Thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, con dấu hình quốc huy và tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước.
Phê duyệt Chương trình mục tiêu Công nghệ thông tin
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình mục tiêu Công nghệ thông tin giai đoạn 2016 - 2020.
Mục tiêu tổng quát của Chương trình nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến thống nhất từ trung ương đến địa phương; nâng cao năng lực bảo đảm an toàn thông tin quốc gia và xác thực điện tử; phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin thông qua việc phát triển các Khu công nghệ thông tin trọng điểm và các sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm.
Theo mục tiêu đến năm 2020, 100% các bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nền tảng chia sẻ, tích hợp dùng chung; đáp ứng kết nối trên 50% các hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương có nhu cầu được kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia; 30% hồ sơ thủ tục hành chính của các địa phương được xử lý trực tuyến tại mức độ 4; trên 50% hồ sơ thủ tục hành chính cần trao đổi giữa các bộ phận một cửa liên thông được trao đổi qua môi trường mạng; hoàn thành xây dựng hệ thống kết nối liên thông các hệ thống thông tin ở trung ương và địa phương để kết nối các hệ thống dịch vụ của các bộ, ngành, địa phương đã sẵn sàng; trên 80% hệ thống thông tin từ cấp độ 3 trở lên của các địa phương được áp dụng phương án bảo đảm an toàn thông tin phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.
Đồng thời, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách 20 quốc gia có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại cao nhất trên thế giới theo xếp hạng của các tổ chức quốc tế. 100% dịch vụ công cấp độ 4 có giải pháp xác thực điện tử tập trung và tối thiểu 50% cổng thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được giám sát an toàn thông tin mạng, trong đó ưu tiên cho các tỉnh ở địa bàn khó khăn, chưa tự cân đối được ngân sách; hỗ trợ xây dựng 7 khu công nghệ thông tin tập trung thuộc Quyết định số 392/2015/QĐ-TTg ngày 27/3/ 2015 của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ nghiên cứu, phát triển tối thiểu 3 sản phẩm phần cứng điện tử thuộc lĩnh vực vi mạch, chíp bán dẫn; 06 sản phẩm nền tảng dùng trong cơ quan nhà nước và xã hội; 1 sản phẩm nội dung số phục vụ cơ quan nhà nước.
Triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ cao tại các cơ quan
Quy mô của Chương trình gồm đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tuân thủ khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam, kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, kiến trúc Chính phủ điện tử cấp tỉnh, đảm bảo an toàn, bảo mật và kết nối liên thông giữa các địa phương và trung ương và với các hệ thống thông tin dùng chung cấp quốc gia; xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng kỹ thuật hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương tạo cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ, phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao.
Cùng với đó là triển khai các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao tại các bộ, ngành và địa phương; đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và giải pháp bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin quan trọng, hệ thống xử lý các mối nguy hại thường trực trên mạng, hệ thống giám sát an toàn thông tin các trang, cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức; đầu tư xây dựng hệ thống xác thực điện tử quốc gia; hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu cho 5 khu công nghệ thông tin tập trung tại các địa phương lợi thế và vùng kinh tế trọng điểm; hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển một số sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm...
Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn về ODA, nợ công, tốc độ tăng trưởng
Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản trả lời chất vấn Đại biểu Quốc hội Hoàng Quang Hàm, Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ về vấn đề nợ công, ODA và biến động của tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Về nợ công và ODA, văn bản trả lời nêu rõ: Theo chức năng và nhiệm vụ được giao, hàng quý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi, đã có báo cáo Ban Chỉ đạo về tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ để Ban Chỉ đạo xem xét, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các giải pháp.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch đầu tư năm 2017 nguồn vốn ODA và vay ưu đãi, nhằm xây dựng báo cáo toàn diện, đầy đủ về những kết quả đạt được, những vướng mắc, khó khăn và kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương, nhà tài trợ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai làm việc cụ thể với các chủ dự án, cơ quan chủ quản, nhà tài trợ và các cơ quan liên quan, đề nghị cho ý kiến về nhu cầu và khả năng giải ngân vốn nước ngoài nguồn cấp phát từ ngân sách trung ương sát thực tế nhất có thể trong từng năm 2018, 2019, 2020. Số lượng dự án và đối tượng được khảo sát, lấy ý kiến là tương đối lớn nên mất nhiều thời gian để tổng hợp báo cáo. Hiện vẫn còn một số cơ quan, tổ chức chưa có ý kiến trả lời.
Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành soát lại tổng thể nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài từ ngân sách trung ương trong các năm 2018-2020, bao gồm: (i) Các dự án mới ký hiệp định; (ii) Các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư và đang chuẩn bị đàm phán, ký kết hiệp định; (iii) Các dự án đang thực hiện phải điều chỉnh tổng mức đầu tư dẫn tới tăng nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài so với trước đây; (iv) Các dự án chuyển đổi cơ chế tài chính từ bảo lãnh hoặc cho vay lại vốn nước ngoài sang cấp phát từ ngân sách nhà nước; (v) Các dự án sử dụng vốn nước ngoài đã giải ngân từ năm 2016 trở về trước nhưng chưa quyết toán.
Sau khi tổng hợp được nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài các năm 2018 -2020 sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi cho ý kiến trước khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài và tác động đến trần nợ công, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 26/2016/QH14 ngày 10 tháng 11 năm 2016, tổng mức vốn đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước tối đa là 2 triệu tỷ đồng, trong đó 300.000 tỷ đồng vốn nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương, đã bao gồm 30 nghìn tỷ đồng thuộc khoản dự phòng chung của Kế hoạch đầu tư công trung hạn.
Khi xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã căn cứ vào thực tế giải ngân nguồn vốn nước ngoài các năm trước và tính khả thi của việc giải ngân nguồn vốn này trong giai đoạn 2016 - 2020, theo đó với số vốn trung hạn 270 nghìn tỷ là cơ bản đáp ứng được yêu cầu giải ngân thực tiễn của các dự án đã có trong kế hoạch trung hạn, đã ký kết hiệp định và đang thực hiện.
Bên cạnh đó, để thực hiện chủ trương tranh thủ và tận dụng cơ hội sử dụng nguồn vốn ưu đãi (như IDA, ADF) trước khi nước ta hoàn toàn tốt nghiệp ODA do đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương và triển khai đàm phán, ký kết một số hiệp định dự án mới trong 2 năm 2016 và 2017 với số vốn khả năng có thể giải ngân khoảng 29 nghìn tỷ đồng (phù hợp với khoản dự phòng của nguồn vốn nước ngoài trong kế hoạch trung hạn là 30 nghìn tỷ đồng).
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng kế hoạch trung hạn nguồn vốn nước ngoài, có một số tình huống phát sinh ngoài dự kiến như: Khoản vốn của các dự án sử dụng vốn nước ngoài đã giải ngân từ năm 2016 trở về trước nhưng chưa quyết toán (14.033,795 tỷ đồng đã được Quốc hội thông qua và sử dụng một phần trong dự phòng trung hạn); các dự án đang thực hiện phải điều chỉnh tổng mức đầu tư dẫn tới tăng nhu cầu giải ngân vốn nước ngoài so với trước đây (dự án tuyến đường sắt đô thị của Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh); một số dự án dự kiến chuyển đổi cơ chế tài chính từ cho vay sang hình thức Nhà nước đầu tư trực tiếp (như 4 dự án đường cao tốc của VEC, dự án đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng)...
Như vậy, trong trường hợp những khoản phát sinh ngoài dự kiến tiếp tục được Quốc hội xem xét, thông qua thì việc rà soát lại kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nguồn vốn nước ngoài là cần thiết. Trong đó, cần xem xét các phương án hoãn, giãn tiến độ các dự án, điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn phù hợp với giới hạn trần nợ công, nợ Chính phủ và bội chi ngân sách trong các năm còn lại của kế hoạch trung hạn, bảo đảm không ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả đầu tư cũng như mối quan hệ đối ngoại giữa nước ta và các đối tác phát triển, các nhà tài trợ. Bên cạnh đó, đến năm 2018 khi nước ta tốt nghiệp hoàn toàn ODA thì các dự án sử dụng nguồn vốn vay kém ưu đãi hơn cần được xem xét thận trọng, tổng mức vốn nước ngoài sẽ giảm dần do hạn mức vay vốn của các địa phương là có hạn.
Về biến động của tốc độ tăng trưởng kinh tế, văn bản cho biết, tăng trưởng GDP của nước ta trong quý I thường thấp, sau đó tăng lên trong những quý tiếp theo có nguyên nhân chủ yếu do hoạt động sản xuất, kinh doanh quý I bị ảnh hưởng nhiều do trùng với dịp nghỉ lễ, Tết cổ truyền. Các hoạt động sản xuất (cả công nghiệp và nông nghiệp), kinh doanh, xây dựng, đầu tư, tín dụng thường không bắt đầu sôi động ngay vào đầu năm, chủ yếu tập trung vào quý IV cuối năm, là cơ hội để gia tăng các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng để phục vụ các dịp lễ Tết, đồng thời cũng là thời điểm kết thúc niên độ ngân sách của năm, nhiều nhiệm vụ phải hoàn thành trước khi bước sang năm mới.
Tốc độ tăng trưởng GDP có sự khác biệt giữa các quý trong năm với mức độ khác nhau tùy thuộc vào diễn biến tình hình kinh tế của năm đó. Với những năm có những biến chuyển kinh tế tích cực, tốc độ tăng trưởng GDP cao thì sự khác biệt này là lớn hơn. Sự biến thiên giữa các quý của tốc độ tăng GDP cũng phù hợp với sự thay đổi theo chu kỳ của các yếu tố khác như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đầu tư, xuất nhập khẩu... Tốc độ tăng trưởng GDP là chỉ tiêu kết quả, chịu sự tác động của yếu tố chu kỳ sản xuất, chu kỳ tăng trưởng và yếu tố mùa vụ của các hoạt động kinh tế. Hiện tượng tốc độ tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước trong năm, nhưng quý I năm sau thấp hơn quý IV của năm trước đã được các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá là phản ánh đúng chu kỳ và mùa vụ trong tăng trưởng của năm. Qua tổng hợp cho thấy, cơ cấu giá trị GDP của một năm cũng có sự khác biệt, bình quân giá trị GDP quý I chiếm khoảng 18%; quý II chiếm 24%; quý III chiếm 26% và quý IV chiếm 32% tổng giá trị GDP cả năm. Quý IV có tỷ trọng lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất quyết định kết quả tăng trưởng của cả năm.
Việc tính toán GDP theo quý là nhằm phục vụ công tác điều hành kế hoạch năm. Để đánh giá kết quả và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế thì cần đánh giá cả năm, trung hạn và dài hạn.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng trong năm 2017, nền kinh tế nước ta vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế và đứng trước nhiều khó khăn thách thức như:
1- Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế diễn ra chậm; việc triển khai cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ chưa đồng bộ ở các bộ, ngành, địa phương; cơ chế, giải pháp đã được đề ra nhưng cách thức tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập; chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá việc tổ chức thực hiện. Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước còn gặp nhiều vướng mắc, trở ngại; cơ cấu lại nông nghiệp tuy đạt được kết quả bước đầu nhưng kinh tế hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng cao, tích tụ đất đai đã có chủ trương nhưng chuyển biến chậm, sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp chưa hiệu quả, mô hình nông nghiệp hiệu quả cao chưa được quan tâm có thể dẫn tới phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo phong trào, tạo dư thừa cung sản phẩm nông nghiệp,... Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có quy định rõ ràng về cơ quan chịu trách nhiệm trong thực hiện, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu; chậm đổi mới trong tư duy, cách nghĩ, cách làm.
2- Chất lượng tăng trưởng kinh tế tuy đã có cải thiện một bước nhưng vẫn ở mức thấp so với yêu cầu. Hiệu quả đầu tư chưa cao, tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP chiếm 33,42%, cao hơn so với năm 2016; hệ số ICOR tuy có giảm nhẹ nhưng vẫn còn ở mức cao. Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế tăng 5,87%, tuy cao hơn so với năm 2016 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và cải thiện sức cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước trong khu vực.
3- Vấn đề giới hạn của nợ công, nợ xấu, nợ đọng xây dựng cơ bản... đã làm hạn chế và thu hẹp không gian chính sách, nhất là chính sách tài khóa, tiền tệ, không còn dư địa để áp dụng; các chính sách, giải pháp mới về thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững cũng gặp nhiều khó khăn do khả năng đáp ứng về nguồn lực gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
4- Trong các lĩnh vực sản xuất, công tác thị trường và dự báo cung cầu nông sản còn yếu, thiếu cơ chế hỗ trợ hiệu quả, chưa gây dựng được những hạt nhân dẫn dắt và cơ chế liên kết sản xuất với thị trường để giảm rủi ro. Các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến vẫn chậm phát triển; mức tăng chỉ số sản xuất công nghiệp vẫn ở mức thấp do ngành khai khoáng sụt giảm; một số sản phẩm công nghiệp khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, gặp khó khăn về giá cả, chất lượng hàng hóa. Sản xuất và xuất khẩu chủ yếu vẫn tập trung ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu.
Lập đồ án Quy hoạch chung xây dựng KKT Thái Bình
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng thực hiện việc ủy quyền cho UBND tỉnh Thái Bình để thực hiện lập nhiệm vụ và đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình.
Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Thái Bình chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan thực hiện việc lập và trình phê duyệt nhiệm vụ và đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình theo đúng quy định pháp luật.
Bộ Xây dựng thực hiện việc thẩm định nhiệm vụ và đồ án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình theo quy định pháp luật.
Đề nghị sửa đổi Luật xử lý vi phạm hành chính
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình giao Bộ Tư pháp khẩn trương lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến và đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, sau 5 năm thi hành, Luật XLVPHC đã khẳng định vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, pháp lý của đất nước; là một trong những đạo luật được áp dụng nhiều nhất trong thực tiễn đời sống thông qua số lượng việc XLVPHC rất lớn. Ngoài Luật XLVPHC, đã có cả hệ thống pháp luật đồ sộ về XLVPHC được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực này.
Trên cơ sở Luật, Nghị quyết Quốc hội ban hành, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành ban hành đầy đủ và kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn luật, rà soát, sửa đổi bổ sung các Nghị định, thông tư liên quan để hoàn thiện pháp luật về XLVPHC, tạo nên hệ thống chế tài đủ sức răn đe, góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Tính đến hết ngày 30/9/2017, Chính phủ đã ban hành tổng số 92 Nghị định (trong đó có 9 nghị định đã hết hiệu lực toàn bộ) và 67 thông tư liên tịch nhằm triển khai Luật XLVPHC hiệu quả.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết luật được chú trọng. Sau khi Luật được ban hành và có hiệu lực, hầu hết việc kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ được tổ chức thực hiện dưới hình thức lồng ghép với các chuyên đề theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc các cuộc thanh tra hành chính. Một số Bộ đã xây dựng kế hoạch kiểm tra riêng về việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Thông qua hoạt động kiểm tra, các Bộ đã nắm bắt, đánh giá thực trạng về tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực mình quản lý cũng như những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành pháp luật về XLVPHC để kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nhằm khắc phục hạn chế của công tác XLVPHC, góp phần xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về XLVPHC...
Tuy nhiên, Bộ Tư pháp cũng nhìn nhận còn nhiều khó khăn, vướng mắc như việc xây dựng văn bản quy định chi tiết liên quan đến nhiều bộ ngành đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, cán bộ công chức thực hiện công tác XLVPHC là kiêm nhiệm… Đặc biệt, Luật XLVPHC còn nhiều bất cập như một số thuật ngữ quy định còn mang tính định tính, chưa rõ ràng nên việc áp dụng còn chưa thống nhất; việc quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền làm phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới bị dồn lên cấp trên giải quyết, không bảo đảm tính kịp thời. Một số quy định về các biện pháp xử lý hành chính cũng còn nhiều bất cập…
Phó Thủ tướng cơ bản đồng ý với Bộ Tư pháp về đánh giá tình hình và kết quả thi hành pháp luật về XLVPHC; về những bất cập, hạn chế và các giải pháp trước mắt nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả thi hành Luật XLVPHC.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp khẩn trương lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến và đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Từ các kết quả tổng kết thi hành Luật XLVPHC trong 5 năm qua và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế; phân tích, đánh giá, làm rõ những bất cập, hạn chế cơ bản, có tính hệ thống của pháp luật về XLVPHC. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cơ bản, lâu dài nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật về XLVPHC bảo đảm phù hợp với tinh thần của Hiến pháp, thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, phục vụ việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện đạo Luật nêu trên.
Thẩm định hồ sơ dự án đầu tư Khu đô thị sinh thái Xuân Giang 2 (Hà Tĩnh)
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến chỉ đạo về việc đầu tư Dự án Khu đô thị sinh thái, du lịch, vui chơi giải trí tại bãi nổi Xuân Giang 2 và vùng ven sông Lam, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định hồ sơ Dự án đầu tư Khu đô thị sinh thái, du lịch, vui chơi giải trí tại bãi nổi Xuân Giang 2 và vùng ven sông Lam, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
Thái Bình
Tin liên quan
Tin mới hơn
Sôi động Triển lãm sản phẩm, mẫu thiết kế thủ công mỹ nghệ mới phục vụ Xuân Bính Ngọ 2026 tại xã Ứng Thiên
23:09 | 28/01/2026 Tin tức
Kịp thời hỗ trợ tiêu thụ cúc mâm xôi nở sớm ở làng hoa Sa Đéc
16:06 | 28/01/2026 Tin tức
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc
14:03 | 28/01/2026 Kinh tế
Sắp diễn ra Lễ hội Hoa cây cảnh, sản phẩm OCOP và đặc sản vùng miền 2026
10:36 | 28/01/2026 Tin tức
Gia Lai tổ chức trưng bày tài liệu lưu trữ về bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp
08:01 | 28/01/2026 Tin tức
Gia Lai: “Xuân Biên phòng – Ấm lòng dân bản” năm 2026
08:00 | 28/01/2026 Tin tức
Tin khác
Gia Lai tổ chức nhiều hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026
11:00 | 26/01/2026 Tin tức
Phú Thọ chăm lo Tết cho đoàn viên, người lao động dịp Xuân 2026
18:44 | 25/01/2026 Tin tức
Lan tỏa tình yêu biển đảo trong sinh viên bằng tri thức và công nghệ số
18:43 | 25/01/2026 Tin tức
Quốc hội quyết tâm thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, sớm đưa chủ trương vào cuộc sống
13:58 | 24/01/2026 Tin tức
Tạp chí Làng nghề Việt Nam ủng hộ bà con vùng lũ có hoàn cảnh khó khăn tại Gia Lai đón Tết
08:45 | 24/01/2026 Tin tức
Bế mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
08:45 | 24/01/2026 Tin tức
Diễn văn của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV
08:44 | 24/01/2026 Tin tức
Sự kiện Đường hoa TP. HCM năm đầu tiên sau sáp nhập có gì?
17:23 | 23/01/2026 Tin tức
Quảng Ninh đầu tư mạnh cho làng nghề, thúc đẩy kinh tế xanh gắn với du lịch văn hóa
16:34 | 23/01/2026 Tin tức
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC I KHẲNG ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN
16:33 | 23/01/2026 Tin tức
Xã Hồ Vương: Xây dựng nông thôn mới, tạo nền tảng vững chắc góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
11:34 | 23/01/2026 Tin tức
Xã Bát Tràng (Hà Nội) sắp tổ chức Hội chợ Hoa xuân Tết Bính Ngọ 2026
11:21 | 22/01/2026 Tin tức
Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường
12:15 | 21/01/2026 Nông thôn mới
Trường mầm non Hoa Lộc: Xây dựng trường học hạnh phúc - Lấy trẻ làm trung tâm trong mỗi hoạt động giáo dục
10:59 | 21/01/2026 Tin tức
Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân 2026: Đòn bẩy xúc tiến thương mại đầu năm
10:00 | 20/01/2026 Tin tức
TP. HCM: Tăng tốc hoàn thiện linh vật phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ
23:09 Làng nghề, nghệ nhân
Gặp nghệ nhân 10 năm liên tiếp “thổi hồn” vào linh vật đường hoa
23:09 Làng nghề, nghệ nhân
Sôi động Triển lãm sản phẩm, mẫu thiết kế thủ công mỹ nghệ mới phục vụ Xuân Bính Ngọ 2026 tại xã Ứng Thiên
23:09 Tin tức
Kịp thời hỗ trợ tiêu thụ cúc mâm xôi nở sớm ở làng hoa Sa Đéc
16:06 Tin tức
Khuyến nông Bắc Ninh là “bạn đồng hành” của nông dân trong sản xuất bền vững
16:05 Khuyến nông
