Hà Nội: 20°C Hà Nội
Đà Nẵng: 24°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 24°C Thừa Thiên Huế

Tự hào hai tiếng “Việt Nam”

LNV - Chính thức trở thành quốc hiệu nước ta từ cách đây hơn 2 thế kỷ, hai tiếng “Việt Nam” ngày nay đã được sử dụng phổ biến, trở nên thiêng liêng, tự hào và gần gũi. Tuy nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa và nhất là quá trình hình thành quốc hiệu đó vẫn là những vấn đề lý thú, được nhiều người quan tâm.
Tự hào hai tiếng “Việt Nam”
Cột cờ Hà Nội

Nhiều kết quả nghiên cứu thường khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn, bởi chính sử của nước ta và Trung Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này. Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do Thượng thư bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, đem trao trả lại sách ấn mà triều Thanh phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do Thượng thư bộ Binh là Lê Quang Định làm Chánh sứ, đề cập việc phong vương cho Nguyễn Ánh và đặt quốc hiệu là Nam Việt. Lời quốc thư của Nguyễn Ánh có đoạn: "... Mấy đời trước mở đất viên giao càng ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn hai trăm năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn miền đất Việt, nên theo hiệu cũ để chính quốc danh...".

Cũng năm 1802, nhà Thanh công nhận danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (năm 1804), sứ giả nhà Thanh là Tề Bố Sâm mới mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh. Như vậy, phải đến năm 1804 quốc hiệu Việt Nam mới được chính thức thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao.

Trong cuốn "Nước Đại Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa", tác giả người Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi khẳng định: "Năm 1803, có những cuộc thương thảo rất quan trọng về quốc hiệu dưới triều Nguyễn: Nam Việt hay Việt Nam". Sở dĩ nhà Thanh muốn sửa "Nam Việt" thành "Việt Nam" là vì hai lý do. Thứ nhất, trong lịch sử Trung Quốc từng có Triệu Đà nổi dậy cát cứ, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Hoàng đế; các triều đại trung ương ở Trung Quốc đều không thừa nhận nước Nam Việt. Nhà Thanh cũng vậy và không muốn bị gợi lại quá khứ ấy. Thứ hai, Nam Việt - theo cách hiểu truyền thống - có thể gồm cả nước ta và các xứ Việt Đông, Việt Tây (tức Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc, nên nếu đặt làm quốc hiệu nước ta, sau này sẽ gây rắc rối về mặt lãnh thổ. Quốc thư phúc đáp của hoàng đế nhà Thanh đã tế nhị trình bày lý do đó và khéo léo chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam: "... Lúc trước có đất Việt Thường đã xưng là nước Nam Việt, nay có cả đất An Nam, xét ra cho kỹ, thì nên gộp cả đất đai trước sau mà đặt danh hiệu tốt. Vậy, định lấy chữ Việt để trên, tỏ việc giữ đất cũ mà nối nghiệp trước; lấy chữ Nam đặt dưới, tỏ việc mở cõi Nam giao mà chịu quyền mệnh mới. Như thế thì danh xưng chính đại, nghĩa chữ tốt lành, so với hai đất Việt nước Tàu khác nhau xa lắm...".

Thực ra, không phải đến tận đầu thời Nguyễn mà tên gọi Việt Nam được biết đến ít nhất từ thế kỷ XIV, trong nhiều thư tịch đương thời như "Việt Nam thế chí” của Hồ Tông Thốc, "Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, "Trình tiên sinh quốc ngữ văn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn, "Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú... Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải sưu tầm được các văn bia (niên đại đều trước thế kỷ XVIII) có khắc tên gọi Việt Nam như bia chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương, có từ năm 1558), bia chùa Cam Lộ (Phú Xuyên, Hà Nội - 1590), bia chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh - 1664), bia Thủy Môn Đình (Đồng Đăng, Cao Lộc, Lạng Sơn - 1670), trong đó bia chùa Bảo Lâm và Thủy Môn Đình đã bị thất lạc, chỉ còn bản dập tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Nam - nước của người Việt ở phía Nam), thể hiện tinh thần tự tôn, độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, tên gọi này chưa trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng văn bản pháp luật.

Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành quốc hiệu nước ta vào năm 1792 chứ không phải vào đầu thời Nguyễn. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng (chiếu) của Nhà nước Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung thứ 5, và đã được thông báo cho nhà Thanh (Trung Quốc). Trong "Dụ Am văn tập" của Phan Huy Ích có chép nguyên bản bài "Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới" của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) vào mùa xuân năm Nhâm Tý 1792, nội dung có đoạn như sau:

"... Trẫm nối nghiệp xưa, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài... Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ...". Tuy nhiên, triều Tây Sơn tồn tại khá ngắn, lại gặp nhiều phức tạp nội bộ nên quốc hiệu Việt Nam chưa được dùng phổ biến. Đến nay cũng chưa tìm thấy sử liệu đáng kể nào nói về phản ứng của các nước (nhất là nhà Thanh - Trung Quốc) với việc đổi quốc hiệu này.

Trong lịch sử nước ta, có một hiện tượng thú vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước thường không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc hiệu đó liên tục tồn tại đến hết đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh (ngày 10-1-1226) lại mở đầu bằng câu: "Nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 - 1407) đổi quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn), nhưng đa số dân chúng vẫn gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi Giao Chỉ. Thế kỷ XV, trong "Dư địa chí”, Nguyễn Trãi có viết: "Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt", nhưng trong "Bình Ngô đại cáo" ông lại viết: "Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Đến đời Gia Long (trị vì năm 1802 - 1820), dù đã chính thức có quốc hiệu là Việt Nam nhưng một bộ phận dân chúng vẫn quen gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc và phương Tây thường gọi là An Nam.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (cuối năm 1838), cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết "Việt Nam vong quốc sử" (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912); Phan Châu Trinh viết "Pháp - Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam" (1914), Trần Trọng Kim viết "Việt Nam sử lược" (1919); Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925) và Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (1941)...

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại. Vua Bảo Đại đổi lại quốc hiệu từ Đại Nam thành Việt Nam. Ngày 19-8-1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc "Tuyên ngôn Độc lập" khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ đây, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất của nó.

Quốc Huy

Tin liên quan

Tin mới hơn

Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

LNV - Phát huy lợi thế các nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề lâu đời, xã Lai Vung (Đồng Tháp) đang từng bước bảo tồn giá trị truyền thống gắn với phát triển kinh tế địa phương. Từ nghề làm nem Lai Vung đến làng nghề dệt chiếu Định Yên, nhiều mô hình sản xuất không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

LNV - Những ngày đầu xuân năm Bính Ngọ, làng nghề chuồn chuồn tre Thạch Xá (xã Tây Phương, Hà Nội) rộn ràng không khí sản xuất, mở đầu một năm mới đầy kỳ vọng. Từ món đồ chơi dân gian giản dị, chuồn chuồn tre hôm nay đã trở thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

LNV - Nằm giữa vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), làng dệt thổ cẩm bản Lặn vẫn bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống của người Thái suốt hơn hai thế kỷ. Những khung cửi vang lên mỗi ngày không chỉ tạo nên sản phẩm thủ công tinh xảo mà còn lưu giữ hồn cốt văn hóa bản địa giữa đại ngàn.
Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

LNV - Với kỹ thuật nặn gốm không dùng bàn xoay độc đáo, làng gốm Bình Đức (xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) là một trong số ít nơi còn bảo tồn gần như nguyên vẹn phương thức chế tác cổ xưa của nhân loại. Tuy nhiên, sự suy giảm nghệ nhân và áp lực mưu sinh đang đặt di sản quý này trước nhiều thách thức cần được chung tay gìn giữ.
Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

LNV - Ngày 28/2/2026 (nhằm ngày 12 tháng Giêng năm Bính Ngọ), tại miễu Bàu Đá, xóm Tân Long, thôn Cù Lâm, xã An Nhơn Tây, Hiệp hội rượu Bàu Đá Bình Định, tỉnh Gia Lai cùng bà con Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá trang trọng tổ chức Lễ giỗ Tổ thường niên.
Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

LNV - Trong không khí phấn khởi chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026) và đón Xuân Bính Ngọ 2026, thôn Kiêu Kỵ, xã Gia Lâm đã long trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng – Vinh danh các thế hệ nghệ nhân nghề quỳ vàng bạc tại Nhà Tràng làng nghề.

Tin khác

“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

LNV - Từ một món ăn dân dã, lạp xưởng tươi Cần Đước đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường bằng nền tảng pháp lý vững chắc, mô hình quản lý chuyên nghiệp và định hướng phát triển dài hạn – trở thành niềm tự hào của đặc sản Tây Ninh trong thời kỳ mới.
“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

LNV - Giữa dòng chảy hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường nông sản – thực phẩm, việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Với đặc sản truyền thống mang đậm bản sắc Nam Bộ, “Lạp xưởng tươi Cần Đước” hôm nay không chỉ là một món ăn quen thuộc mà đang từng bước được định vị như một thương hiệu có giá trị pháp lý, giá trị kinh tế và giá trị văn hóa bền vững của tỉnh Tây Ninh và Nam Bộ.
GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

LNV - Trên cánh đồng xã Tân Hưng, tỉnh Đồng Nai, lúa gạo không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn là sinh kế gắn bó với nhiều thế hệ người dân nơi đây. Từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm, người dân địa phương đã từng bước chuyển sang canh tác theo quy trình chuẩn hóa, hướng đến nâng cao chất lượng và kiểm soát truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Trong bối cảnh đó, nhãn hiệu tập thể Gạo An Khương – Hớn Quản ra đời như một bước chuyển mình quan trọng trong hành trình nâng tầm giá trị hạt gạo quê.
BƯỞI DA XANH TÂN HIỆP – HỚN QUẢN: GIỮ MÀU MẬT NGỌT TRÊN VÙNG ĐẤT ĐỎ

BƯỞI DA XANH TÂN HIỆP – HỚN QUẢN: GIỮ MÀU MẬT NGỌT TRÊN VÙNG ĐẤT ĐỎ

LNV - Sáng sớm trên vùng đất đỏ bazan xã Tân Hiệp (nay là xã Tân Khai, tỉnh Đồng Nai), lớp sương mỏng còn đọng trên tán lá bưởi, phản chiếu ánh nắng đầu ngày lên những trái bưởi da xanh đang vào độ thu hoạch. Trái bưởi da xanh phát triển đồng đều, vỏ căng mịn, sắc xanh ánh vàng nhẹ – những đặc điểm cho thấy trái bưởi đã trải qua quá trình sinh trưởng và tích lũy dinh dưỡng tốt.
Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La

Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La

LNV - Hơn 4 thế kỷ thổi hồn cho những khối bột ở làng tò he Xuân La
Làng hoa giấy Thanh Tiên: Di sản 300 năm rực rỡ sắc xuân

Làng hoa giấy Thanh Tiên: Di sản 300 năm rực rỡ sắc xuân

LNV - Giữa những ngày Tết, khi nhịp sống chậm lại, người ta thường tìm về những thú thưởng ngoạn mang tính chiêm nghiệm: chén trà nóng, nén hương trầm, một cành hoa đặt nơi trang thờ... Ở hạ lưu sông Hương, cách trung tâm cố đô Huế không xa, có một làng nghề mà mỗi độ xuân về lại âm thầm góp sắc, góp hồn cho không gian Tết Việt - làng hoa giấy Thanh Tiên. Những đóa hoa nơi đây không khoe hương nhưng chẳng kém sắc rực rỡ mà bền bỉ, sâu lắng, mang trong mình câu chuyện của một di sản hơn 300 năm tuổi...
10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân

10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân

LNV - 10 Làng nghề nổi tiếng miền Bắc rộn ràng sắc xuân
Ngọt ngào làng nghề mật mía Nghĩa Hành

Ngọt ngào làng nghề mật mía Nghĩa Hành

LNV - Mỗi dịp cuối năm, làng nghề nấu mật mía truyền thống ở xã Nghĩa Hành (Nghệ An) lại tất bật đỏ lửa, cung ứng hàng trăm nghìn lít mật cho thị trường Tết. Nghề nấu mật không chỉ giữ gìn hương vị ẩm thực truyền thống mà còn tạo sinh kế ổn định, giúp nhiều hộ dân vươn lên khá giả ngay trên mảnh đất quê hương.
Bền bỉ giữ nghề trồng đào Nhật Tân giữa làn sóng đô thị hóa

Bền bỉ giữ nghề trồng đào Nhật Tân giữa làn sóng đô thị hóa

LNV - Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nghề trồng đào Nhật Tân vẫn bền bỉ tồn tại, thích nghi và hồi sinh giữa nhịp sống đô thị hóa của Thủ đô. Không chỉ mang giá trị kinh tế, mỗi cành đào nở đúng độ xuân về còn kết tinh tri thức dân gian, tâm huyết của người trồng đào và trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng của Hà Nội mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Toàn Thịnh giữ hương vị ô mai truyền thống

Toàn Thịnh giữ hương vị ô mai truyền thống

LNV - Toàn Thịnh - Thương hiệu ô mai nổi tiếng Hà Nội ra mắt bộ sưu tập “Tết ta- quà Việt” xuân Bính Ngọ 2026, kết hợp di sản và nghệ thuật gỗ độc bản, tôn vinh nét đẹp văn hóa Việt.
Tiếng trống quê vang xa từ làng nghề Đại Đồng

Tiếng trống quê vang xa từ làng nghề Đại Đồng

LNV - Khi nắng xuân bắt đầu hong khô những thân gỗ mới xẻ, các xưởng làm trống tại xã Đại Đồng (Nghệ An) lại tất bật vào vụ cao điểm. Không biển hiệu rực rỡ, không xưởng xí quy mô lớn, nhưng khách hàng từ khắp trong và ngoài tỉnh vẫn tìm về đây đặt mua trống phục vụ đình, chùa, trường học, lễ hội xuân.
Nghề làm xăm hường xứ Huế: Khi trò chơi cổ đứng trước nguy cơ mai một

Nghề làm xăm hường xứ Huế: Khi trò chơi cổ đứng trước nguy cơ mai một

LNV - Từng là thú chơi tao nhã của chốn cung đình và nếp sinh hoạt quen thuộc mỗi dịp Tết xưa, xăm hường ngày nay chỉ còn hiện diện khiêm tốn trong đời sống Huế. Gần nửa thế kỷ bền bỉ với nghề, ông Đặng Văn Tố vẫn lặng lẽ giữ lấy từng quân xăm, như níu lại một phần hồn cốt văn hóa Cố đô giữa dòng chảy thời gian.
Đỏ lửa lò bánh thuẫn những ngày giáp Tết

Đỏ lửa lò bánh thuẫn những ngày giáp Tết

LNV - Trong cái se lạnh cuối năm, hơi ấm từ lò bánh thuẫn gia truyền ở xã Bình Sơn (Quảng Ngãi) lan tỏa khắp gian bếp nhỏ. Từng mẻ bánh vàng ươm ra lò không chỉ mang hương vị Tết quê, mà còn là kết tinh của tri thức nghề nghiệp được truyền qua ba thế hệ, góp phần lưu giữ một phần hồn cốt ẩm thực xứ Quảng.
Không gian làng nghề Hà Nội rộn ràng sắc xuân Bính Ngọ

Không gian làng nghề Hà Nội rộn ràng sắc xuân Bính Ngọ

LNV - Những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, các xã Phượng Dực, Phù Đổng và Suối Hai (Hà Nội) trở thành điểm hẹn văn hóa – mua sắm khi Hà Nội tổ chức chuỗi triển lãm trưng bày sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới, sản phẩm OCOP và làng nghề tiêu biểu, mang đến cho người dân, du khách không gian trải nghiệm đậm sắc xuân truyền thống.
Làng nghề hoa đào Nhà Nít doanh thu hàng chục tỷ đồng dịp Tết

Làng nghề hoa đào Nhà Nít doanh thu hàng chục tỷ đồng dịp Tết

LNV - Với hơn 128 thành viên, làng nghề hoa đào Nhà Nít kỳ vọng doanh thu hơn 10 tỷ đồng dịp Tết, vượt mọi thử thách thời tiết và thị trường
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khôi phục và lan tỏa nghệ thuật chiêng ba trong cộng đồng Hrê

Khôi phục và lan tỏa nghệ thuật chiêng ba trong cộng đồng Hrê

LNV - Những năm gần đây, xã Ba Vì (tỉnh Quảng Ngãi) đang nỗ lực khôi phục và phát huy giá trị nghệ thuật chiêng ba – một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào Hrê. Từ sự vào cuộc của chính quyền địa phương đến tâm huyết của các nghệ nhân, tiếng
Gia Lai bảo tồn và phát huy Võ cổ truyền Bình Định

Gia Lai bảo tồn và phát huy Võ cổ truyền Bình Định

LNV - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Nguyễn Thị Thanh Lịch vừa ký ban hành Kế hoạch Bảo tồn và phát huy Võ cổ truyền Bình Định giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tiếp tục số hoá công tác sưu tầm, bảo tồn một cách toàn diện, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống c
Làng miến gạo Thăng Long giữ nhịp nghề truyền thống giữa thời hiện đại

Làng miến gạo Thăng Long giữ nhịp nghề truyền thống giữa thời hiện đại

LNV - Tại làng miến gạo Thăng Long (xã Thăng Bình, Thanh Hóa), nghề làm miến vẫn được người dân duy trì bền bỉ suốt nhiều năm qua. Từ những công đoạn thủ công truyền thống kết hợp máy móc hiện đại, sợi miến quê không chỉ tạo sinh kế ổn định mà còn góp phầ
Gia Lai chấp thuận đầu tư Khu công nghiệp Cát Trinh hơn 2.500 tỷ đồng

Gia Lai chấp thuận đầu tư Khu công nghiệp Cát Trinh hơn 2.500 tỷ đồng

LNV - UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Quyết định số 772/QĐ-UBND chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Cát Trinh.
Đắk Lắk: Gò Thì Thùng bản hùng ca bất diệt và công trình của ý chí niềm tin

Đắk Lắk: Gò Thì Thùng bản hùng ca bất diệt và công trình của ý chí niềm tin

LNV - Giữa cao nguyên rộng lớn, ở độ cao khoảng 400m so với mực nước biển, Địa đạo Gò Thì Thùng tại thôn Xuân Thành, xã Tuy An Tây, tỉnh Đắk Lắk nằm lặng lẽ dưới tán rừng xanh. Ít ai biết rằng, dưới lớp đất đỏ bazan bình dị ấy là cả một “thành trì” ngầm,
Giao diện di động