2025 tại xã Phú Xuyên, Hà Nội được tổ chức nhằm tôn vinh những giá trị nghề truyền thống, quảng bá sản phẩm OCOP, thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển du lịch làng nghề gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.
Phát huy giá trị di sản Hội An trong giai đoạn phát triển mới

Phát huy giá trị di sản Hội An trong giai đoạn phát triển mới

LNV - Chiều 17/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Đà Nẵng phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An tổ chức hội thảo "Phát triển du lịch Đô thị cổ Hội An - Di sản Văn hóa Thế giới trong kỷ nguyên mới", nhằm tìm kiếm định hướng, giải pháp phát huy giá trị di sản gắn phát triển du lịch theo hướng chất lượng.
Nghề bánh đa vẫn đỏ lửa ở ngôi làng cổ Thổ Hà

Nghề bánh đa vẫn đỏ lửa ở ngôi làng cổ Thổ Hà

LNV - Nổi tiếng bởi độ mỏng tang và sắc trắng mịn, bánh đa nem Thổ Hà (xã Vân Hà, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang cũ; nay thuộc phường Vân Hà, TP Bắc Ninh) đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.
Người trẻ "tạo hình mới" cho nghề gốm Phù Lãng

Người trẻ "tạo hình mới" cho nghề gốm Phù Lãng

LNV - Xứ Quan họ không chỉ được biết đến với làn điệu câu ca ngọt ngào, tha thiết, mà còn có một làng nghề tồn tại hơn 700 năm - làng gốm Phù Lãng. Giữa dòng chảy truyền thống của làng nghề, anh Lê Văn Lâm (1993) chọn cho mình một hướng đi mới với các sản phẩm tạo hình tượng Phật, tượng chú tiểu,... góp phần làm mới diện mạo quê hương.
KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ HAI . QUỐC HỘI KHÓA  XVI

KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ HAI . QUỐC HỘI KHÓA XVI

LNV- Sáng 17/10, Quốc hội khóa 16 khai mạc kỳ họp thứ hai, nghe Thủ tướng báo cáo kinh tế - xã hội và bắt đầu xem xét, cho ý kiến các dự án luật.
“Giữ lửa” nghề làm hương đen hơn 300 năm ở làng Chóa

“Giữ lửa” nghề làm hương đen hơn 300 năm ở làng Chóa

Sau hàng trăm năm lịch sử, nghề làm hương đen ở làng Chóa (nay là thôn Lạc Trung, xã Yên Trung, TP Bắc Ninh) vẫn được người dân nỗ lực giữ gìn và quảng bá mạnh mẽ, lan tỏa giá trị văn hóa nơi dây.
Lào Cai: Khai mạc không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP gắn với du lịch

Lào Cai: Khai mạc không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP gắn với du lịch

LNV - Sáng 16/10, tại Quảng trường Gold Field, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức khai mạc Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP gắn với du lịch cấp vùng năm 2026. Sự kiện góp phần quảng bá thương hiệu OCOP Việt Nam, thúc đẩy liên kết tiêu thụ sản phẩm và phát triển du lịch địa phương.
Tuyên Quang: Từ hạt cốm truyền thống đến hành trình đánh thức tiềm năng du lịch Thuận Hòa

Tuyên Quang: Từ hạt cốm truyền thống đến hành trình đánh thức tiềm năng du lịch Thuận Hòa

LNV - Khi những triền đồng ở xã Thuận Hòa bắt đầu ngả màu nõn chuối, không khí làm cốm truyền thống lại rộn ràng khắp các bản làng vùng cao.
Thổ cẩm Sa Pa đổi mới để phù hợp với thị hiếu hiện đại

Thổ cẩm Sa Pa đổi mới để phù hợp với thị hiếu hiện đại

LNV -Giữa nhịp sống hiện đại, những sản phẩm thổ cẩm truyền thống đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới để đáp ứng thị hiếu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. Tại Sa Pa (Lào Cai), các cơ sở sản xuất đang chuyển mình mạnh mẽ,từ việc thay đổi mẫu mã thiết kế đến đa dạng hóa sản phẩm, nhằm vừa gìn giữ bản sắc dân tộc, vừa tự tin chinh phục người tiêu dùng
Hà Nội: Góp ý xây dựng Kế hoạch phát triển làng nghề giai đoạn 2026 - 2030

Hà Nội: Góp ý xây dựng Kế hoạch phát triển làng nghề giai đoạn 2026 - 2030

LNV - Chiều 14/10/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Kế hoạch triển khai Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026–2030. Hội thảo tập trung thảo luận, hoàn thiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghề truyền thống, đẩy mạnh chuyển đổi số, gắn phát triển làng nghề với du lịch, hướng tới nâng cao giá trị kinh tế và phát triển bền vững.
Theo dấu trà Shan, chạm sắc thổ cẩm Lào Cai

Theo dấu trà Shan, chạm sắc thổ cẩm Lào Cai

LNV - Lễ hội Trà Shan và Sắc màu thổ cẩm Lào Cai năm 2026 với chủ đề “Theo dấu trà Shan - Chạm sắc thổ cẩm” được tổ chức lồng ghép trong chuỗi hoạt động hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam”. Sự kiện tôn vinh giá trị trà Shan, nghề dệt thổ cẩm và bản sắc văn hóa vùng cao, đồng thời thúc đẩy kết nối du lịch, thương mại và chuyển đổi số.
Xã Chuyên Mỹ tổ chức khai hội vinh danh làng nghề năm 2026

Xã Chuyên Mỹ tổ chức khai hội vinh danh làng nghề năm 2026

LNV - Hướng tới tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, quảng bá tinh hoa nghề thủ công mỹ nghệ và thúc đẩy phát triển du lịch làng nghề, xã Chuyên Mỹ (Hà Nội) tổ chức Lễ hội vinh danh làng nghề lần thứ hai và Tuần văn hóa, du lịch, thương mại làng nghề năm 2026. Với nhiều hoạt động đặc sắc, sự kiện sẽ là điểm hẹn văn hóa, du lịch và giao thương hấp dẫn, góp phần đưa sản phẩm làng nghề truyền thống đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tấm gương vợ chồng già cao tuổi mẫu mực nơi đất nghề

Tấm gương vợ chồng già cao tuổi mẫu mực nơi đất nghề

câu chuyện về gia đình cụ Nguyễn Đình Ty (73 tuổi) và cụ Phan Thị Mùi (72 tuổi) tại thôn Hữu Bằng 2 nổi lên như một điểm sáng về tinh thần tự lực, gìn giữ gia phong và nuôi dạy con cái thành tài.
Nâng cao hiệu quả khuyến công các tỉnh thành phía Nam qua đổi mới tư duy và liên kết

Nâng cao hiệu quả khuyến công các tỉnh thành phía Nam qua đổi mới tư duy và liên kết

Ngày 23/10/2026 tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương giao Cục Công nghiệp phối hợp với Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XVI năm 2026. Hội nghị đề ra các nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả, mở rộng liên kết và phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu.
Hội chợ triển lãm sản phẩm RISEP khu vực phía Nam thu hút khoảng 350 gian hàng

Hội chợ triển lãm sản phẩm RISEP khu vực phía Nam thu hút khoảng 350 gian hàng

Chiều 23/10, tại Nhà thi đấu Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh tổ chức khai mạc Hội chợ triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (RISEP) khu vực phía Nam năm 2026.
Bát Tràng phát huy giá trị làng nghề, tạo động lực phát triển nông thôn bền vững

Bát Tràng phát huy giá trị làng nghề, tạo động lực phát triển nông thôn bền vững

LNV - Với lợi thế làng nghề gốm sứ truyền thống, sản phẩm OCOP phong phú cùng những giá trị văn hóa đặc sắc, xã Bát Tràng (Hà Nội) đang từng bước khai thác tiềm năng bản địa, phát triển kinh tế gắn với bảo tồn di sản, tạo động lực nâng cao chất lượng xây
Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

Mai vàng Yên Tử: Giữ hồn nghề, vun đắp sinh kế bền vững

LNV - Từ những vườn mai được gây dựng trên vùng đất cửa ngõ Yên Tử hơn ba thập kỷ trước, nghề trồng mai cảnh ở Tây Sơn đã dần trở thành sinh kế của nhiều gia đình, góp phần tạo dựng một vùng sản xuất cây cảnh mang bản sắc riêng.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động