Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại
Phóng viên: Theo ông, đâu là những yếu tố lịch sử và văn hóa hình thành nên các làng nghề truyền thống ở Việt Nam?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Xã hội cuả Quốc hội: Theo tôi, muốn hiểu làng nghề Việt Nam, trước hết phải đặt nó trong lịch sử của làng xã Việt Nam. Làng nghề không đơn thuần là một đơn vị sản xuất mà là kết quả của quá trình con người thích nghi với điều kiện tự nhiên, tổ chức đời sống cộng đồng và tích lũy tri thức qua nhiều thế hệ. Trước hết là yếu tố điều kiện tự nhiên và nguồn nguyên liệu bản địa. Mỗi vùng đất đã sinh ra những nghề phù hợp với tài nguyên của mình: Nơi có đất sét hình thành nghề gốm, vùng có tre nứa phát triển nghề mây tre đan, vùng trồng dâu nuôi tằm phát triển nghề dệt lụa, nơi có nguồn gỗ phù hợp hình thành nghề mộc… Vì thế, sản phẩm làng nghề thường mang dấu ấn rất rõ của địa lý văn hóa.
![]() |
| GS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội cuả Quốc hội |
Thứ hai là nhu cầu của đời sống. Ban đầu, rất nhiều nghề ra đời để phục vụ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, tín ngưỡng của chính cộng đồng. Khi kỹ năng được tích lũy, chuyên môn hóa và trao truyền qua các thế hệ, nghề trở thành sinh kế, rồi thành truyền thống. Nhưng yếu tố tôi cho là đặc biệt quan trọng chính là con người và cộng đồng. Những bí quyết nghề nghiệp được truyền từ cha sang con, từ thầy sang trò; những vị tổ nghề được tôn vinh; những lễ hội, phong tục, quy ước nghề nghiệp được hình thành. Qua thời gian, nghề không còn chỉ là cách làm ra một sản phẩm mà trở thành một phần căn cước của làng. Bởi vậy, nói đến Bát Tràng, Vạn Phúc, Đồng Kỵ, Phú Vinh, Chu Đậu hay nhiều làng nghề khác, chúng ta không chỉ nghĩ đến một mặt hàng. Chúng ta nghĩ đến một vùng văn hóa, một cộng đồng và những lớp ký ức đã được kết tinh trong sản phẩm. Đó chính là chiều sâu làm nên sức sống bền bỉ của làng nghề Việt Nam
Phóng viên: Làng nghề truyền thống mang lại những giá trị tinh thần và bản sắc văn hóa gì cho cộng đồng địa phương, thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của làng nghề không nằm hoàn toàn ở những sản phẩm mà chúng ta có thể cầm, nắm hay mua bán, mà còn ở những giá trị vô hình phía sau sản phẩm ấy. Mỗi sản phẩm thủ công truyền thống là một dạng “ký ức vật chất” của cộng đồng. Trong một chiếc bình gốm, một tấm lụa, một sản phẩm sơn mài hay mây tre đan có tri thức về nguyên liệu, kỹ thuật, thẩm mỹ, phong tục, tín ngưỡng và cả quan niệm sống của nhiều thế hệ. Có những hoa văn tưởng như chỉ để trang trí nhưng phía sau lại là cả một câu chuyện về lịch sử, thiên nhiên và thế giới tinh thần của người Việt.
Làng nghề còn tạo ra sự gắn kết cộng đồng rất đặc biệt. Người dân không chỉ cùng sống trên một địa bàn mà còn chia sẻ một nghề, một vị tổ nghề, những quy tắc nghề nghiệp, niềm tự hào và danh tiếng chung. Chính điều đó tạo nên ý thức cộng đồng, trách nhiệm đối với thanh danh của làng và sự tiếp nối giữa các thế hệ. Tôi đặc biệt trân trọng giá trị giáo dục của làng nghề. Một người trẻ được lớn lên trong tiếng khung cửi, bên bàn xoay gốm hay trong xưởng mộc của gia đình sẽ tiếp nhận văn hóa không phải qua những bài giảng trừu tượng mà từ chính đời sống. Các em hiểu rằng để làm ra một sản phẩm đẹp cần có sự kiên nhẫn, kỷ luật, sáng tạo và lòng tự trọng nghề nghiệp. Vì thế, bảo vệ làng nghề thực chất cũng là bảo vệ một không gian văn hóa sống. Nếu một nghề truyền thống mất đi, chúng ta không chỉ mất một sản phẩm mà có thể mất cả một kho tri thức dân gian, một ký ức cộng đồng và một phần bản sắc của vùng đất ấy.
Phóng viên: Các làng nghề truyền thống đóng góp như thế nào vào sự phát triển kinh tế vùng và quốc gia thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ chúng ta cần nhìn đóng góp kinh tế của làng nghề rộng hơn giá trị hàng hóa được bán ra. Trước hết, làng nghề tạo sinh kế và việc làm tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Người dân có thể vừa tham gia sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề, hoặc chuyển dần sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn. Điều đó giúp giảm áp lực di cư lao động, duy trì sự ổn định của cộng đồng và khai thác được những nguồn lực bản địa vốn rất khó thay thế. Thứ hai, làng nghề tạo ra chuỗi giá trị rộng hơn chính bản thân nghề thủ công: từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, logistics, thương mại điện tử đến du lịch, lưu trú, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa.
Khi một làng nghề trở thành điểm đến hấp dẫn, người hưởng lợi không chỉ có nghệ nhân mà còn là người bán hàng, lái xe, nhà hàng, homestay và nhiều dịch vụ khác. Đặc biệt, tôi cho rằng làng nghề là một nguồn lực rất quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Giá trị lớn nhất của sản phẩm thủ công trong tương lai không phải nằm ở số lượng nguyên liệu hay số giờ lao động, mà ở thiết kế, câu chuyện văn hóa, thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ. Theo thông tin Bộ Công Thương công bố cuối năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã tăng từ khoảng 2,23 tỷ USD năm 2019 lên gần 4 tỷ USD năm 2024, với các sản phẩm như mây tre đan, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, thêu ren hiện diện tại nhiều thị trường. Nếu biết chuyển từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị văn hóa và trải nghiệm”, tôi tin đóng góp kinh tế của các làng nghề còn lớn hơn rất nhiều.
![]() |
Phóng viên: Ông có thể cho biết, trong bối cảnh công nghiệp hóa, làng nghề truyền thống đang đối mặt với những khó khăn gì? Làng nghề Việt Nam có thể hòa nhập vào xu hướng tiêu dùng và thị trường toàn cầu như thế nào?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Khó khăn lớn nhất, theo tôi, chính là sự thay đổi của môi trường sống và thị trường diễn ra nhanh hơn khả năng thích ứng của nhiều làng nghề. Trước hết là vấn đề đứt gãy truyền nghề. Nhiều người trẻ không còn muốn tiếp tục nghề của cha ông vì thu nhập chưa tương xứng, điều kiện lao động vất vả, triển vọng nghề nghiệp chưa rõ ràng. Khi những nghệ nhân cao tuổi mất đi mà tri thức chưa được truyền lại, chúng ta có nguy cơ mất những kỹ thuật mà tiền bạc không thể dễ dàng phục hồi.
Thứ hai là sức ép của sản xuất công nghiệp. Sản phẩm thủ công phải cạnh tranh với hàng sản xuất hàng loạt rẻ hơn, đồng đều hơn. Một số nơi vì chạy theo thị trường đã đơn giản hóa quy trình, sử dụng mẫu mã sao chép, làm mờ nhạt bản sắc. Ngược lại, có nơi lại quá khép kín trong truyền thống, chậm thay đổi thiết kế nên sản phẩm ngày càng xa nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra còn những vấn đề về ô nhiễm môi trường, mặt bằng sản xuất, vốn, thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, năng lực thiết kế, thương mại điện tử và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Trong khi đó, thị trường toàn cầu ngày càng chú ý đến phát triển bền vững, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và các tiêu chuẩn ESG; đồng thời chuyển mạnh sang thương mại điện tử và minh bạch dữ liệu. Đây vừa là thách thức nhưng cũng chính là cơ hội cho hàng thủ công Việt Nam, bởi sản phẩm thủ công vốn có lợi thế về vật liệu tự nhiên, hàm lượng văn hóa, tính độc bản và câu chuyện con người.
Theo tôi, làng nghề Việt Nam không nên cạnh tranh với công nghiệp bằng giá rẻ và số lượng. Chúng ta phải cạnh tranh bằng bản sắc, chất lượng, thiết kế, tính bền vững và câu chuyện văn hóa. Đó mới là lợi thế mà sản xuất hàng loạt rất khó sao chép.
![]() |
Phóng viên: Làm thế nào để kết hợp yếu tố truyền thống với sáng tạo hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm? Theo ông, tiềm năng phát triển du lịch làng nghề ở Việt Nam hiện nay ra sao?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải hiểu đúng mối quan hệ giữa truyền thống và sáng tạo. Truyền thống không có nghĩa là bất biến; truyền thống chỉ thực sự sống khi có khả năng đối thoại với hiện tại. Chúng ta cần giữ cái “hồn” nhưng có thể đổi cái “áo”. Cái phải giữ là kỹ thuật cốt lõi, tri thức nghề nghiệp, hoa văn tiêu biểu, câu chuyện lịch sử, tinh thần thẩm mỹ và những giá trị làm nên căn cước của làng nghề. Nhưng hình thức sản phẩm, công năng, kích thước, màu sắc, bao bì và cách tiếp thị hoàn toàn có thể thay đổi để phù hợp với đời sống đương đại. Tôi rất mong có nhiều hơn nữa sự hợp tác giữa nghệ nhân – nhà thiết kế – doanh nghiệp – trường đại học – nghệ sĩ – chuyên gia công nghệ. Nghệ nhân có tri thức truyền thống, người trẻ có tư duy thiết kế và khả năng tiếp cận thị trường. Khi hai nguồn lực đó gặp nhau một cách tôn trọng, chúng ta có thể tạo ra những sản phẩm vừa rất Việt Nam, vừa có tính quốc tế. Du lịch làng nghề cũng có tiềm năng rất lớn, nhưng chúng ta không nên hiểu đơn giản là đưa khách đến làng, mua vài món quà rồi rời đi. Cần chuyển từ tham quan sang trải nghiệm: du khách được nghe câu chuyện về làng, gặp nghệ nhân, tự làm sản phẩm, thưởng thức ẩm thực, tham gia lễ hội, khám phá cảnh quan và đời sống cộng đồng. Khi ấy, chúng ta không chỉ bán một chiếc bình hay một tấm lụa. Chúng ta bán một câu chuyện, một trải nghiệm và một ký ức về Việt Nam. Giá trị kinh tế vì thế cũng tăng lên nhiều lần.
Phóng viên: Nhà nước và địa phương cần có những chính sách gì để bảo tồn và phát triển làng nghề thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, điều đầu tiên cần thay đổi là tư duy chính sách: không xem bảo tồn và phát triển là hai nhiệm vụ tách rời. Bảo tồn tốt phải tạo ra nguồn lực cho phát triển; và phát triển đúng hướng phải quay trở lại nuôi dưỡng di sản. Chính phủ đã ban hành Quyết định 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Vấn đề quan trọng hiện nay, theo tôi, là biến định hướng ấy thành những chính sách cụ thể, phù hợp với từng làng nghề. Trước hết, cần bảo vệ nghệ nhân và truyền nghề. Nghệ nhân chính là “báu vật nhân văn sống”. Cần có chính sách đãi ngộ, hỗ trợ không gian sáng tạo, đào tạo học trò và số hóa tri thức nghề. Việc dạy nghề cũng nên gắn với trường học, giáo dục địa phương và các chương trình khởi nghiệp cho thanh niên. Thứ hai, đầu tư hạ tầng và giải quyết môi trường làng nghề. Không thể lấy lý do bảo tồn truyền thống để chấp nhận công nghệ gây ô nhiễm. Làng nghề tương lai phải là làng nghề xanh, ứng dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và hướng đến kinh tế tuần hoàn.
Thứ ba, Nhà nước cần hỗ trợ thiết kế, thương hiệu, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xúc tiến thị trường quốc tế. Trong bối cảnh các thị trường phát triển ngày càng đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn xanh, nguồn gốc và trách nhiệm xã hội, hỗ trợ làng nghề thích ứng với những chuẩn mực mới phải trở thành một phần của chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh. Thứ tư, quy hoạch làng nghề phải gắn với du lịch và phát triển không gian văn hóa. Không nên chỉ bảo tồn một vài ngôi nhà hay công trình, mà phải giữ được cảnh quan, đình làng, đền thờ tổ nghề, chợ, không gian sản xuất và cả đời sống cộng đồng. Và cuối cùng, theo tôi, người dân phải là chủ thể của quá trình bảo tồn. Nhà nước có thể hỗ trợ chính sách, doanh nghiệp có thể đưa thị trường đến, chuyên gia có thể cung cấp tri thức, nhưng nếu cộng đồng không nhìn thấy lợi ích, không có niềm tự hào và không muốn tiếp tục nghề thì mọi chính sách đều khó bền vững. Đích đến cuối cùng không phải là giữ làng nghề như một “bảo tàng của quá khứ”, mà phải giúp làng nghề trở thành một không gian sống của văn hóa, một không gian sáng tạo của hiện tại và một nguồn lực phát triển của tương lai. Khi người làm nghề có thể sống tốt, thậm chí làm giàu chính đáng bằng di sản cha ông để lại, đó mới là sự bảo tồn bền vững nhất.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông
Tin liên quan
Tin khác
Đèn lồng chim Uyên Ương Làng nghề Sinh Dược
16:53 | 30/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề truyền thống Vĩnh Long Nét văn hoá sông nước Nam Bộ
15:56 | 29/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Vượt khỏi lũy tre làng: Nâng tầm nhận thức, kiến tạo thương hiệu cá nhân
15:55 | 29/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng Hội tụ tinh hoa, vươn mình trong thời đại số
07:00 | 28/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt
14:06 | 26/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc làng nghề gắn với đổi mới sản phẩm
13:16 | 25/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Cần Thơ : Làng nghề truyền thống, góp phần xây dựng nông thôn mới
07:00 | 23/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Đại hội Đại biểu Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng thành công tốt đẹp
20:00 | 22/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề truyền thống, giữ sinh kế bền vững ở Cao Bằng
07:00 | 22/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Phát huy vai trò văn hóa trong tăng cường hiểu biết, gắn kết nhân dân ASEAN
17:28 | 21/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Làng nghề trong xây dựng nông thôn mới tại Thanh Hóa
07:00 | 21/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Góp ý xây dựng Đề án phát triển sản phẩm quà tặng đặc trưng của Hà Nội
16:44 | 20/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Ứng dụng công nghệ số thúc đẩy kinh tế làng nghề Mê Linh
10:32 | 18/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Đổi mới sáng tạo hướng đi nâng tầm quà tặng gốm Bát Tràng
10:23 | 18/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến
08:00 | 16/08/2026 Làng nghề, nghệ nhân
Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại
17:18 Làng nghề, nghệ nhân
Hà Nội tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9
17:06 Tin tức
Ban Bí thư ban hành chỉ thị về công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân
17:03 Tin tức
Cách mạng Tháng Tám Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc
16:58 Tin tức
Đèn lồng chim Uyên Ương Làng nghề Sinh Dược
16:53 Làng nghề, nghệ nhân














