Hà Nội: 20°C Hà Nội
Đà Nẵng: 24°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 23°C Thừa Thiên Huế

Tự hào hai tiếng “Việt Nam”

LNV - Chính thức trở thành quốc hiệu nước ta từ cách đây hơn 2 thế kỷ, hai tiếng “Việt Nam” ngày nay đã được sử dụng phổ biến, trở nên thiêng liêng, tự hào và gần gũi. Tuy nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa và nhất là quá trình hình thành quốc hiệu đó vẫn là những vấn đề lý thú, được nhiều người quan tâm.
Tự hào hai tiếng “Việt Nam”
Cột cờ Hà Nội

Nhiều kết quả nghiên cứu thường khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn, bởi chính sử của nước ta và Trung Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này. Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do Thượng thư bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, đem trao trả lại sách ấn mà triều Thanh phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do Thượng thư bộ Binh là Lê Quang Định làm Chánh sứ, đề cập việc phong vương cho Nguyễn Ánh và đặt quốc hiệu là Nam Việt. Lời quốc thư của Nguyễn Ánh có đoạn: "... Mấy đời trước mở đất viên giao càng ngày càng rộng, gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn hai trăm năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn miền đất Việt, nên theo hiệu cũ để chính quốc danh...".

Cũng năm 1802, nhà Thanh công nhận danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (năm 1804), sứ giả nhà Thanh là Tề Bố Sâm mới mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh. Như vậy, phải đến năm 1804 quốc hiệu Việt Nam mới được chính thức thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao.

Trong cuốn "Nước Đại Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa", tác giả người Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi khẳng định: "Năm 1803, có những cuộc thương thảo rất quan trọng về quốc hiệu dưới triều Nguyễn: Nam Việt hay Việt Nam". Sở dĩ nhà Thanh muốn sửa "Nam Việt" thành "Việt Nam" là vì hai lý do. Thứ nhất, trong lịch sử Trung Quốc từng có Triệu Đà nổi dậy cát cứ, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Hoàng đế; các triều đại trung ương ở Trung Quốc đều không thừa nhận nước Nam Việt. Nhà Thanh cũng vậy và không muốn bị gợi lại quá khứ ấy. Thứ hai, Nam Việt - theo cách hiểu truyền thống - có thể gồm cả nước ta và các xứ Việt Đông, Việt Tây (tức Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc, nên nếu đặt làm quốc hiệu nước ta, sau này sẽ gây rắc rối về mặt lãnh thổ. Quốc thư phúc đáp của hoàng đế nhà Thanh đã tế nhị trình bày lý do đó và khéo léo chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam: "... Lúc trước có đất Việt Thường đã xưng là nước Nam Việt, nay có cả đất An Nam, xét ra cho kỹ, thì nên gộp cả đất đai trước sau mà đặt danh hiệu tốt. Vậy, định lấy chữ Việt để trên, tỏ việc giữ đất cũ mà nối nghiệp trước; lấy chữ Nam đặt dưới, tỏ việc mở cõi Nam giao mà chịu quyền mệnh mới. Như thế thì danh xưng chính đại, nghĩa chữ tốt lành, so với hai đất Việt nước Tàu khác nhau xa lắm...".

Thực ra, không phải đến tận đầu thời Nguyễn mà tên gọi Việt Nam được biết đến ít nhất từ thế kỷ XIV, trong nhiều thư tịch đương thời như "Việt Nam thế chí” của Hồ Tông Thốc, "Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, "Trình tiên sinh quốc ngữ văn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn, "Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú... Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải sưu tầm được các văn bia (niên đại đều trước thế kỷ XVIII) có khắc tên gọi Việt Nam như bia chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương, có từ năm 1558), bia chùa Cam Lộ (Phú Xuyên, Hà Nội - 1590), bia chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh - 1664), bia Thủy Môn Đình (Đồng Đăng, Cao Lộc, Lạng Sơn - 1670), trong đó bia chùa Bảo Lâm và Thủy Môn Đình đã bị thất lạc, chỉ còn bản dập tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Nam - nước của người Việt ở phía Nam), thể hiện tinh thần tự tôn, độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, tên gọi này chưa trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng văn bản pháp luật.

Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành quốc hiệu nước ta vào năm 1792 chứ không phải vào đầu thời Nguyễn. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng (chiếu) của Nhà nước Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung thứ 5, và đã được thông báo cho nhà Thanh (Trung Quốc). Trong "Dụ Am văn tập" của Phan Huy Ích có chép nguyên bản bài "Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới" của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) vào mùa xuân năm Nhâm Tý 1792, nội dung có đoạn như sau:

"... Trẫm nối nghiệp xưa, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài... Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ...". Tuy nhiên, triều Tây Sơn tồn tại khá ngắn, lại gặp nhiều phức tạp nội bộ nên quốc hiệu Việt Nam chưa được dùng phổ biến. Đến nay cũng chưa tìm thấy sử liệu đáng kể nào nói về phản ứng của các nước (nhất là nhà Thanh - Trung Quốc) với việc đổi quốc hiệu này.

Trong lịch sử nước ta, có một hiện tượng thú vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước thường không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc hiệu đó liên tục tồn tại đến hết đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh (ngày 10-1-1226) lại mở đầu bằng câu: "Nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 - 1407) đổi quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn), nhưng đa số dân chúng vẫn gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi Giao Chỉ. Thế kỷ XV, trong "Dư địa chí”, Nguyễn Trãi có viết: "Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt", nhưng trong "Bình Ngô đại cáo" ông lại viết: "Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Đến đời Gia Long (trị vì năm 1802 - 1820), dù đã chính thức có quốc hiệu là Việt Nam nhưng một bộ phận dân chúng vẫn quen gọi Đại Việt, còn người Trung Quốc và phương Tây thường gọi là An Nam.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (cuối năm 1838), cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết "Việt Nam vong quốc sử" (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912); Phan Châu Trinh viết "Pháp - Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam" (1914), Trần Trọng Kim viết "Việt Nam sử lược" (1919); Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925) và Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (1941)...

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại. Vua Bảo Đại đổi lại quốc hiệu từ Đại Nam thành Việt Nam. Ngày 19-8-1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc "Tuyên ngôn Độc lập" khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ đây, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất của nó.

Quốc Huy

Tin liên quan

Tin mới hơn

Đồ mỹ nghệ tre trúc "tí hon" hút khách du lịch

Đồ mỹ nghệ tre trúc "tí hon" hút khách du lịch

LNV - Từ những vật dụng quen thuộc của miền sông nước như cần xé, ghe xuồng hay quang gánh, những người phụ nữ ở Ngã Bảy, Cần Thơ đã khéo léo sáng tạo thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ kích thước nhỏ, tinh xảo. Những món đồ tí hon này không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn trở thành quà lưu niệm độc đáo, được nhiều du khách yêu thích khi đến với vùng đất Ngã Bảy.
Sắc thổ cẩm Tây Nguyên bền bỉ cùng năm tháng

Sắc thổ cẩm Tây Nguyên bền bỉ cùng năm tháng

LNV - Giữa không gian buôn làng ở Lâm Đồng, những nghệ nhân tâm huyết như Bon Niêng K’Glòng vẫn ngày ngày truyền lửa nghề dệt cho thế hệ trẻ. Từ đôi tay khéo léo của phụ nữ Cơ Ho và Mạ, những tấm thổ cẩm mang sắc màu núi rừng tiếp tục hiện diện trong đời sống, lễ hội và mở ra cơ hội phát triển du lịch, kinh tế cho buôn làng.
Nếp váy vùng cao và hành trình giữ hồn văn hóa Mông

Nếp váy vùng cao và hành trình giữ hồn văn hóa Mông

LNV - Giữa nhịp sống đổi thay từng ngày ở vùng cao Tây Bắc, khi quần áo may sẵn ngày càng phổ biến, tại nhiều bản làng của Điện Biên, đồng bào Mông vẫn lặng lẽ gìn giữ nghề thêu, may trang phục truyền thống. Những nếp váy xòe rực rỡ, những đường kim mũi chỉ tỉ mỉ không chỉ tạo nên vẻ đẹp đặc trưng mà còn là “ngôn ngữ” văn hóa truyền đời của cộng đồng.
Nghệ nhân gìn giữ và lan tỏa tinh hoa ẩm thực Hà Thành

Nghệ nhân gìn giữ và lan tỏa tinh hoa ẩm thực Hà Thành

LNV - Sau nửa thế kỷ phục vụ trong Quân đội, bà Nguyễn Thị Hiền trở về đời thường và lặng lẽ gìn giữ món bún ốc nguội gia truyền giữa lòng Hà Nội. Từ ký ức phố cổ đến căn bếp nhỏ ở Tây Hồ, bà không chỉ nấu một món ăn mà còn truyền đi phong vị thanh lịch và tinh tế của ẩm thực Hà thành.
500 năm giữ lửa nghề đúc đồng giữa lòng Hà Nội

500 năm giữ lửa nghề đúc đồng giữa lòng Hà Nội

LNV - Nằm trên bán đảo nhô ra hồ Trúc Bạch (Hà Nội), Ngũ Xã là một trong những làng nghề thủ công tiêu biểu của kinh thành Thăng Long xưa. Trải qua gần 500 năm hình thành và phát triển, làng đúc đồng Ngũ Xã không chỉ lưu giữ kỹ nghệ tinh xảo mà còn góp phần tạo nên nhiều tác phẩm đồng đồ sộ, in dấu trong không gian văn hóa tâm linh Việt Nam.
Phụ nữ Thượng Lâm gìn giữ và nâng tầm nghề dệt thổ cẩm

Phụ nữ Thượng Lâm gìn giữ và nâng tầm nghề dệt thổ cẩm

LNV - Những năm qua, phụ nữ xã Thượng Lâm (Tuyên Quang) đã đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ hội viên phát triển nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Từ chỗ phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình, thổ cẩm Thượng Lâm từng bước trở thành sản phẩm hàng hóa đặc trưng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển du lịch địa phương.

Tin khác

Làng bột Tân Dương: Chuyển mình bằng công nghệ, nâng tầm nghề trăm năm

Làng bột Tân Dương: Chuyển mình bằng công nghệ, nâng tầm nghề trăm năm

LNV - Với hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, Làng bột Tân Dương (Đồng Tháp) đang từng bước khẳng định vị thế bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Sự kết hợp giữa gìn giữ nghề truyền thống và đổi mới công nghệ không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu, hướng tới phát triển bền vững.
Phú Hòa Đông chuyển mình để gìn giữ và phát triển nghề bánh tráng

Phú Hòa Đông chuyển mình để gìn giữ và phát triển nghề bánh tráng

LNV - Giữa nhịp sống sôi động của vùng ngoại thành TP.HCM, làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông (xã Phú Hòa Đông) vẫn đỏ lửa mỗi ngày. Từ những gian bếp nhỏ thủ công đến các nhà xưởng hiện đại, người dân nơi đây không chỉ bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống hơn 80 năm mà còn đưa bánh tráng Phú Hòa Đông vươn xa tới hàng chục quốc gia trên thế giới.
Nghệ nhân giữ nhịp cồng chiêng K’ho giữa đại ngàn

Nghệ nhân giữ nhịp cồng chiêng K’ho giữa đại ngàn

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với tiếng chiêng buôn làng, Nghệ nhân Ưu tú K’Brel (xã Bảo Thuận, Lâm Đồng) vẫn lặng lẽ giữ nhịp cồng chiêng K’ho bằng tất cả tâm huyết. Từ những đêm hội bên bếp lửa tuổi thơ đến các lớp truyền dạy cho thanh niên hôm nay, ông trở thành cầu nối bền bỉ giữa di sản và thế hệ kế cận.
Đồ mây tre đan lên ngôi trong xu hướng tiêu dùng hiện đại

Đồ mây tre đan lên ngôi trong xu hướng tiêu dùng hiện đại

LNV - Những năm gần đây, cùng với xu hướng tiêu dùng hướng tới sự an toàn và thân thiện với môi trường, các sản phẩm mây tre đan ngày càng được quan tâm lựa chọn. Với ưu điểm sử dụng nguyên liệu tự nhiên và phù hợp với nhiều không gian sinh hoạt, đồ mây tre đan đang dần khẳng định vị trí trên thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng theo hướng bền vững hiện nay.
Nghề vẽ tranh gương xứ Huế

Nghề vẽ tranh gương xứ Huế

LNV - Giữa dòng chảy mỹ thuật truyền thống, tranh gương Huế vẫn lặng lẽ tồn tại như một loại hình đặc biệt với kỹ thuật “vẽ mặt trái, nhìn mặt phải”. Từ những lớp thợ gốc Hoa ở Bao Vinh xưa đến người nghệ nhân hôm nay, hành trình gìn giữ dòng tranh cung đình này là câu chuyện của sự kiên nhẫn, tinh tế và nỗ lực bảo tồn di sản.
Thủ Độ giữ hồn nghề mộc: Vinh danh 5 nghệ nhân, lan tỏa tinh hoa Đất Tổ

Thủ Độ giữ hồn nghề mộc: Vinh danh 5 nghệ nhân, lan tỏa tinh hoa Đất Tổ

LNV - Sáng ngày 4.3, trong không khí trang nghiêm và ấm áp đầu xuân, làng nghề mộc Thủ Độ (xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ) long trọng tổ chức Lễ Báo công – Lễ tạ Đức Thánh Hoàng làng, đồng thời chúc mừng 5 nghệ nhân của làng vinh dự được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam” lần thứ XII do Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức.
Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Lai Vung gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

LNV - Phát huy lợi thế các nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề lâu đời, xã Lai Vung (Đồng Tháp) đang từng bước bảo tồn giá trị truyền thống gắn với phát triển kinh tế địa phương. Từ nghề làm nem Lai Vung đến làng nghề dệt chiếu Định Yên, nhiều mô hình sản xuất không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

Những cánh chuồn chuồn tre ở làng nghề Thạch Xá

LNV - Những ngày đầu xuân năm Bính Ngọ, làng nghề chuồn chuồn tre Thạch Xá (xã Tây Phương, Hà Nội) rộn ràng không khí sản xuất, mở đầu một năm mới đầy kỳ vọng. Từ món đồ chơi dân gian giản dị, chuồn chuồn tre hôm nay đã trở thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

Nghề thổ cẩm giữa đại ngàn Pù Luông

LNV - Nằm giữa vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), làng dệt thổ cẩm bản Lặn vẫn bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống của người Thái suốt hơn hai thế kỷ. Những khung cửi vang lên mỗi ngày không chỉ tạo nên sản phẩm thủ công tinh xảo mà còn lưu giữ hồn cốt văn hóa bản địa giữa đại ngàn.
Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

Gốm Bình Đức - Di sản sống của người Chăm trước nguy cơ mai một

LNV - Với kỹ thuật nặn gốm không dùng bàn xoay độc đáo, làng gốm Bình Đức (xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) là một trong số ít nơi còn bảo tồn gần như nguyên vẹn phương thức chế tác cổ xưa của nhân loại. Tuy nhiên, sự suy giảm nghệ nhân và áp lực mưu sinh đang đặt di sản quý này trước nhiều thách thức cần được chung tay gìn giữ.
Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

Gia Lai: Giỗ Tổ Làng nghề rượu Bàu Đá tri ân tiền nhân, gìn giữ hồn cốt “quốc tửu” xứ Nẫu

LNV - Ngày 28/2/2026 (nhằm ngày 12 tháng Giêng năm Bính Ngọ), tại miễu Bàu Đá, xóm Tân Long, thôn Cù Lâm, xã An Nhơn Tây, Hiệp hội rượu Bàu Đá Bình Định, tỉnh Gia Lai cùng bà con Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá trang trọng tổ chức Lễ giỗ Tổ thường niên.
Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

Kiêu Kỵ trang trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng, tôn vinh các thế hệ nghệ nhân quỳ vàng bạc

LNV - Trong không khí phấn khởi chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026) và đón Xuân Bính Ngọ 2026, thôn Kiêu Kỵ, xã Gia Lâm đã long trọng tổ chức Lễ Tế Tổ – Khai tràng – Vinh danh các thế hệ nghệ nhân nghề quỳ vàng bạc tại Nhà Tràng làng nghề.
“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

“Lạp xưởng tươi Cần Giuộc” – Bước chuyển từ sản xuất truyền thống sang hiện đại

LNV - Từ một món ăn dân dã, lạp xưởng tươi Cần Đước đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường bằng nền tảng pháp lý vững chắc, mô hình quản lý chuyên nghiệp và định hướng phát triển dài hạn – trở thành niềm tự hào của đặc sản Tây Ninh trong thời kỳ mới.
“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

“Lạp xưởng tươi Cần Đước” – Khẳng định giá trị đặc sản Tây Ninh trên bản đồ ẩm thực Việt

LNV - Giữa dòng chảy hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường nông sản – thực phẩm, việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Với đặc sản truyền thống mang đậm bản sắc Nam Bộ, “Lạp xưởng tươi Cần Đước” hôm nay không chỉ là một món ăn quen thuộc mà đang từng bước được định vị như một thương hiệu có giá trị pháp lý, giá trị kinh tế và giá trị văn hóa bền vững của tỉnh Tây Ninh và Nam Bộ.
GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

GẠO AN KHƯƠNG – HỚN QUẢN: DẺO THƠM HẠT NGỌC QUÊ, ĐẬM NGHĨA TÌNH ĐẤT ĐỎ

LNV - Trên cánh đồng xã Tân Hưng, tỉnh Đồng Nai, lúa gạo không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn là sinh kế gắn bó với nhiều thế hệ người dân nơi đây. Từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm, người dân địa phương đã từng bước chuyển sang canh tác theo quy trình chuẩn hóa, hướng đến nâng cao chất lượng và kiểm soát truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Trong bối cảnh đó, nhãn hiệu tập thể Gạo An Khương – Hớn Quản ra đời như một bước chuyển mình quan trọng trong hành trình nâng tầm giá trị hạt gạo quê.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Đồ mỹ nghệ tre trúc "tí hon" hút khách du lịch

Đồ mỹ nghệ tre trúc "tí hon" hút khách du lịch

LNV - Từ những vật dụng quen thuộc của miền sông nước như cần xé, ghe xuồng hay quang gánh, những người phụ nữ ở Ngã Bảy, Cần Thơ đã khéo léo sáng tạo thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ kích thước nhỏ, tinh xảo. Những món đồ tí hon này không chỉ mang giá
Cà phê Sơn La vào vụ chăm sóc mới

Cà phê Sơn La vào vụ chăm sóc mới

LNV - Sau khi kết thúc niên vụ, người trồng cà phê tại Sơn La lại tất bật quay trở lại vườn để cắt tỉa, bón phân và phục hồi cây. Việc chăm sóc đúng kỹ thuật ngay sau thu hoạch đang trở thành yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lượng, góp phần
Lăng Dinh Hương: Kiệt tác điêu khắc đá thời hậu Lê

Lăng Dinh Hương: Kiệt tác điêu khắc đá thời hậu Lê

LNV - Nằm trên một quả đồi thuộc làng Dinh Hương, quần thể Lăng Dinh Hương là công trình kiến trúc điêu khắc đá độc đáo được xây dựng từ năm 1727. Trải qua gần ba thế kỷ, di tích vẫn lưu giữ nhiều giá trị nghệ thuật và lịch sử đặc sắc, trở thành điểm đến
Sắc thổ cẩm Tây Nguyên bền bỉ cùng năm tháng

Sắc thổ cẩm Tây Nguyên bền bỉ cùng năm tháng

LNV - Giữa không gian buôn làng ở Lâm Đồng, những nghệ nhân tâm huyết như Bon Niêng K’Glòng vẫn ngày ngày truyền lửa nghề dệt cho thế hệ trẻ. Từ đôi tay khéo léo của phụ nữ Cơ Ho và Mạ, những tấm thổ cẩm mang sắc màu núi rừng tiếp tục hiện diện trong đời
Nếp váy vùng cao và hành trình giữ hồn văn hóa Mông

Nếp váy vùng cao và hành trình giữ hồn văn hóa Mông

LNV - Giữa nhịp sống đổi thay từng ngày ở vùng cao Tây Bắc, khi quần áo may sẵn ngày càng phổ biến, tại nhiều bản làng của Điện Biên, đồng bào Mông vẫn lặng lẽ gìn giữ nghề thêu, may trang phục truyền thống. Những nếp váy xòe rực rỡ, những đường kim mũi c
Giao diện di động