Hà Nội: 24°C Hà Nội
Đà Nẵng: 23°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 24°C Thừa Thiên Huế

Tự hào hai tiếng “Việt Nam”

LNV - Chính thức trở thành quốc hiệu nước ta từ cách đây hơn 2 thế kỷ, hai tiếng “Việt Nam” ngày nay đã được sử dụng phổ biến, trở nên thiêng liêng, tự hào và gần gũi. Tuy nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa và nhất là quá trình hình thành quốc hiệu đó vẫn là những vấn đề lý thú, được nhiều người quan tâm.
Tự hào hai tiếng “Việt Nam”
Cột cờ Hà Nội

Nhiều kết quả nghiên cứu thường khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn, bởi chính sử của nước ta và Trung Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này. Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do Thượng thư bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, đem trao trả lại sách ấn mà triều Thanh phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do Thượng thư bộ Binh là Lê Quang Định làm Chánh sứ, đề cập việc phong vương cho Nguyễn Ánh và đặt quốc hiệu là Nam Việt. Lời quốc thư của Nguyễn Ánh có đoạn: "... Mấy đời trước mở đất viên giao càng ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn hai trăm năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn miền đất Việt, nên theo hiệu cũ để chính quốc danh...".

Cũng năm 1802, nhà Thanh công nhận danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (năm 1804), sứ giả nhà Thanh là Tề Bố Sâm mới mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh. Như vậy, phải đến năm 1804 quốc hiệu Việt Nam mới được chính thức thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao.

Trong cuốn "Nước Đại Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa", tác giả người Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi khẳng định: "Năm 1803, có những cuộc thương thảo rất quan trọng về quốc hiệu dưới triều Nguyễn: Nam Việt hay Việt Nam". Sở dĩ nhà Thanh muốn sửa "Nam Việt" thành "Việt Nam" là vì hai lý do. Thứ nhất, trong lịch sử Trung Quốc từng có Triệu Đà nổi dậy cát cứ, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Hoàng đế; các triều đại trung ương ở Trung Quốc đều không thừa nhận nước Nam Việt. Nhà Thanh cũng vậy và không muốn bị gợi lại quá khứ ấy. Thứ hai, Nam Việt - theo cách hiểu truyền thống - có thể gồm cả nước ta và các xứ Việt Đông, Việt Tây (tức Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc, nên nếu đặt làm quốc hiệu nước ta, sau này sẽ gây rắc rối về mặt lãnh thổ. Quốc thư phúc đáp của hoàng đế nhà Thanh đã tế nhị trình bày lý do đó và khéo léo chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam: "... Lúc trước có đất Việt Thường đã xưng là nước Nam Việt, nay có cả đất An Nam, xét ra cho kỹ, thì nên gộp cả đất đai trước sau mà đặt danh hiệu tốt. Vậy, định lấy chữ Việt để trên, tỏ việc giữ đất cũ mà nối nghiệp trước; lấy chữ Nam đặt dưới, tỏ việc mở cõi Nam giao mà chịu quyền mệnh mới. Như thế thì danh xưng chính đại, nghĩa chữ tốt lành, so với hai đất Việt nước Tàu khác nhau xa lắm...".

Thực ra, không phải đến tận đầu thời Nguyễn mà tên gọi Việt Nam được biết đến ít nhất từ thế kỷ XIV, trong nhiều thư tịch đương thời như "Việt Nam thế chí” của Hồ Tông Thốc, "Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, "Trình tiên sinh quốc ngữ văn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn, "Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú... Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải sưu tầm được các văn bia (niên đại đều trước thế kỷ XVIII) có khắc tên gọi Việt Nam như bia chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương, có từ năm 1558), bia chùa Cam Lộ (Phú Xuyên, Hà Nội - 1590), bia chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh - 1664), bia Thủy Môn Đình (Đồng Đăng, Cao Lộc, Lạng Sơn - 1670), trong đó bia chùa Bảo Lâm và Thủy Môn Đình đã bị thất lạc, chỉ còn bản dập tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Nam - nước của người Việt ở phía Nam), thể hiện tinh thần tự tôn, độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, tên gọi này chưa trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng văn bản pháp luật.

Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành quốc hiệu nước ta vào năm 1792 chứ không phải vào đầu thời Nguyễn. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng (chiếu) của Nhà nước Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung thứ 5, và đã được thông báo cho nhà Thanh (Trung Quốc). Trong "Dụ Am văn tập" của Phan Huy Ích có chép nguyên bản bài "Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới" của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) vào mùa xuân năm Nhâm Tý 1792, nội dung có đoạn như sau:

"... Trẫm nối nghiệp xưa, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài... Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ...". Tuy nhiên, triều Tây Sơn tồn tại khá ngắn, lại gặp nhiều phức tạp nội bộ nên quốc hiệu Việt Nam chưa được dùng phổ biến. Đến nay cũng chưa tìm thấy sử liệu đáng kể nào nói về phản ứng của các nước (nhất là nhà Thanh - Trung Quốc) với việc đổi quốc hiệu này.

Trong lịch sử nước ta, có một hiện tượng thú vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước thường không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc hiệu đó liên tục tồn tại đến hết đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh (ngày 10-1-1226) lại mở đầu bằng câu: "Nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 - 1407) đổi quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn), nhưng đa số dân chúng vẫn gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi Giao Chỉ. Thế kỷ XV, trong "Dư địa chí”, Nguyễn Trãi có viết: "Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt", nhưng trong "Bình Ngô đại cáo" ông lại viết: "Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Đến đời Gia Long (trị vì năm 1802 - 1820), dù đã chính thức có quốc hiệu là Việt Nam nhưng một bộ phận dân chúng vẫn quen gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc và phương Tây thường gọi là An Nam.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (cuối năm 1838), cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết "Việt Nam vong quốc sử" (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912); Phan Châu Trinh viết "Pháp - Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam" (1914), Trần Trọng Kim viết "Việt Nam sử lược" (1919); Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925) và Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (1941)...

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại. Vua Bảo Đại đổi lại quốc hiệu từ Đại Nam thành Việt Nam. Ngày 19-8-1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc "Tuyên ngôn Độc lập" khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ đây, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất của nó.

Quốc Huy

Tin liên quan

Tin mới hơn

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

Người “dệt hồn quê” bằng những mũi thêu tay

LNV - Sinh ra trong một gia đình có truyền thống thêu tại vùng quê Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (nay là xã Phúc Sơn, TP Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Thị Hằng đã dành hơn hai thập kỷ bền bỉ gắn bó với nghề. Không chỉ gìn giữ kỹ thuật thêu tay truyền thống, chị còn tìm hướng đi mới để đưa nghề hòa vào nhịp sống hiện đại, mở rộng không gian sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa.
Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

Làng đệm bàng Phò Trạch: Nơi ký ức làng quê được đan dệt

LNV - Làng nghề đệm bàng Phò Trạch (phường Phong Dinh, TP Huế) từ lâu đã trở thành một phần ký ức văn hóa của người dân xứ Huế. Trải qua nhiều biến động của thị trường và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, nghề truyền thống này vẫn được người dân nơi đây bền bỉ gìn giữ, từng bước thích nghi để tồn tại và phát triển.
Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

Rối nước Nguyên Xá: Giữ hồn nghệ thuật dân gian trong dòng chảy hiện đại

LNV - Là một trong những phường rối cổ truyền tiêu biểu của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, rối nước Nguyên Xá (Hưng Yên) không chỉ lưu giữ kho tàng tích trò độc đáo mà còn đang từng bước tìm hướng đi mới để bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Giữa những biến chuyển của xã hội, những nghệ nhân nơi đây vẫn lặng lẽ giữ nghề, truyền lửa và đưa nghệ thuật rối nước đến gần hơn với công chúng.
Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

Làng sinh vật cảnh Gò Móc vươn mình thành “thủ phủ” cây cảnh

LNV - Từ những mảnh vườn nhỏ lẻ, Gò Móc (Thái Nguyên) đã từng bước phát triển thành làng nghề sinh vật cảnh quy mô với hàng chục hộ tham gia. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế hàng tỷ đồng, nơi đây còn trở thành điểm hội tụ đam mê, khẳng định hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn gắn với giá trị nghệ thuật.
Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn giấy dó Phong Phú trong nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa dòng chảy mạnh mẽ của công nghiệp hóa, làng nghề giấy dó Phong Phú (Nghệ An) vẫn âm thầm gìn giữ một nghề thủ công truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa Việt. Từ những tấm giấy mỏng nhẹ nhưng bền dai, người dân nơi đây không chỉ bảo tồn một nghề cổ mà còn từng bước tìm hướng đi mới để thích ứng với thị trường hiện đại.
Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

Về Định Yên nghe nhịp khung dệt kể chuyện làng nghề

LNV - Giữa miền sông nước Đồng Tháp, làng chiếu Định Yên vẫn đều đặn vang lên tiếng khung cửi qua bao thế hệ. Hơn hai thế kỷ trôi qua, những tấm chiếu lác không chỉ là sản phẩm mưu sinh mà còn là “nhịp thở” văn hóa, kết tinh từ sự cần cù và lòng yêu nghề của người dân nơi đây.

Tin khác

Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

Phú Nghĩa (Hà Nội): Làng nghề mộc Phù Yên chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế nông thôn

LNV - Trong nhiệm kỳ 2020–2025, Hội làng nghề truyền thống mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa, Hà Nội) đã ghi dấu một chặng đường phát triển năng động, bền vững, từng bước khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế – xã hội địa phương, đồng thời gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa nghề truyền thống.
Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

Làng nghề Sơn Đồng giữ gìn tinh hoa thủ công Việt hơn 1.000 năm

LNV - Nghề điêu khắc và sơn son thếp vàng của Sơn Đồng (Hà Nội) không chỉ bảo tồn giá trị truyền thống mà còn mở rộng thị trường quốc tế và phát triển du lịch.
Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

Nghệ thuật thụ phấn nhân tạo giúp bưởi Diễn bội thu

LNV - Ít ai biết rằng, đằng sau những chùm bưởi Diễn vàng óng, căng mọng nổi tiếng khắp Hà Nội là cả một nghệ thuật thụ phấn nhân tạo tỉ mẩn mà người dân làng Diễn (phường Phú Diễn, Hà Nội) vẫn trìu mến gọi là "se duyên" cho hoa.
Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

Hơi thở mùa xuân trong làng nghề Hưng Yên

LNV - Mùa xuân đến, không khí tại các làng nghề truyền thống ở Hưng Yên trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Từ tiếng khung cửi lách cách nơi làng dệt đũi, âm thanh đục chạm kim loại ở làng bạc, đến các món đặc sản quê nhà, tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh mùa xuân giàu bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ của nghề truyền thống.
Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

Giữ hồn Klông-pút: Khi văn hóa Xơ Đăng sống trong đôi tay nghệ nhân

LNV - Âm thanh không tự cất lên từ những ống tre nếu thiếu đi đôi bàn tay thấu hiểu. Với nghệ nhân ưu tú Y Sinh, tiếng đàn Klông-pút của người Xơ Đăng không chỉ là âm thanh, mà là ký ức văn hóa được đánh thức qua từng nhịp vỗ – một di sản sống đang được gìn giữ giữa dòng chảy hiện đại.
Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

Làng bún Hồng Quang: Nơi tạo nên sắc màu từ hạt gạo quê

LNV - Giữa vùng non nước của Cao Bằng, làng bún ngũ sắc Hồng Quang (xã Hưng Đạo) nổi bật với những sợi bún nhiều màu sắc được làm từ nguyên liệu tự nhiên. Từ nghề truyền thống của đồng bào Tày, sản phẩm bún khô nơi đây đang từng bước khẳng định giá trị, góp phần bảo tồn văn hóa ẩm thực và phát triển kinh tế nông thôn.
Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

Sức sống mới của làng nghề tại trung tâm thương mại

LNV - Trưng bày và quảng bá nghề thủ công trong không gian đô thị giúp nghề truyền thống tiếp cận công chúng mới và mở rộng thị trường.
Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

Làng nghề Thanh Hóa chủ động “lên sàn” tìm đầu ra bền vững

LNV - Trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, nhiều làng nghề truyền thống tại Thanh Hóa đang chuyển mình mạnh mẽ bằng cách tận dụng kênh số để mở rộng thị trường. Không chỉ gia tăng doanh thu, việc “lên sàn” còn giúp sản phẩm địa phương từng bước xây dựng thương hiệu và khẳng định vị thế trong nền kinh tế số.
Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

Khám phá không gian Bảo tàng Gốm Bát Tràng

LNV - Giữa không gian làng nghề ven sông Hồng, Bảo tàng Gốm Bát Tràng hiện lên như một dấu ấn văn hóa đặc biệt của làng nghề Bát Tràng. Đây là nơi tái hiện hành trình hàng trăm năm của nghề gốm truyền thống và cũng là nơi lưu giữ những sản phẩm gốm tiêu biểu của Bát Tràng.
Bảo tàng gốm Bát Tràng: Không gian lưu giữ tinh hoa làng nghề gốm Việt

Bảo tàng gốm Bát Tràng: Không gian lưu giữ tinh hoa làng nghề gốm Việt

LNV - Giữa không gian cổ kính của Làng gốm Bát Tràng, Bảo tàng gốm Bát Tràng hiện lên với kiến trúc xoắn ốc độc đáo, gợi hình ảnh chuyển động của bàn xoay gốm dưới bàn tay khéo léo của người nghệ nhân. Đây không chỉ là nơi trưng bày các sản phẩm gốm đặc sắc, còn mở ra hành trình khám phá lịch sử, văn hóa và sự phát triển của nghề gốm Bát Tràng qua nhiều thế kỷ.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đồng hành cùng Sơn Đồng phát triển nghề truyền thống

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đồng hành cùng Sơn Đồng phát triển nghề truyền thống

LNV - Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, nhằm tăng cường kết nối và chia sẻ định hướng hoạt động trong năm mới, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức buổi giao lưu, gặp gỡ với Hội Làng nghề mỹ nghệ xã Sơn Đồng. Chương trình có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội và cùng các thành viên Hội đồng Tư vấn.
Người “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm Jrai

Người “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm Jrai

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại hối hả, tiếng khung cửi vẫn đều đặn vang lên ở làng Phung (xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai). Đó là nhịp dệt quen thuộc của nghệ nhân Pel – người phụ nữ hơn 40 năm gắn bó với nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Jrai, lặng lẽ gìn giữ và truyền lại những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Phát triển làng nghề chổi đót Tam Quang trong diện mạo hành chính mới

Phát triển làng nghề chổi đót Tam Quang trong diện mạo hành chính mới

LNV - Giữa nhịp sống nông thôn đang đổi thay từng ngày, tại xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên (trước đây là xã Tam Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), hình ảnh những người dân cần mẫn ngồi bên bó đót, tỉ mỉ bện từng chiếc chổi đã trở thành nét đẹp, tô điểm thêm cho bức tranh làng quê. Nghề làm chổi đót ở đây không chỉ là sinh kế của nhiều hộ gia đình mà còn góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế truyền thống của địa phương.
Hiệp hội làng nghề Thành phố Hải Phòng khai trương trụ sở 2 và kiện toàn tổ chức

Hiệp hội làng nghề Thành phố Hải Phòng khai trương trụ sở 2 và kiện toàn tổ chức

LNV - Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, ngày 04/3/2026, Hiệp hội Làng nghề TP. Hải Phòng đã long trọng tổ chức Lễ khai trương Trụ sở văn phòng 2 tại làng nghề truyền thống Đông Giao (xã Cẩm Giàng). Sự kiện không chỉ đánh dấu bước phát triển về quy mô mà còn là cột mốc quan trọng trong việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển làng nghề trong kỷ nguyên mới.
Giữ lửa bánh thuẫn truyền thống miền Trung

Giữ lửa bánh thuẫn truyền thống miền Trung

LNV - Bánh thuẫn truyền thống miền Trung được gìn giữ qua nhiều thế hệ, trở thành hương vị Tết đặc trưng gắn liền ký ức của người dân Quảng Ngãi.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Công nghiệp hỗ trợ Nghệ An trước yêu cầu bứt tốc và tái cấu trúc

Công nghiệp hỗ trợ Nghệ An trước yêu cầu bứt tốc và tái cấu trúc

LNV - Sau giai đoạn 2018–2025, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Nghệ An đã có những bước phát triển ban đầu, góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, lĩnh vực này vẫn cần nhữn
Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO và khai mạc Festival “Về miền di sản 2026”

Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO và khai mạc Festival “Về miền di sản 2026”

LNV - Tối 27/3, tại Bắc Ninh đã diễn ra lễ đón nhận Bằng UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, đồng thời công bố Di sản Văn hóa Thế giới và khai mạc Festival “Về miền di sản 2026”, mở
Quảng Trị đầu tư mạnh cho khuyến công thúc đẩy sản xuất bền vững

Quảng Trị đầu tư mạnh cho khuyến công thúc đẩy sản xuất bền vững

LNV - Giai đoạn 2026–2030, Quảng Trị xác định khuyến công là một trong những động lực quan trọng để phát triển công nghiệp nông thôn, với trọng tâm ưu tiên sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững và ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất.
Nơi đưa Atiso đỏ trở thành sản phẩm OCOP 4 sao

Nơi đưa Atiso đỏ trở thành sản phẩm OCOP 4 sao

OVN - Từ một loại cây trồng mới du nhập về địa phương, sản phẩm nước cốt hoa Atiso Ngọc Hoàn của Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh dịch vụ thương mại Hoàn Ngọc (phường Hải Lĩnh, Thanh Hóa) đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Không chỉ là kết qu
Khai mở giá trị nghề muối Cà Mau trong phát triển du lịch bền vững

Khai mở giá trị nghề muối Cà Mau trong phát triển du lịch bền vững

LNV - Nghề làm muối ở Cà Mau không chỉ là sinh kế truyền thống mà còn là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với nhiều giá trị đặc sắc. Dù sở hữu tiềm năng lớn để phát triển du lịch trải nghiệm, đến nay việc khai thác “vàng trắng” này vẫn dừng lại ở ý tưở
Giao diện di động