Thứ hai, 22-11-2021 | 11:04GMT+7

Phát triển Làng nghề gắn với xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh

LNV - Trước thách thức của quá trình đưa làng nghề, làng nghề truyền thống tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề, làng nghề truyền thống có ý nghĩa quyết định. Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ để làng nghề truyền thống đẩy mạnh dạy nghề, cấy nghề, không để thất truyền những nghề truyền thống mang đậm bản sắc làng quê Việt Nam. Bên cạnh việc phát triển sản xuất trong nông thôn mới, làng nghề, làng nghề truyền thống cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân nói chung, người làm nghề nói riêng.
1.Sự cần thiết gắn kết phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
 
1.1.Sơ lược về các Chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay 
 
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII trở về trước trước, đã có thời điểm đất nước lạm phát về Chương trình mục tiêu quốc gia. Tư tưởng cục bộ ngành, lĩnh vực cộng với sự dễ dãi của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên có lúc đã tồn tại gần 20 Chương trình mục tiêu quốc gia. Điều đó làm cho ngân sách nhà nước vốn nhỏ bé lại bị xé nhỏ, phân tán, kém hiệu quả, thậm chí có cả việc lợi dụng, vì nhiều nhiệm vụ chi của Chương trình mục tiêu quốc gia chồng chéo với nhiệm vụ chi thường xuyên (một nhiệm vụ 2 nguồn ngân sách).
 
Bước vào nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, khóa XIV và kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XV, một cuộc cách mạng về Chương trình mục tiêu quốc gia đã diễn ra. Lần đầu tiên Quốc hội quyết định thu gọn lại chỉ còn 03 Chương trình mục tiêu quốc gia gồm Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 nhằm tập trung nguồn lực để bảo đảm tính hiệu quả và chất lượng của mỗi Chương trình. Ba Chương trình MTQG tuy mục đích hướng tới, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng có sự khác nhau, nhưng đều có liên quan đến chủ trương bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống. Do đó, có thể nói cơ hội tận dụng những tác động tích cực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia đối với việc bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống trong chiến lược phát triển chung của đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045 là rất lớn xét trên cả 4 nhóm tiêu chí : (i) Quy hoạch (ii) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (iii) Phát triển kinh tế-tổ chức sản xuất và (iv) Xây dựng về văn hóa-an sinh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường. Chủ động nắm bắt cơ hội, phát huy lợi thế sẵn có, làng nghề, làng nghề truyền thống không chỉ tiếp nhận tác động tích cực từ các Chương trình để phát triển mà ở chiều ngược lại sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống sẽ góp phần thúc đẩy các Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bảo đảm tiến độ cũng như chất lượng các mục tiêu đã đề ra. Bằng chứng cho thấy, trong giai đoạn 2011-2020, những địa phương vừa sản xuất nông nghiệp vừa có nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển đều có tốc độ phát triển kinh tế-xã hội nhanh, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đạt được thực sự có chất lượng, cho phép chuyển sang xây dựng nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu. 
 

 
1.2.Quy hoạch bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống -một bộ phận của Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh (Tiêu chí 1)
 
Là một bộ phận của thành phần kinh tế tư nhân, có thể khẳng định, làng, làng nghề, làng nghề truyền thống là một thực thể sống động, hình thành từ lâu đời, với các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được giữ gìn, kế thừa và phát triển mang đậm dấu ấn của các thế hệ - thực sự là những giá trị tinh thần vô giá của nông dân và nông thôn Việt Nam. Việc định hướng quy hoạch sao cho duy trì và phát triển được những nét đặc thù, độc đáo, giản dị nhưng rất có duyên của các làng, làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam phải được xem xét một cách nghiêm túc. Làm thế nào để làng, làng nghề, làng nghề truyền thống vừa mang hơi thở của thời đại, tiến cùng thời đại trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, vừa lưu giữ được bản sắc của làng Việt Nam-Đây là bài toán không dễ. Tuy nhiên, với Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, trong đó tiêu chí về Quy hoạch được xếp ở vị trí tiêu chí số 1 là điều kiện tốt để lồng ghép nội dung bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống ngay từ khâu xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.  
 
Việc quy hoạch làng, làng nghề, làng nghề truyền thống đòi hỏi xem xét, cân nhắc thấu đáo trên nhiều mặt, từ điều tra, phân loại đến xác định những đặc thù của từng làng, từng nghề, những giá trị văn hoá cần được bảo tồn, khu vực cần cải tạo, và những khu vực cần xây dựng lại để phát triển; trên cơ sở đó tiến hành bước nghiên cứu các khả năng xử lý không gian, các giải pháp mặt bằng nhằm hai mục tiêu: cải thiện môi trường sống, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, xây dựng bộ mặt nông thôn mới hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mỗi vùng, miền, mỗi làng, mỗi nghề, đặc biệt là nghề truyền thống. 
 
Linh hồn của làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam là các công trình văn hóa đình, chùa, đền, miếu, chợ…và những nơi sử dụng cho mục đích công cộng khác. Ngày nay, nhu cầu về khu công cộng ở làng nói chung, làng nghề, làng nghề truyền thống nói riêng đã có những thay đổi rất nhiều do quá trình giao thoa, tiếp biến những giá trị văn hóa bên ngoài, do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.v.v. Do đó, quy hoạch, tổ chức lại làng, làng nghề, làng nghề truyền thống ở xã, ở đô thị nhằm phát triển sản xuất, đồng thời giải quyết những nhu cầu bức thiết của cuộc sống mới hiện đại phải bắt đầu từ Quy hoạch trên nguyên tắc có chọn lọc và kế thừa trên có sở lắng nghe ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà quản lý. 
 
Các làng có truyền thống lâu đời, lại trải qua nhiều biến động, va đập trong biến thiên của lịch sử, nhất là các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta không thể tránh khỏi thực tế ngay trong bản thân nó chứa đựng những yếu tố mang tính hạn chế khả năng phát triển: phát triển tự phát thiếu quy hoạch, mật độ cư trú và xây dựng rất cao, hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, quá tải. Đó là những lực cản rất lớn đối với sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống mà nhiều nhà chuyên môn về kiến trúc, xây dựng cho rằng những lực cản ấy đã ở mức tới hạn. Mọi sự chỉnh trang không còn là giải pháp phù hợp nữa thì việc Quy hoạch xây dựng nông thôn mới chính là lời giải thích hợp và đúng thời điểm.
 
Mục tiêu và ý nghĩa của công tác quy hoạch xây dựng đô thị nhằm xác định sự phát triển hợp lí của đô thị trong từng giai đoạn và định hướng phát triển lâu dài về các mặt như: tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan và môi trường đô thị. Quy hoạch đô thị phải đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuất trong đô thị trước tiên là các khu công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp; giải quyết mối quan hệ giữa các khu công nghiệp với bên ngoài. Quy hoạch đô thị để tạo điều kiện tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt động hàng ngày của người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong phân bố dân cư và sử dụng đất đô thị; xây dựng khu vực dịch vụ công cộng, khu nhà ở, khu nghỉ dưỡng, giải trí; bảo đảm giao thông đô thị thông suốt, an toàn và tiện lợi.  
 
2. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới theo nội dung của 4 nhóm vấn đề: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; phát triển kinh tế-tổ chức sản xuất; xây dựng về văn hóa-xã hội và bảo vệ môi trường; Xây dựng cơ sở chính trị và bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội (nhóm vấn đề 1 về Quy hoạch với tính chất quan trọng của nó đã được đề cập trên đây)
 
2.1. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (các tiêu chí 2-9)
 
Các báo cáo đánh giá về thực trạng làng nghề, làng nghề truyền thống của các cơ quan trung ương, các địa phương và của Hiệp hội làng nghề Việt Nam đều có chung nhận xét rằng, khó khăn lớn nhất mà làng nghề, làng nghề truyền thống đang gặp phải hiện nay chủ yếu thuộc về nhóm Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Bản tin ngày 12/5/2021 trên Cổng thông tin điện tử UBND TP Hà Nội đã viết "Ngoài quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, phân tán thiếu bền vững, hầu hết các làng nghề đều chưa có hệ thống hạ tầng đạt yêu cầu, trong đó, giao thông đã xuống cấp, hệ thống điện ở một số nơi chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, hệ thống cấp thoát nước còn chưa đồng bộ. Mặt bằng sản xuất chật hẹp; nhiều cơ sở sản xuất trong làng nghề có nhu cầu về mặt bằng để xây dựng nhà xưởng mở rộng sản xuất nhưng gặp khó khăn. Đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng về đất, nguồn nước, không khí và tiếng ồn". 
 
Thực tế sau khi có Nghị quyết số 25 của Quốc hội, Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 25 của Quốc hội, cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Đơn cử như Thành ủy thành phố Hà Nội ban hành Chương trình số 04-CTr/TU về Đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân giai đoạn 2021-2025; phấn đấu đến hết năm 2025, thành phố công nhận thêm 50 làng nghề, nghề truyền thống; UBND thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến các sở, ngành để có những chính sách hỗ trợ cụ thể giúp làng nghề, làng nghề truyền thống giải quyết những khó khăn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. 
 
Vấn đề còn lại là hội viên Hiệp hội làng nghề Việt Nam trong cả nước cần chủ động kiến nghị với cấp ủy, chính quyền xã, phường những khó khăn, vướng mắc, những nhu cầu cần thiết phải cải thiện về kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội để làng nghề, làng nghề truyền thống có thể phát triển nhanh, bền vững trong môi trường nông thôn mới gắn với việc thực hiện Nghị định 52 của Chính phủ về xét, công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống theo tiêu chí mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).
 
2.2.Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất trong nông thôn mới (các tiêu chí 10-13)
 
Về phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất trong nông thôn mới để tạo việc làm, nâng cao thu nhập bình quân đầu người, giảm nghèo, hình thành các mô hình liên kết sản xuất mới (công ty nông nghiệp, công ty TNHH, HTX, Tổ hợp tác xã.v.v.), cấp ủy, chính quyền địa phương phải có các giải pháp để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và các nguồn lực tại chỗ. Làng nghề, làng nghề truyền thống là thế mạnh của mỗi địa phương sẽ nhận được sự quan tâm của Chương trình xây dựng nông thôn mới. Mô hình sản xuất của làng nghề, làng nghề truyền thống trên nền tảng hộ gia đình đã đến lúc cần có những đổi mới về tư duy theo câu nói nổi tiếng của nhà tỉ phú người Mỹ Warren Buffett với tinh thần là : "Sống ở đời nên hiểu muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì phải đi cùng nhau".
2.3. Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với xây dựng văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường (các tiêu chí 14-17)
 
Nhóm tiêu chí về văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường của Chương trình xây dựng nông thôn mới không thể tách rời sự phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống. Văn hóa làng xã trước kia, văn hóa nông thôn ngày nay tuy có những phát triển mới, có sự tiếp biến văn hóa từ bên ngoài, nhưng về cơ bản vẫn là một thể thống nhất vì nó có sự kế thừa, bảo tồn và phát triển những giá trị và đặc điểm riêng có của mỗi làng, mỗi nghề. Văn hóa làng, làng nghề sẽ gắn kết con người với con người, trọng nghĩa tình, sự đùm bọc, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau nhất là trong khó khăn, hoạn nạn.

Trước thách thức của quá trình đưa làng nghề, làng nghề truyền thống tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề, làng nghề truyền thống có ý nghĩa quyết định. Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ để làng nghề truyền thống đẩy mạnh dạy nghề, cấy nghề, không để thất truyền những nghề truyền thống mang đậm bản sắc làng quê Việt Nam. Bên cạnh việc phát triển sản xuất trong nông thôn mới, làng nghề, làng nghề truyền thống cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân nói chung, người làm nghề nói riêng.  
 
2.4.Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội
 
Các giá trị vật chất và tinh thần của làng nghề, làng nghề truyền thống luôn có sức mạnh to lớn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào cấp ủy, chính quyền sở tại. Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, gắn kết con người trong lao động, sản xuất, sinh hoạt, cùng nhau chia sẻ quyền lợi và nghĩa vụ cộng đồng chính là lấy xây để chống lại những biểu hiện tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, góp phần xây dựng, củng cố môi trường sống bình an trong một xã hội trật tự, kỷ cương và thượng tôn pháp luật.
 
3. Phát triển làng nghề gắn với xây dựng đô thị văn minh
 
Mối quan hệ giữa làng nghề, làng nghề truyền thống với đô thị đã có từ lâu đời (Thăng Long xưa-Hà Nội ngày nay với 36 phố phường mang tên gọi của rất nhiều nghề truyền thống là một minh chứng tiêu biểu). Hiện nay, với tốc độ đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng và trên diện rộng, đương nhiên mô hình làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với nông thôn sẽ ngày càng bị thu hẹp lại. Nghiên cứu về tình hình phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống tại một số đô thị lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Bắc Ninh, thành phố Hố Chí Minh.v.v có thể thấy, trong môi trường đô thị, làng nghề, làng nghề truyền thống có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển như : hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội do đô thị hóa mang lại (điện, đường, trường, trạm), khả năng tiếp cận các nguồn vốn thuận lợi hơn, tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao dễ ràng hơn (gần các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu.v.v), việc tiếp thị, quảng bá sản phẩm có thể thông qua nhiều hình thức phong phú. Làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội là một điển hình về tận dụng những lợi thể so sánh của đô thị để phát triển. Nói về sự đổi thay của làng nghề, Chủ tịch UBND xã Bát Tràng cho biết: "Hiện nay, Bát Tràng có hơn 200 doanh nghiệp và hơn 1.000 hộ sản xuất - kinh doanh gốm sứ, tạo việc làm ổn định cho khoảng 5.000 lao động địa phương và hơn 4.000 lao động đến từ các địa phương lân cận. Hằng năm, giá trị sản xuất - thương mại từ gốm sứ đạt hơn 2.000 tỷ đồng, thu nhập bình quân hiện đạt 60 triệu đồng/người/năm... Đặc biệt, những năm gần đây, Bát Tràng đã trở thành một trong những điểm du lịch làng nghề được nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế tìm đến. Gắn phát triển nghề gốm với du lịch thăm quan, du lịch trải nghiệm (lưu trú tại làng nghề, tham gia một số công đoạn của nghề gốm, thưởng thức ẩm thực làng nghề.v.v) ở Bát Tràng cũng là một điểm sáng. Mỗi năm, Bát Tràng đón gần 2.000 đoàn với hơn 20.000 khách tham quan, du lịch, ký kết hợp đồng kinh tế, trong đó có 10.000 khách quốc tế".
 
4.Một số kiến nghị
 
Hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, về phát triển kinh tế-xã hội, đất nước ta đã thu được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Làng nghề, làng nghề truyền thống có bước phát triển mới, đóng góp ngày càng nhiều hơn cho nguồn thu của đất nước. Tuy nhiên, theo đánh giá của cấp ủy, chính quyền nhiều địa phương, tình trạng mai một hoặc có nguy cơ thất truyền của khá nhiều nghề truyền thống đang ở cấp độ báo động đỏ (như nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô - Hà Nội còn duy nhất 01 hộ làm, tranh Đông Hồ ở Bắc Ninh chỉ còn 3 hộ còn giữ nghề, các hộ khác chuyển sang làm hàng mã.v.v). Bảo tồn và phát triển những nghề truyền thống, đặc biệt là khôi phục, tiếp sức cho những nghề truyền thống quý hiếm trên bờ vực mai một hoặc thất truyền đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về cơ sở vật chất, kỹ thuật, về vốn, nhân lực, về chất lượng mẫu mã sản phẩm, về thị trường đầu ra, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường.v.v. 
 
Chương trình xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí và định hướng xây dựng đô thị văn minh toàn diện của Đảng và Nhà nước chính là cơ hội để các địa phương giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho các ngành nghề nông thôn, trong đó có làng nghề, làng nghề truyền thống vượt qua những khó khăn, vướng mắc để phát triển. Để làng nghề, làng nghề truyền thống trong cả nước không bị bỏ lại phía sau strong quá trình tiếp tục xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh, xin có một số kiến nghị:
 
4.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
 
Thay cũ- đổi mới bao giờ cũng là một quá trình khó khăn, nhất là đối với khu vực nông thôn nơi mà chủ nghĩa kinh nghiệm luôn được đề cao, tâm lí ngại thay đổi, sợ thất bại của người tiểu nông còn phổ biến. Thực tế quá trình đổi mới ở nước ta cho thấy có lúc, có nơi còn tồn tại tư tưởng ngại thay đổi, sợ đụng chạm, ảnh hưởng đến quyền lợi. Vì vậy, để bảo đảm mục tiêu gắn phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trong giai đoạn 2021-2025 cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, biến khát vọng của Đại hội đảng toàn quốc nhiệm kỳ 13 trở thành khát vọng và sự nêu gương của mỗi cấp ủy viên, đảng viên ở từng chi bộ, đảng bộ và của toàn dân. Đối với những địa phương không hoàn thành mục tiêu của Chương trình cần thông qua công tác thanh tra, kiểm tra làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan để xem xét trách nhiệm trước hết là đối với cấp ủy và đảng viên giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt.
 
4.2. Hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh 
 
Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và luôn đề cao nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Làng nghề, làng nghề truyền thống nước ta với những đặc trưng riêng đã được ghi nhận tại Nghị định số 52 của Chính phủ. Tuy nhiên, để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân (Điều 33 HP 2013) trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm rất cần một văn bản quy phạm pháp luật tầm một đạo luật để điều chỉnh về làng nghề, làng nghề truyền thống.
 
Kinh nghiệm xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội trong nhiều nhiệm kỳ qua cho thấy, một ngành, một lĩnh vực đã được nghị định hoặc pháp lệnh điều chỉnh là điều kiện rất thuận lợi để nâng lên thành luật bởi lẽ ngành đó, lĩnh vực đó đã được xác định là nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật với hình thức là Nghị định hoặc Pháp lệnh. Do đó, việc xây dựng Luật về làng nghề, làng nghề truyền thống trên cơ sở kế thừa, phát triển những quy định có liên quan của Nghị định 52/2018/NĐ-CP hoàn toàn khả thi, bảo đảm không chồng chéo về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng với các văn bản quy phạm pháp luật khác đã có trong hệ thống pháp luật hiện hành của Nhà nước. Đánh giá tác động về kinh tế-xã hội nếu Luật làng nghề, làng nghề truyền thống được ban hành chắc chắn sẽ mang lại nhiều yếu tố tích cực. Có thể sơ bộ dự báo những tác động chủ yếu như sau:
 
- Bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, hạn chế thấp nhất tình trạng thất truyền hoặc mai một của những nghề truyền thống có giá trị cao về văn hóa và kinh tế.
 
- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước; kéo giảm xu hướng li nông, li hương để đến với các đô thị vì mưu sinh vô hình chung tạo áp lực đối với các đô thị. 
 
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, khai thác lợi thế so sánh và những tiềm năng sẵn có của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hóa cũng như thực hiện chủ trương tăng cường liên kết vùng.
 
- Bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi làng, mỗi nghề góp phần bảo tồn, phát triển văn hóa làng nghề nhằm thực hiện mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong tình hình mới. 
 
- Góp phần củng cố niềm tin, thu hút sự tham gia tích cực chủ động của Nhân dân vào công tác xây dựng Đảng, Chính quyền và công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
 
4.3. Đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển làng nghề trong điều kiện mới, tận dụng cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình chuyển đổi số quốc gia, nền kinh tế số, sự hình thành và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
 
Phát huy vai trò của tổ chức khuyến công, Hiệp hội làng nghề, các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc tuyền truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển đất nước trong tư thế chủ động tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, mô hình kinh tế tuần hoàn.v.v; ý nghĩa và những lợi ích mà nó mang lại đối với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh nói chung, cho làng nghề, làng nghề truyền thống nói riêng. Thông qua các hoạt động tuyền truyền, phổ biến làm thay đổi tư duy phát triển của làng nghề, làng nghề truyền thống để có thể tranh thủ tốt nhất những cơ hội mới, đồng thời hạn chế thấp nhất tác động từ những mặt trái, những thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn.
 
4.4.Giải quyết những điểm nghẽn để làng nghề phát triển nhanh và bền vững 
 
Trước mắt, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 25 của Quốc hội và Kế hoạch triển khai cụ thể của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2021-2025, bên cạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo và phân bổ nguồn lực từ trung ương, Chính quyền các địa phương cần chủ động triển khai công tác điều tra, đánh giá thực trạng làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn làm căn cứ để xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội theo Chương trình xây dựng nông thôn mới. Trước mắt cần ban hành những cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ đối với làng nghề, làng nghề truyền thống như:
 
- Cải thiện chất lượng kết cấu hạn tầng kinh tế-xã hội, giải quyết nhu cầu mặt bằng sản xuất;
 
- Hỗ trợ việc tiếp thị, phát triển thị trường đầu ra cho sản phẩm;
 
- Tạo điều kiện thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận các nguồn vốn và khả năng ứng dụng công nghệ để đổi mới mẫu mã sản phẩm;
 
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí cơ hội để làng nghề, làng nghề truyền thống có điều kiện giảm giá thành tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước./.
 
Luật sư Lê Việt Trường
Nguyên ĐBQH khóa XII, XIII