$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 11-06-2020 | 09:15GMT+7

Thiết kế mẫu và xây dựng thương hiệu nghề gốm truyền thống ở đồng bằng Bắc bộ

LNV - Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây hàng ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hạ Long… Trong các di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú, đa dạng nhất là vùng châu thổ sông Hồng.
Ở đây, chúng ta không đi sâu vào khởi nguồn hay kỹ thuật của nghề gốm truyền thống mà chỉ đưa ra vài đặc trưng về vấn đề tạo hình, tạo mẫu của một số làng nghề gốm Xứ lâu đời ở miền Bắc.
 

Họa sỹ Đặng Công Ngoãn - Viện trưởng Viện nghiên cứu ứng dụng Mỹ thuật sản phẩm làng nghề Việt Nam.

Gốm Chu Đậu

Gốm Chu Đậu - Thái Tân Nam Sách Hải Dương, năm tại tả ngạn sông Thái Bình là một trong nhiều làng gốm nổi tiếng của Việt Nam.

Thế kỷ 15 - l6 là thời kỳ hưng thịnh của gốm Tam Thái (còn gọi là gốm Chu Đậu); Gốm Chu Đậu lụi tàn vào thế kỷ thứ 17. Năm 1980, một vị khách người Nhật thăm quan bảo tàng ở Thổ Nhĩ Kỳ và thấy một bình hoa lam quý giá có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị hy bút” (nghĩa là: Năm Thái Hoà thứ tám (đời vua Lê Thánh Tông 1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách, vẽ chơi). Vị khách đó đã liên hệ với lãnh đạo tỉnh Hải Hưng để biết thêm chi tiết.
 

Sau nhiều cuộc điền đã, khảo cổ từ năm 1986 đến 1997, di tích gốm Chu Đậu dần được xác định. Cũng vì vậy, trong 400 năm thất truyền của gốm Chu Đậu, khi nói tới gốm truyền thống Việt Nam người ta thường nhắc tới gốm Bát Tràng, gốm Đông Triều, gốm Thổ Hà, gốm Phù Lãng, gốm Hương Canh.

Xưa kia Chu Đậu là vùng Trần triều Hải khấu (cảng nhà Trần). Chữ Hán Chu là thuyền, Đậu là bến (bến thuyền đỗ). Nơi đây, thuyền bè ra vào tập nập. Từ Chu Đậu, xuôi sông Thái Bình đến Nấu Khê, sang sông Kinh Thày ra cảng Vân Đồn (một cảng giao lưu với các nước của người Việt xưa). Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến về Thăng Long (cũng là một thương cảng lớn từ thế kỷ 16).

Trong thời hưng thịnh, gốm Chu Đậu đã đạt được 4 tiêu chuẩn: Mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông. Gốm Chu Đậu đã thể hiện được tâm hồn Việt qua hoa văn trang trí gắn với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, cô gái lái đò, người đội nón, mặc áo tứ thân, kết tóc đuôi sam, những mái nhà tranh ven sông, hoa sen dây, hoa cúc quấn, cỏ cây chim cá...

Giữa các sản phẩm thường có chữ Phúc, Chính, Sĩ, Hoa, Trung, Kim, Ngọc, Tàm, Quỳ, Trù..., có thể là tên hiệu của các chủ lò. Phương pháp chế tạo cũng đạt trình độ cao, đó là chuốt, tạo dáng trên bản xoay, ngắt sản phẩm thành nhiều công đoạn rồi lắp phép lại và gia công. Xương gốm phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong.

Phương pháp trang trí rất đa dạng, phóng khoáng: trữ tình, hài hòa, tính xảo như: vẽ, khắc, họa, đắp... sản phẩm được phủ và vẽ chất liệu men trắng hoa lam, men ngọc, men màu tam thái hoặc rạn đục... 

Đến nay, những sản phẩm gốm Chu Đậu đã được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên thể giới. Từ Ai Cập đến Trung Đông và toàn bộ các nước Đông Nam Á, Tây Âu,  đặc biệt là Nhật Bản là nước có sản phẩm gốm Chu Đậu nhiều nhất. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới có trưng bày các hiện vật gốm Chu Đậu.

Gốm Bát Tràng 

Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Có nhiều giả thuyết về sự ra đời của làng gốm Bát Tràng, trong đó có một giả thuyết vẫn được cho là hợp lý, đó là: Làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời hậu Lê, từ sự liên kết chặt chẽ giữa 5 dòng họ làm gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát như Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng. 
 

Đối với gốm Bát Tràng, trong ca dao cổ vẫn còn câu:

“Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”


Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn đất, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”. Nghĩa là đất làm gồm phải được nén chặt, để đảm bảo độ rắn chắc cho sản phẩm. Kế đó là kỹ thuật tạo lớp men phủ (men trắng, men lam, men nâu, men xanh rêu, men rạn). Cuối cùng là kỹ thuật nung lò để có được sản phẩm hoàn chỉnh.

Người thợ Bát Tràng truyền thống quan niệm sản phẩm gốm phải có sự kết hợp hải hòa của Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thể. Trong đó còn mang cả yếu tế tinh thần, sự sáng tạo của con người. Tất cả hoà vào nhau để tạo nên một loại sản phẩm gốm đặc biệt, hài hòa về bố cục, màu sắc thanh nhã cùng với sự tinh tế.

Sản phẩm gốm Bát Tràng đa dạng về kiểu dáng, phong phú về chủng loại; ngay từ thế kỷ 15 - 16 đã sản xuất cả gốm mỹ nghệ và gốm xây dựng. Đặc trưng dễ nhận thấy của gốm Bát Tràng là chất gốm mộc mạc, mạnh mẽ, cởi mở và bình dị. Chất men mộc, men lam, da lươn đã được dùng từ lâu và đến đầu thế kỷ XX gốm Bát Trang du nhập thêm men nhẹ lửa các màu rất phong phú.

Gốm Phù Lãng 

Nghề gốm Phù Lãng được hình thành và phát triển ở đây vào khoảng thời Trần, thế kỷ 13 - 14, Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số nhà sưu tập còn lưu giữ và trưng bày một số sản phẩm gồm Phù Lãng có niên đại khoảng thế kỷ 17 - 19. Đó là sản phẩm gốm men nâu và những sắc độ của nó như men da lươn, vàng nhạt, vàng thâm, vàng nâu... Các sản phẩm gốm Phù Lãng tập trung vào 3 loại hình: gốm dùng trong tín ngưỡng (lư hương, đài thờ, đỉnh...); gốm gia dụng (lọ, lộc bình, ang, chum, vại, bình vôi, ống điếu...); gốm trang trí (lộc bình, ấm hình thú: ngựa, voi...).

Gốm Phù Lãng có màu sắc khá riêng biệt, đó là những sản phẩm gốm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thấm, vàng nâu... gọi chung là men da lươn, màu men tự nhiên, bền và lạ.

Phương pháp tạo dáng đặc trưng nôi bật của gốm Phù Lãng thường sử dụng kỹ thuật đắp nổi theo hình thức chạm bong (chạm kép). Dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa, rất đậm nét điêu khắc tạo hình. Gốm Phù Lãng được tạo nên từ “xương” đất đỏ hồng lấy từ vùng Thống Vát, Cung Khiêm (Bắc Giang) cũng là một nét đặc trưng tạo màu sắc riêng cho từng sản phẩm. Vì vậy, vẻ đẹp của gốm Phù Lãng luôn đậm nét dân dã, mộc mạc, thuần khiết nhưng không kém phần tinh túy.

Gốm Hương Canh 

Theo sách sử ghi chép thì nghề gốm ở Hương Canh đã có từ hơn 300 năm. Làng gốm sảnh Hương Canh năm trong địa phận của thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Gốm Hương Canh từ lâu đã nỗi tiếng khắp miễn Bắc về những đặc tính chất lượng cũng như kiểu dáng mẫu mã. Đã có thời gốm Hương Canh có mặt ở hầu hết các làng quê vùng Bắc Bộ, trong mọi đồ dùng sinh hoạt, công trình xây dựng của người thôn quê.

Do điều kiện thổ nhưỡng nơi đây chủ yếu là đất sét xanh, sản phẩm gốm làm ra chống được sự thâm thấu, ngăn được ánh sáng, giữ được bền hương vị nguyên chất của những thứ đựng bên trong, khi pha trà thì giữ được nhiệt độ rất lâu, đựng rượu không bị hả...
 

Sản phẩm gốm nơi đây chủ yếu sản xuất các sản phẩm như vại, chum, lon, nỗi, âm... và tiểu sành. Gốm Hương Canh phát triển không theo hướng đồ sứ mà theo hướng sành hoá, với kiểu dáng đẹp, độ nung cao, đanh và không thấm nước, nhằm phục vụ những nhu câu thiết yếu nơi dân đã. Ngày xưa, thường có câu “Sứ móng cái, vại Hương Canh” là vì thế.

Điểm đặc biệt của gốm Hương Canh là không dùng men, sơn nhưng vẫn có màu, độ sáng rất đẹp, tự nhiên. Hiện nay, với việc cải tiến lò nung đạt độ lửa cao, Hương Canh đã sản xuất được loại gốm sành nâu, có kết cấu xương đất chớm chảy, đanh và bóng mặt, màu sành sẫm, gõ vào sản phẩm như gõ vào gang, tiếng nghe rất đanh. Gốm Hương Canh không dùng men mà vẫn tạo được lớp da bóng bê mặt nhờ kỹ thuật xoa nước đất và xử lý khi nung. 

Hiện tại làng nghề Hương Canh có nguy cơ bị mai một. Những người làm gốm còn sót lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tuy nhiên, với tình yêu nghề và quyết tâm gìn giữ một nét đẹp truyền thống lâu đời của cha ông để lại, gốm Hương Canh sẽ dần phục hồi và phát triển... 

Một số cảm nhận chung 

Gốm truyền thống Việt Nam đang chậm phát triển phải chăng vì các lý do sau:

Quy mô và hình thức sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, không đồng đều, không tập trung, chưa đạt được tầm công nghiệp... 

Các làng nghề dù đã có nhiều cải tiến, mẫu mã không hạn chế độ cao, lớn của sản phẩm ... (các cải tiến nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống) nhưng để thực sự đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường hiện nay cần có sự đột phá trong khâu thiết kế tạo dáng (nhu cấu hình thành ý tưởng xây dựng mẫu mã sản phẩm... ).. 

Mặc dù đa số nghệ nhân cần cù, khéo léo nhưng ít sáng tạo mẫu mã mới, dập khuôn những mẫu cũ, cải tiến không triệt để... hậu quả là tạo ra những sản phẩm không hài hòa, kém hấp dẫn, chưa phù hợp thị hiếu nhiều tầng lớp khách hàng, vùng miền... Có câu “khôn ngoan không lại với trời”, trời là thượng đế - khách hàng... có nhiều sản phẩm đã bị các “thượng đế” cho là “nửa tây nửa ta”, ra đường đi giầy da mặc quần sà-lỏn...?

Vì vậy, có nên? Cần sự đầu tư nghiêm túc, bài bản trong nghiên cứu, thiết kế tạo dáng để cho ra những sản phẩm gốm xứ có tính độc đáo, thống nhất về thẩm mỹ tạo hình trong kiểu dáng - màu sắc - đường nét, tính ứng dụng cao... đặc biệt, nên ưu tiên công đoạn thiết kế, tạo dáng cho các Doanh nghiệp và nghệ nhân, thợ giỏi có trình độ chuyên môn về thẩm mỹ. 

Thương hiệu đã và đang có nhưng chỉ đọng lại trong ký ức của khách hàng. Cần để người tiêu dùng tìm đến các thương hiệu để đặt hàng vươn ra thế giới, đó mới là thực sự gắn kết giữa thiệt kế mẫu mã - thương hiệu - hiệu quả kinh tế. 
Bài và ảnh: Đặng Công Ngoãn
qq