Thứ sáu, 14-01-2022 | 10:12GMT+7

Cao Bằng: Đồng Giao giữ gìn nghề đan cót truyền thống

LNV - Đến với huyện Quảng Hòa, ngoài phong cảnh hữu tình, nơi đây còn được biết đến với nhiều làng nghề truyền thống của các dân tộc. Trong đó, xóm Đồng Giao, xã Chí Thảo nổi tiếng với nghề đan cót truyền thống.
Không náo nhiệt, ồn ào như nhiều làng nghề truyền thống khác, làng nghề đan cót Đồng Giao khá yên ắng bởi tất cả các công đoạn sản xuất đều được làm thủ công từ đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Bà Ma Thị Thời, 60 tuổi, là người đan cót lâu năm nhất trong làng, tay vừa thoăn thoắt đan chẻ lạt, vừa kể cho chúng tôi nghe về truyền thống làng nghề. Trước đây, bà con đan cót không kể sớm tối hay mùa màng, cứ rảnh rỗi lúc nào là đan lúc đó. Nghề đan cót đến với người dân Đồng Giao như một cơ duyên. Chẳng biết tự khi nào, nhà nhà đều làm nghề, rồi các thế hệ trong gia đình truyền nghề cho nhau. Những gia đình có khuôn viên rộng rãi, mọi người cùng đan và trò chuyện vui vẻ, tạo thành nơi sinh hoạt cộng đồng.
 

Hằng ngày, người cao tuổi xóm Đồng Giao, xã Chí Thảo (Quảng Hòa) vẫn miệt mài đan cót.

Nghề đan cót là nghề thủ công đơn giản, nguyên liệu chính làm từ cây nứa. Thời kỳ thịnh vượng nhất của làng nghề từ thập niên 90 đến những năm 2000, cả làng ai cũng làm nghề bởi khi ấy nhà nào cũng khó khăn nên ai cũng đan cót để sử dụng. Ở Đồng Giao, người dân thường đan hai loại cót, một loại đan bằng lạt xanh - phần vỏ của cây nứa được dùng để nằm, còn loại lạt trắng - phần lõi của cây nứa được sử dụng để phơi ngô, phơi thóc hoặc trải sàn nhà. Nứa phải vừa già tới và óng ả, như vậy sản phẩm mới bền, đẹp, không bị mốc.

Vì hoàn toàn làm thủ công nên một tấm cót hoàn chỉnh cần nhiều công sức, từ chẻ lạt, đan cót. Công đoạn chẻ lạt là quan trọng nhất, bởi lạt quyết định độ bền, đẹp của tấm cót, chẻ lạt có độ vừa phải, đều, nếu không tấm cót không chắc, không đẹp. Dao phải sắc chẻ lạt mới chuẩn, lạt không mỏng quá cũng không dày quá. Làm không quen thì chẻ lạt sẽ bị cắt vào tay. Để làm được một tấm cót đẹp cần 15 cây nứa, 15 cây này chẻ thành 3 ba loại lạt khác nhau. Phần vỏ xanh chẻ riêng để đan cót nằm, phần lõi màu trắng bên trong đan riêng làm cót phơi ngô, phơi thóc.

Cây nứa sau khi được tuyển chọn kỹ lưỡng, mang về chẻ thành lạt và đan, không qua công đoạn ngâm nước hay xử lý bằng phương pháp hóa học, do đó sản phẩm thân thiện với môi trường, bền, đẹp, sử dụng được hàng chục năm; còn tấm cót phơi ngô, phơi thóc bình quân dùng được 5 năm.

Trong công đoạn đan thì đan phần mép ngoài của tấm cót là quan trọng nhất, quyết định đến phần chắc chắn của tấm cót, nếu phần góc ngoài đan không cẩn thận tấm cót sẽ bị gãy hoặc các đầu lạt sẽ bị tuột. Để hoàn thiện phần mép ngoài tấm cót phải lật lại tấm cót để đan và uốn lại, giấu đi đầu cây rồi cắt những đầu cây dài thừa ra. Phải uốn 2 lượt, cắt đầu phải dùng dao sắc, chuẩn để không bị đứt tấm cót.

Những tấm cót được người dân xóm Đồng Giao, xã Chí Thảo (Quảng Hòa) dùng để phơi thóc.
 
Ở Đồng Giao, người dân chủ yếu vẫn làm nông nghiệp nên bà con thường gọi đan cót là nghề phụ. Gọi là “phụ” nhưng các gia đình tập trung làm một tuần cũng có thu nhập gần 2 triệu đồng để trang trải cuộc sống gia đình và mua sắm thêm các vật dụng sinh hoạt. Làng Đồng Giao có 57 hộ thì có 11 hộ đan cót. Nhà bà Thời đan nhiều nhất xóm bởi cả 2 vợ chồng cùng đan nên số lượng nhiều hơn các nhà khác, bình quân một năm gia đình bà đan trên 100 tấm cót. Tấm cót để nằm giá trung bình 900.000/tấm, tấm cót dùng để phơi ngô, phơi thóc khoảng 400.000 - 450.000/tấm. Tùy kích thước to nhỏ theo nhu cầu khách hàng đặt mà giá cả cũng có sự chênh lệch.

Khoảng mười năm trở về trước, nghề đan cót phát triển mạnh, hiện nay do điều kiện phát triển kinh tế, sự mở rộng của các khu công nghiệp mà thanh niên trong làng đi làm công nhân tại các tỉnh miền xuôi. Bởi vậy nghề đan cót cũng mất đi lực lượng lao động chính, tuy nhiên nghề đan cót vẫn được duy trì, gìn giữ. Hằng ngày, những người trung niên, cao tuổi vẫn miệt mài đan cót không chỉ tăng thêm thu nhập cho gia đình mà để cho con, cháu biết đến nghề truyền thống của ông cha để lại.     
Bài, ảnh: Phan Huế