Thứ hai, 21-11-2022 | 11:42GMT+7

Cần một tầm nhìn chiến lược đối với nghệ nhân làng nghề

LNV - Trong các làng nghề nước ta, đội ngũ nghệ nhân có vai trò rất quan trọng: là người lưu giữ, truyền bá và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của nghề thủ công nước ta. Tiếp nối công lao từ các vị Tổ nghề thời trước, đội ngũ các thế hệ nghệ nhân là niềm tự hào của làng nghề chúng ta. Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chúng ta cũng cần chủ động trong việc xây dựng một hệ thống chính sách toàn diện thể hiện tầm nhìn chiến lược để khẳng định vai trò của nghệ nhân và phát huy trí tuệ, tài năng của họ.


ỨNG XỬ VỚI NGHỆ NHÂN CÒN NHIỀU BẤT CẬP

Lâu nay, chúng ta thường tôn vinh nghệ nhân làng nghề với danh xưng “Báu vật nhân văn sống”. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn chưa thấy những hoạt động xứng tầm thể hiện rõ nhận thức về giá trị của “báu vật”; vì vậy, trước tiên, xin nhắc lại nội dung khái niệm “Báu vật nhân văn sống”. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), “Báu vật nhân văn sống là những người có kiến thức và kỹ thuật ở cấp độ rất cao cần thiết cho việc thực hành hay sáng tạo các yếu tố của di sản văn hóa phi vật thể mà các quốc gia thành viên đã lựa chọn như một bằng chứng cho truyền thống văn hóa sống của mình và cho tinh thần sáng tạo của các nhóm, các cộng đồng và các cá nhân hiện diện trên đất nước mình”. Khái niệm này được đưa ra trong  Khuyến nghị của UNESCO về việc Bảo vệ văn hóa cổ truyền và văn hóa dân gian được thông qua tại kỳ họp của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 25 ở Paris (Pháp) vào ngày 15.11.1989. Khái niệm “Báu vật nhân văn sống” tiếp tục được sử dụng tại điều 2 của Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể do Đại hội đồng UNESCO thông qua vào năm 2003. Đến nay, hơn 80 quốc gia thành viên của UNESCO (trong đó có Việt Nam) đã tham gia và phê chuẩn công ước này. 

Trên thế giới, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên đề ra chính sách tôn vinh Báu vật nhân văn sống. Luật Văn hóa tài bảo hộ pháp (Bảo vệ tài sản văn hóa) do chính phủ Nhật Bản ban hành năm 1950 đã sử dụng thuật ngữ “Trọng yếu vô hình văn hóa tài bảo đặc giả” để chỉ “những cá nhân (hoặc nhóm người) đang nắm giữ và phổ biến những kỹ năng và bí quyết nhằm lưu truyền những tài sản văn hóa phi vật thể quan trọng của đất nước cho các thế hệ tương lai”. Từ sau năm 1955, người Nhật thường sử dụng khái niệm “Nhân gian quốc bảo” để thay thế cho thuật ngữ trên, không chỉ dành cho những cá nhân có cống hiến kiệt xuất mà còn dành cho những nhóm người đang nắm giữ, bảo tồn và truyền dạy cho cộng đồng những kỹ năng và bí quyết nghề nghiệp có nguy cơ thất truyền.

Tại Hàn Quốc, năm 1964, chính phủ Hàn Quốc bổ sung vào Đạo luật số 961 về Bảo vệ Tài sản Văn hóa (ban hành năm 1962) thuật ngữ “Bảo thủ giả” (người có bàn tay quý giá) để chỉ “những người (hay nhóm người) đang nắm giữ những tài sản văn hóa phi vật thể có giá trị về mặt lịch sử, nghệ thuật và học thuật”. Sau này, phỏng theo mô hình Nhật Bản, Hàn Quốc thường sử dụng thuật ngữ “Nhân gian văn hóa giả” thay cho thuật ngữ “Bảo thủ giả” đã sử dụng trong các văn bản trước đây. Hiện nay, Hàn Quốc gọi “Living National Treasure” (Bảo vật quốc gia sống), giống như Nhật Bản, Philippines, Campuchia.

Có thể thấy từ rất sớm, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đặc biệt coi trọng nghệ nhân; Họ đã có những chính sách bảo vệ và phát huy nghệ nhân cùng với nhiều chính sách khác nhằm phát huy vốn văn hóa dân tộc, tạo nên ‘sức mạnh mềm” của hai nước này, như chúng ta đã biết. Ngoài ra, trên thế giới, cũng đang có nhiều cách tôn vinh  nghệ nhân bằng danh hiệu khác nhau, như: Bậc thầy nghệ thuật (Maître d’art, Pháp), Người mang truyền thống thủ công dân gian (Bearer of Popular Craft Tradition, Cộng hòa Séc), National Artist (Nghệ sĩ quốc gia, Thái Lan), Giải thưởng Te Waka Toi (New Zealand)...

Ở nước ta, với nhận thức về giá trị của nghề thủ công - “di sản văn hóa phi vật thể”, Nhà nước đã ban hành Luật Di sản văn hóa (2001, 2009, 2013) và thực hiện một số chính sách để bảo vệ, bồi dưỡng, tôn vinh và phát huy nghệ nhân; một số tổ chức xã hội đã tham gia. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một văn bản pháp quy riêng về nghệ nhân thủ công; những chính sách hiện hành được quy định lẻ tẻ, còn thiếu toàn diện, chưa đủ tầm để hình thành đội ngũ nghệ nhân nghề thủ công một cách bền vững trong làng nghề nước ta.

Thực tiễn đòi hỏi nâng cao nhận thức và khẳng định sâu sắc hơn nữa giá trị của nghệ nhân. Họ là niềm vinh dự, tự hào của làng nghề chúng ta. Đó là vì: (i) Nghệ nhân nghề thủ công là người mang trong mình tinh hoa văn hóa truyền thống  của nghề thủ công; họ không chỉ góp phần vào nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc, phát triển công nghiệp văn hóa, mà góp phần đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới; (ii) Nhiều nghệ nhân đang say mê, tâm huyết sáng tạo nhiều sản phẩm mới, phát huy những giá trị nghề thủ công truyền thống lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường; (iii) Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của nghệ nhân là kết tinh của tâm hồn, trí tuệ và kỹ năng được mài dũa đến tinh tế của nghệ nhân, luôn luôn đổi mới, sáng tạo không có điểm dừng; ngày nay, dù có sử dụng máy móc hoặc công nghệ 4.0 trong một số công đoạn, song nghệ nhân vẫn là người “thổi hồn” vào sản phẩm; (iv) Nghệ nhân đang là người gần như duy nhất truyền dạy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn cho lớp thợ giỏi, đào tạo đội ngũ kế tiếp bảo đảm tiếp nối truyền thống và sáng tạo văn hóa nghề thủ công nước ta.

Sôi nổi nhất trong thời gian qua là các cuộc phong tặng danh hiệu nghệ nhân. Những nghệ nhân có thực tài đều mong muốn tài năng của mình được xã hội công nhận, coi đó là “thương hiệu” của mình; Địa phương cũng vinh dự vì có nghệ nhân được phong tặng; Do đó, việc phong tặng các danh hiệu nghệ nhân là cần thiết, đáp ứng yêu cầu chính đáng của nghệ nhân. Song đáng tiếc là có nơi đã lợi dụng yêu cầu này, tổ chức những cuộc phong tặng thực chất là “mua-bán”, “thương mại hóa” danh hiệu nghệ nhân với những mánh lới, thủ đoạn trục lợi lộ liễu hoặc tinh vi; Nhiều cuộc đã bị báo chí phê phán.  

Trong thực tế, đang có xu hướng chỉ quan tâm tìm nghệ nhân đã có thành tích để tôn vinh, khen thưởng theo kiểu “ăn sẵn”, thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp, đầu óc thực dụng, chỉ chú ý khai thác phần ngọn, lại không đủ kiến thức để thực hiện những công việc cần làm từ gốc: trước, trong và sau tôn vinh, để bảo đảm hình thành đội ngũ nghệ nhân một cách bài bản, căn cơ, bền vững. Sau những cuộc phong tặng nặng về hình thức, rộn ràng “loa, đèn, kèn, trống”, nghệ nhân lại bị rơi vào quên lãng.




CẦN MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC 

Bài viết này đề xuất một “tầm nhìn chiến lược” đối với nghệ nhân làng nghề, cũng tức là yêu cầu một hệ thống cơ chế, chính sách đúng tầm đối với nghệ nhân nghề thủ công làng nghề - người mang giá trị văn hóa, hồn cốt của làng nghề cần được trân quý, bảo vệ, tri ân và phát huy. Đó là những chương trình, kế hoạch toàn diện xuyên suốt cả quá trình, từ bồi dưỡng, đào tạo, hình thành nghệ nhân tại mỗi cơ sở đến phát huy nghệ nhân trong cuộc sống, bảo đảm một đội ngũ nghệ nhân nghề thủ công đủ đức và tài, có trí tuệ, tài năng và trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị của nghề thủ công truyền thống Việt Nam, đồng thời giới thiệu các giá trị nghề thủ công nước ta hội nhập với thế giới. Một tầm nhìn chiến lược như thế – cũng có thể gọi là “tầm nhìn văn hóa” là rất cần thiết đối với các cơ quan Nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện một cách bài bản hệ thống chính sách, chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng và phát huy đội ngũ nghệ nhân làng nghề nước ta.

Làm được như vậy chính là quán triệt, thực hiện chủ trương về phát huy vai trò của nghệ nhân trong “Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030” đã được Chính phủ phê duyệt ngày 7/7/2022: “Duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, tạo nòng cốt thúc đẩy công tác đào tạo, truyền nghề, thực hành nghề thủ công truyền thống, lan tỏa các giá trị của di sản văn hóa nghề truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ; bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề truyền thống, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm, tác phẩm mới có giá trị”. Hiệp hội Làng nghề Việt Nam rất nên có sự đóng góp xứng đáng trong việc này



MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ

Một là, có kế hoạch đào tạo nghệ nhân ngay từ cơ sở và liên tục hoàn thiện tri thức và kỹ năng nghề cho nghệ nhân. Thực tế cho thấy việc đào tạo nghệ nhân phải bắt đầu ngay từ gốc, trong mỗi cơ sở sản xuất làng nghề bằng một kế hoạch cụ thể, căn cơ. Lao động trong cơ sở cần được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để làm tốt công việc của mình. Thợ giỏi cần được phát hiện và bồi dưỡng thành nghệ nhân. Nghệ nhân cần được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức phù hợp để tăng thêm kiến thức, bổ sung kỹ năng mới, ứng dụng công nghệ 4.0 trong công việc, v.v...  Mỗi cơ sở phải là một “vườn ươm” nghệ nhân cho làng nghề cả nước. Chỉ có quan tâm từ gốc như thế, mới có thể hình thành đội ngũ nghệ nhân một cách bền vững.

Việc bồi dưỡng, hoàn thiện tri thức và kỹ năng nghề cho nghệ nhân phải được tiến hành có kế hoạch thường xuyên, liên tục. Đội ngũ nghệ nhân làng nghề hiện đang có nhiều lớp khác nhau: có những nghệ nhân ở tuổi 70-80, những nghệ nhân khoảng 50-60 tuổi, lại có những nghệ nhân ở độ tuổi 30-40; mỗi độ tuổi có thế mạnh, chỗ yếu khác nhau. Lớp cao tuổi thường được đào tạo tại chỗ, theo kiểu truyền miệng “cha truyền, con nối”, trưởng thành chủ yếu bằng kinh nghiệm bản thân. Lớp trung niên có nhiều người được học tập bài bản, qua các trường, lớp mỹ thuật công nghiệp; cũng có một số trưởng thành do nghệ nhân hoặc cha, anh hướng dẫn tại chỗ. Các lớp nghệ nhân này cần được liên tục bồi dưỡng không chỉ về kiến thức, kỹ năng mỹ thuật công nghiệp một cách bài bản kịp với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật hiện đại, mà quan trọng nhất, chính là ý chí, khát vọng nối tiếp và phát huy tinh hoa nghề thủ công của dân tộc, đưa nghề thủ công nước ta hội nhập xứng đáng với thế giới. 

Tình hình mới với những yêu cầu mới của thị trường cũng đang đòi hỏi nghệ nhân những nhận thức, kiến thức mới, nhất là trong xu hướng “sản xuất xanh”, “tiêu dùng xanh” thân thiện với môi trường. Trên thế giới, trước những khó khăn về năng lượng, lạm phát, lương thực, tác động của đại dịch Covid-19 ... người tiêu dùng đang phải tính lại các khoản chi tiêu; Nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ cũng khác trước. Nghệ nhân phải được thông tin, nắm được sự chuyển biến của thị trường trong nước cũng như nước ngoài để đổi mới, sáng tạo trong thiết kế, hình thành sản phẩm phù hợp.  

Hai là, tạo không gian thuận lợi cho nghệ nhân phát huy tài năng, sáng tạo. Nếu như bản chất của nghề thủ công là sáng tạo và sáng tạo không điểm dừng, thì nghệ nhân cũng luôn luôn sáng tạo, sáng tạo suốt đời. Nghệ nhân gắn bó với cơ sở sản xuất làng nghề ngay từ khi còn là lao động phổ thông và từ trong lao động sáng tạo mà trưởng thành. Vì vậy, cơ sở sản xuất làng nghề phải là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, khơi dậy ý chí và tạo môi trường thuận lợi cho nghệ nhân sáng tạo. 

Để trợ giúp nghệ nhân trong nghiên cứu, sáng tạo mẫu mã mới, kiểu dáng mới cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ, rất cần những trợ giúp cụ thể, từ nguyên vật liệu, thời gian và chi phí. Cần tổ chức các nhóm nghệ nhân cùng nghiên cứu một chuyên đề (gồm nghệ nhân trong cơ sở hoặc liên kết với nghệ nhân cơ sở khác) để cùng bổ sung cho nhau trong nghiên cứu. Giúp tổ chức các cuộc giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các nghệ nhân cùng nghề trong địa phương hoặc trong vùng. Cũng nên thành lập các câu lạc bộ nghệ nhân (theo nghề nghiệp và theo vùng) làm nơi chia sẻ kinh nghiệm, học tập lẫn nhau. Báo chí cần tuyên truyền, giới thiệu đầy đủ hơn các sáng kiến, sáng tạo, sản phẩm mới của nghệ nhân.

Ba là, chăm lo đời sống vật chất của nghệ nhân. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 về việc hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn về các mặt như: trợ cấp khó khăn hằng tháng; Bảo hiểm y tế; chi phí mai táng và giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện. Tuy nhiên, đến nay, số nghệ nhân được hưởng các hỗ trợ này chưa nhiều; phạm vi chính sách cũng còn hẹp, thủ tục có phần rườm rà. Cũng chưa có các chính sách chăm lo đời sống vật chất đối với nghệ nhân do các tổ chức xã hội-nghề nghiệp phong tặng. Đây là một thiếu sót lớn cần được khắc phục, Nghị định 109/2015 cũng cần được bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh trách nhiệm trước hết là của các cơ sở trong toàn bộ công việc chăm sóc dời sống, chữa trị bệnh cho nghệ nhân; Cũng không chỉ dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, mà cần có sự chung tay của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp.

Có những hoạt động có thể triển khai để mang lại thu nhập cho nghệ nhân, đó là:  Đưa sản phẩm của nghệ nhân vào trưng bày và bán tại các cuộc hội chợ, triển lãm (kể cả trong nước và ra nước ngoài); Nghệ nhân được miễn, giảm một số chi phí; Giúp nghệ nhân tổ chức triển lãm cá nhân, qua đó, nghệ nhân trực tiếp giới thiệu giá trị của sản phẩm, thao tác tại chỗ, ký tên vào sản phẩm, hoặc hướng dẫn du khách thực hành trải nghiệm;  Một số nghệ nhân biết ngoại ngữ có thể được mời làm hướng dẫn viên du lịch khi có khách du lịch tham quan cơ sở làng nghề. 

Bốn là, tổ chức tôn vinh, xét duyệt các danh hiệu công khai, minh bạch, đúng thực chất. Có thể khẳng định: Danh hiệu “nghệ nhân” tự thân đã là một giá trị văn hóa; Danh hiệu “nghệ nhân làng nghề” cần phải được ứng xử với tư cách là một giá trị văn hóa của cộng đồng làng nghề, một chuẩn mực của xã hội. Khi cộng đồng thừa nhận, xã hội tôn vinh thì danh hiệu đó sẽ có sức lan tỏa sâu rộng trong làng nghề; ngược lại, lạm dụng quá mức, phong tặng tràn lan sẽ dẫn đến loạn danh hiệu. Khi đó, danh hiệu không những trở nên ít ý nghĩa, kém giá trị, không chỉ gây phản cảm trong cộng đồng làng nghề mà còn làm đảo lộn các giá trị văn hóa của xã hội. Vì vậy, việc khen thưởng, tôn vinh nghệ nhân cần được thực hiện hết sức cẩn trọng.

Trong làng nghề chúng ta, nghề nào cũng có những nghệ nhân đáng được tôn vinh. Nhà nước ta đã có Nghị định số 123/2014/NĐ-CP ngày 25/12/2014 của Chính phủ về việc  xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân", “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ và giao cho Bộ Công thương chủ trì. Từ năm 2010 đến năm 2020, đã có 22 nghệ nhân nhân dân và 192 nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng (theo số liệu của Bộ Công thương). Tuy nhiên, việc xét tặng danh hiệu này còn thiếu vắng sự tham gia đầy đủ của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp liên quan đến nghề của nghệ nhân được xét tặng; do vậy, việc xét duyệt có thể chưa thật sát đúng. Thủ tục có phần rườm rà, khó thực hiện, nhất là đối với nghệ nhân làng nghề cao tuổi. 
Thời gian qua, đã có nhiều tổ chức xã hội-nghề nghiệp thực hiện các hình thức tôn vinh nghệ nhân. Riêng Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, từ năm 2001 đến 2019, qua chín lần tổ chức, đã phong tặng 835 nghệ nhân, 115 bảng vàng gia tộc nghề truyền thống. Song nhìn chung, việc xét phong tặng ở các tổ chức xã hội-nghề nghiệp cũng còn nhiều bất cập, yếu kém.

Cần khẳng định: việc xét duyệt, phong tặng các danh hiệu nghệ nhân nghề thủ công làng nghề phải nhằm mục đích là: biểu dương, tri ân gắn với trao trách nhiệm, khắc phục những tiêu cực đang làm giảm ý nghĩa cao quý của việc tôn vinh. Do vậy, cần đổi mới tư duy, tổ chức lại toàn bộ hệ thống khen thưởng theo các hướng như sau: (i) Có bộ tiêu chí cụ thể, sát hợp từng đối tượng, ngành nghề; thủ tục đăng ký, đề nghị xét thưởng cần đơn giản, dễ thực hiện; (ii) Tiến hành công khai, minh bạch từ cơ sở, có sự giám sát của cộng đồng; (iii) Đối với một số nghệ nhân có đủ tiêu chí, nhưng vì lý do nào đó mà chưa đăng ký (do già yếu, do không nắm được thông tin về tổ chức phong tặng, v.v...), các tổ chức xã hội-nghề nghiệp cần tìm hiểu, giúp đỡ họ đăng ký; (iv) Nhà nước nên chuyển giao việc phong tặng các danh hiệu nghệ nhân ở cấp cơ sở, cấp ngành nghề cho các tổ chức xã hội-nghề nghiệp  thực hiện; (v) Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý nhất trên cơ sở đề xuất của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp, kèm theo là cấp các loại huân chương tương xứng.

Năm là, phát huy nghệ nhân trong giảng dạy, truyền nghề. Lâu nay, một số nghệ nhân được mời tham gia truyền nghề tại địa phương hoặc giảng dạy tại các lớp tập huấn do nhà nước tổ chức, được mời hướng dẫn quy trình sản xuất, công nghệ thao tác tại các làng nghề, nhưng trong thực tế, số lượng này chưa nhiều. Quyết định 1956/QĐ-TTg  ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg vẫn có nhiều khiếm khuyết.

Qua khảo sát tại các làng nghề cho thấy, để phát huy vai trò của nghệ nhân trong việc giảng dạy, truyền nghề, cần có sự đổi mới toàn diện công tác dạy nghề cho lao động nông thôn. Đó là: (i) Nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của việc đào tào nghề cho lao động nông thôn gắn với tạo việc làm, thực hiện phong trào khởi nghiệp của thanh niên nông thôn; (ii) Các cơ quan chuyên ngành, các cơ sở đào tạo nghề xây dựng kế hoạch đào tạo nghề lao động gắn với yêu cầu của các cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề; (iii)Tổ chức biên soạn các bộ giáo trình đào tạo các nghề cơ bản về kiến thức, kỹ thuật nghề phục vụ cho đào tạo nghề ở các làng nghề gắn liền với các nghệ nhân bậc thầy trong đào tạo kỹ năng chế tác; (iv) Tăng cường trang bị máy móc, thiết bị, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập; (v) Có các chính sách đãi ngộ đúng mức đối với các nghệ nhân tham gia đào tạo, truyền nghề. Thực hiện các quy định trong Nghị dịnh 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn: “Các nghệ nhân trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn được Nhà nước hỗ trợ kinh phí tổ chức đào tạo nghiệp vụ sư phạm nghề nghiệp, kỹ năng dạy học; được thù lao theo quy định khi tham gia đào tạo nghề nghiệp cho lao động nông thôn. Khi nghệ nhân trực tiếp truyền nghề được thu tiền học phí của người học trên nguyên tắc thỏa thuận”.

Cũng xin nói thêm là việc phát huy nghệ nhân trong đào tạo, truyền nghề lại càng cấp thiết, vì có những nghệ nhân có kiến thức đã lớn tuổi, cần được khai thác kịp thời trước khi các cụ ra đi; đồng thời lại có những nghề thủ công có nguy cơ thất truyền, cần có các nghệ nhân nắm được nghề này tham gia trình diễn làm tư liệu cho đời sau.  

Tóm lại, trên đây là những vấn đề rút ra từ thực tiễn, đề xuất một tầm nhìn chiến lược về nghệ nhân, để việc biểu dương, tri ân và phát huy những “báu vật nhân văn sống” này được thể hiện cụ thể trong cuộc sống, một việc mà nhiều nước trên thế giới đã thực hiện trước ta hàng chục năm. Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cần chủ động xây dựng một đề án tạm gọi là “Đề án về Đào tạo và phát huy nghệ nhân làng nghề” để cùng các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác thảo luận và triển khai, góp phần hình thành hệ thống cơ chế, chính sách xứng tầm chiến lược xây dựng một cách bền vững đội ngũ nghệ nhân làng nghề nước ta.

                                                             CGCC Vũ Quốc Tuấn
                                       Chủ tịch Hội đồng Tư vấn-Hiệp hội Làng nghề Việt Nam