$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ ba, 12-05-2020 | 08:11GMT+7

Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề nhìn từ khía cạnh quy hoạch đất đai

LNV - Môi trường không khí, nước và tiếng ồn tại các làng nghề nông thôn Việt Nam luôn là vấn đề các nhà hoạch định chính sách và pháp luật quan tâm.
Khi mà tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng cùng với sự phát triển kinh tế trong giai đoạn mới của đất nước đất đai ngày càng sử dụng có hiệu quả. Trước sức ép gia tăng của dân số, các diện tích đất lại không tăng thêm, lượng không khí môi trường mà con người dùng để thở ngày một đậm đặc. Hệ thống lọc không khí và cấp thoát nước thiếu nghiêm trọng. Không khí chỉ còn cách quẩn chặt vào từng lá phổi của người thợ và dân làng nghề. Trong bài viết này tác giả nêu một số ý kiến của mình về sự tác động của quy hoạch đất đai đối với bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn trong làng nghề nông thôn Việt Nam và đưa ra một số giải pháp bước đầu bảo vệ môi trường sống trong lành cho dân chúng địa phương, góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề nông thôn Việt Nam.

 Làng xã Việt Nam có từ thời xa xưa trong lịch sử nước ta. Nó cũng phát triển thăng trầm cùng với quá trình phát triển của dân tộc. Làng xã có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. “Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và muốn xây dựng lại đất nước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu từ việc xây dựng lại làng xã. Vì không có làng xã Việt Nam, thì không có quốc gia Việt Nam”. (1)

Làng là nơi đồng quê, nhiều gia đình quy tụ thành khu được gọi là xóm. Các xóm được phân biệt với nhau bằng các luỹ tre. Trên đường đi vào thường có cổng xây hoặc tre, đến đêm tối có thể đóng lại được để phòng ngừa trộm cướp. Hai ba,bốn hoặc có khi là năm, sáu xóm họp thành một thôn gọi là làng. (2)
 

PGS. TS. Doãn Hồng Nhung.
 

Trên đất nước ta, nơi hội tụ làng nghề, phố nghề, chính là tỉnh và thành phố thuộc vùng Châu thổ Sông Hồng, đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, và đồng bằng Nam bộ. Khu vực miền núi Bắc Hà và Tây nguyên cũng có làng nghề nhưng số lượng không nhiều và quy mô sản xuất nhỏ. 

Làng nghề, (phố nghề do đô thị hoá trong những năm gần đây) làm nghề thủ công truyền thống. Mỗi làng nghề xưa nay, tự nó đã chứa đựng hai yếu tố chủ yếu : truyền thống nghề nghiệp và truyền thống văn hoá. Chúng hoà quyện vào nhau làm nên văn hoá làng nghề truyền thống.  (3)

Văn hoá làng nghề hội tụ những thuần phong mỹ tục, đoàn kết cộng đồng, tinh hoa nghề nghiệp, tài năng nghệ nhân, nếp sinh hoạt quần cư...Việt Nam là đất nước của nền văn minh lúa nước, nền sản xuất cổ truyền, do vậy trình độ phát triển kỹ thuật của mỗi làng nghề đã phản ánh một phần trình độ phát triển của nền văn minh đó.

Việt Nam hôm nay, trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng những giá trị truyền thống, sản phẩm truyền thống từ làng nghề.Tại Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết về đẩy nhanh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết chỉ rõ việc phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn cũng như vạch ra giải pháp về quy hoạch : “Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải đặt trong tổng thể chung của cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ... Quản lý, cập nhật thông tin và kịp thời điều chỉnh quy hoạch….Chú trọng làm tốt quy hoạch những vùng sản xuất hàng hoá tập trung(cây, con, sản phẩm, ngành nghề...);Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng xã, thị trấn.....giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”. (3)

Làng nghề, nơi các nghệ nhân có “bàn tay vàng”, những người thợ giàu kinh nghiệm trong làng nghề, phường nghề, tộc nghề, hộ nghề vẫn không ngừng sáng tạo, chế tác những sản phẩm tinh xảo. Họ là những người tâm huyết với nghề, với làng nghề thủ công truyền thống. Họ là những con người tài hoa, bậc thầy truyền nghề cho thế hệ mai sau, kế tiếp gìn giữ nghề cho muôn đời.

Chính vì vậy, quy hoạch đất đai cho làng nghề, bảo vệ môi trường cho làng nghề, phát huy văn hoá làng nghề là vấn đề càng trở nên quan trọng, cấp bách hơn bao giờ hết. Trong công cuộc đổi mới của nền kinh tế đất nước, làng nghề cho thấy sức sống tiềm tàng về lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhà nước không chỉ quan tâm hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các cơ sở sản xuất và bảo hộ hàng thủ công xuất khẩu. Bên cạnh đó Nhà nước còn đầu tư kinh phí cho các dự án quy hoạch, nâng cấp làng nghề trọng điểm. Dự án đã từng bước thay thế các lò cổ truyền dùng than và củi bằng hệ thống lò ga, lò điện để nung gốm. Sử dụng công nghệ hiện đại đã cải thiện môi trường của làng nghề. Bên cạnh đó, việc xây kè bờ sông Hồng phía Tây làng Bát Tràng để hạn chế xói lở đã giúp Bát tràng trở thành làng nghề du lịch hấp dẫn, nổi tiếng trong và ngoài nước. Làng thêu Quất Động, làng chạm khắc gỗ Vạn Điển (Hà Nội), làng chạm khắc gỗ Đồng Kỵ, làng sắt thép Đa Hội, làng giấy Phong Khê ( Bắc Ninh), Làng gốm Biên Hoà(Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương) ... đã có vị thế trên thương trường trong nước và quốc tế. Các dự án triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh như trùng tu phố cổ ở quận Năm, Huế, phố cổ Hội An, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nam, Hưng Yên...đã chứng tỏ trên bình diện kinh tế và xã hội, làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam. 

Chính vì vậy, vấn đề Quy hoạch đất đai cho làng nghề nông thôn Việt Nam, bảo vệ môi trường cho làng nghề là vấn đề cấp bách.

Mỗi làng nghề thường gắn với một địa danh, nó có vị trí địa lý “độc nhất vô nhị”. Nhà nước cần có biện pháp quy hoạch đất đai, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường cho các điểm dân cư nông thôn và làng nghề truyền thống nông thôn cần được quy hoạch để những người dân ở đó yên tâm, duy trì, bảo tồn các giá trị truyền thống. Những người dân nơi làng quê cần được sống trong môi trường trong lành, có điều kiện sinh hoạt, lao động, sáng tạo tốt hơn.

Như vậy, một không gian làng nghề truyền thống sẽ cho phép làm giàu cảnh quan quy hoạch bởi sự phát hiện của những đặc trưng địa hình của mỗi làng quê Việt Nam. Có quy hoạch đất đai, sự hài hoà giữa địa hình và cảnh quan của làng nghề sẽ nâng cao thẩm mỹ, chất lượng đời sống cho người dân ở đó.

Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần có sự gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội của làng nghề. Cùng với các quy phạm pháp luật về quy hoạch làng nghề nông thôn được quy định trong pháp luật Xây dựng hiện hành. Quy hoạch là một lĩnh vực khoa học riêng biệt, đặc thù, nhưng kết tinh trong công trình lại ghi nhận giá trị đặc trưng của nó.“ Để hoà nhập vấn đề môi trường trong phát triển làng nghề truyền thống, ngành xây dựng có vai trò quan trọng trong các giải pháp từ quy hoạch xây dựng nông thôn để giải quyết vệ sinh môi trường. Trước tiên cần trú trọng tới quy hoạch chung và cơ sở hạ tầng”  5. Nhà nước cần tổ chức tốt việc sản xuất, cải tạo nhà xưởng trong làng nghề. 

 Nhà nước cần đầu tư và lập quy hoạch tổng thể để phân bố xắp xếp lại các khu sinh hoạt, sản xuất và tạo dựng cơ sở hạ tầng.(6) 

Quy hoạch bãi chứa nguyên liệu, nguồn nước, chất thải, hạn chế bụi, tiếng ồn... Bên cạnh đó tăng cường trồng cây, hồ nước, vòi phun nước nhân tạo, thiết bị thu gom bụi, khí độc, nhiễm nhiệt, nhiễm điện từ các lò, hầm nung, nơi sấy sản phẩm từ các làng nghề. Quy hoạch làng nghề nông thôn phải được quy hoạch theo hướng phát triển bền vững, 7 mô hình làng sinh thái, nhà sinh thái sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống cho bà con nông dân. Đây là nhân tố tạo điều kiện cho làng nghề phát triển kinh tế - văn hoá-xã hội ở nông thôn Việt Nam.

 Việc sử dụng đất để sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm phải tuân theo quy định pháp luật về khai thác nguyên liệu hoặc quyết định giao đất, cho thuê đất để chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc sử dụng đất để sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm phải thực hiện các biện pháp cần thiết để không gây thiệt hại cho sản xuất, đời sống và ảnh hưởng xấu đến môi trường;

Việc sử dụng đất để sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.  Khi kết thúc việc khai thác nguyên liệu, người sử dụng đất có trách nhiệm trả lại đất đúng với trạng thái được quy định trong hợp đồng thuê đất.  

Khác với sản xuất có tính chất quy mô của nhà máy, xí nghiệp, tại làng nghề đất ở và đất sản xuất không phân biệt. Chính bởi tính chất sản xuất là tiểu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nên ở các hộ nghề trong làng nghề nơi sinh hoạt, ăn ở...cũng đồng thời là cơ sở sản xuất. Nhà ở, bếp, kho chứa nguyên liệu, vật liệu, nơi sản xuất và nơi lưu giữ bảo quản sản phẩm quá gần nhau. Đan xen giữa hai chức năng sản xuất và sinh hoạt làm cho tổ chức cuộc sống trong mỗi gia đình không ổn định.

Tiếng ồn, khói, bụi, mùi hoá chất... không những làm ảnh hưởng đến đời sống, sức khoẻ trực tiếp các thành viên trong gia đình  trong làng nghề mà còn tác động đến cộng đồng xung quanh khu vực làng nghề, cụm công nghiệp.

Bên cạnh yếu tố tích cực là góp phần làm ra sản phẩm phục vụ đời sống xã hội thì những tồn đọng của các chất phế thải chưa được xử lý triệt để của làng nghề hiện nay đang làm nhiều cấp chính quyền địa phương lúng túng. Để xử lý hậu quả, Nhà nước cần đầu tư nhiều tiền vốn, công sức mới có thể từng bước thay đổi diện mạo của làng nghề. Con đường gốm sứ Việt Nam là tác phẩm nghệ thuật đó đem lại vẻ đẹp cho Thủ đô Hà Nội. Nhưng đồng thời, các bức tranh gốm sứ tạo nên con đường đó đó sử dụng một phần những sản phẩm phế thải, sành, sứ vỡ, sản phẩm hỏng được thải ra từ làng nghề Bát tràng, qua bàn tay, trí tuệ và con mắt nghệ thuật của những con người tài hoa của Dự án “Con đường gốm sứ Việt Nam ”đó làm cho con đường ven sông Hồng, chân cầu Chương Dương  một sức sống mới, một vẻ đẹp truyền thống được bảo tồn trong thời đại mới,  xưa nay hiếm có.

Như vậy, quy hoạch đất đai nhằm bảo vệ môi trường làng nghề đóng vai trò lớn trong phát triển xây dựng nông thôn Việt Nam. Nó có ý nghĩa kinh tế-văn hoá -xã hội. 8 Quy hoạch giúp cho các vùng, làng xã, thôn xóm, phố phường phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, điều kiện địa hình, điều kiện xã hội, sức sáng tạo của mọi tầng lớp dân cư. 

Làng nghề truyền thống là thực thể vật chất và tinh thần tồn tại. Nó có tính lan toả và sức sống mãnh liệt của nghề thủ công lâu đời của đất nước ta cũng như Nhật bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Malayxia, Hàn Quốc...Người sử dụng đất có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.(9)

Bảo vệ môi trường trong làng nghề,  “Một khi làng nghề thủ công có được khu sản xuất tách biệt, có công nghệ xử lý chất thải, thì cấu trúc sinh thái kiến trúc của làng trở về với cấu trúc truyền thống của nhà ở nông thôn, nhưng quy mô lớn hơn’’(10). 

(phần tiếp theo xem tiếp số sau)

1)Xem: Vũ Đình Hoè, Hồi ký Thanh Nghị, ( Vũ Đình Hoè- Cử nhân Luật, nhân vật nổi tiếng của báo Thanh Nghị)  Nxb Văn học Hà Nội 1997,tr318 
(2)Xem:  Nhất Thanh, Làng xóm, Sử địa. Số 17-18.Nhà sách Khai trí , Tr49(Làng Việt nam có 4 loại.Làng nông nghiệp:là làng thuần nông ở miền Bắc hoặc làng vườn ở Nam Bộ;Làng buôn: là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn của một số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp;Làng nghề là làng làm nghề nông có thêm nhiều nghề thủ công; Làng chài: là làng của các vạn chài, kẻ chài ở ven sông, ven biển.
(3) Xem: Doãn Hồng Nhung – Chủ biên- Nguyễn Thị Bình , Lưu Trần Phương Thảo, Nguyễn Hà Nhật Chi (2020) Pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở Việt Nam – Sách chuyên khảo -  tái bản lần thứ nhất có sửa chữa, bổ sung. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia  Hà Nội. 
(4)Xem :Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX. Nhà xuất bản  Chính trị  Quốc gia Hà Nội . H 2002, tr106-107.
 (5)Xem : Nguyễn Huy Côn “Môi trường nông thôn tại các làng nghề truyền thống”. Tạp chí Xây dựng BXD Số 5/2002, tr44.
 (6)Doãn Hồng Nhung (2002), Vấn đề quy hoạch xây dựng làng nghề trong soạn thảo quy phạm pháp luật xây dựng, Tạp chí Xây dựng, Bộ Xây dựng, số 11/2002, trang 11-13.
 (7) Xem: Doãn Hồng Nhung (2002), Quy hoạch xây dụng làng nghề nông thôn Việt Nam – Một số vấn đề nghiên cứu khi soạn thảo Luật Xây dựng, Báo Xây dựng - Bộ Xây dựng, tháng 10/2002 (số 22), trang 10-11.
 (8)Xem: Doãn Hồng Nhung (2018), Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
 (9) Xem: Khoản 2,  Điều 6  Luật  Đất đai năm 2013
 (10) Xem : KTS Nguyễn Luận “ Làng sinh thái cho các quần cư nông thôn” Tạp chí Kiến trúc Số 2(94) 2002. tr41.
PGS. TS. Doãn Hồng Nhung
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
vinpearl