Thứ năm, 15-10-2020 | 10:51GMT+7

Mùa mưa rươi

LNV - Thế là lại tới “tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm”. Trong ánh nắng thu vàng như mật ngọt, vừa cảm được cái se lạnh của gió đầu mùa, tiếng rao đầu phố: “Ai mua rươi ra mua…”, chợt như tỉnh thức.
Bao chục năm qua, những đổi thay từng ngày của xã hội hiện đại khiến ký ức gợi nhớ từ tiếng rao ấy đã dần rơi vào dĩ vãng, chìm khuất trong nhịp sống ồn ào của phố thị. Nhưng món ăn được chế biến từ con rươi từ sự tinh tế của người Hà Thành và những âm thanh lảnh lót của người bán rươi trên phố nhỏ Hà Thành xưa vẫn còn lưu giữ mãi trong tôi.

Năm nào cũng vậy, cứ qua tiết trung thu, tôi lại hẹn bạn bè chuẩn bị mời nhau bữa chả rươi. “Tứ thời bát tiết” ở xứ mình mùa nào tiết nào hầu như cũng có món ngon đặc sắc rải rác luân phiên khắp các vùng miền. Nhưng, hễ nghĩ thêm một tí lại thấy lạ: Chẳng phải sự vật hay cây con hay món ngon nào cũng được đi vào ca dao thành ngữ tục ngữ. Con rươi là một sản vật trong số không nhiều những món ngon, những sự vật được ưu ái như thế. “Tháng chín mưa rươi, tháng mười mưa cữ.” Tháng chín âm lịch xưa đến nay đều có gió bấc thi thoảng về kèm mưa những cơn dài ngắn khác nhau, nhưng mau hạt hay đôi khi khá lớn, tạo nên một khung cảnh đặc trưng mùa thu miền Bắc, có các điều kiện thuận lợi đặc thù, hầu như duy nhất, để đánh thức “đồng hồ sinh học” của họ nhà rươi ở đồng bằng Bắc bộ.

Cũng là lúc bà con các vùng Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh… rộn ràng cho mùa vớt rươi. Theo kinh nghiệm dân gian, ngày xưa, rươi nổi theo con nước tự nhiên, phụ thuộc tiết trời khi mưa khi nắng, thoắt nóng, thoắt lạnh, cho nên không phải lúc nào cũng có. 

Rươi thuộc một họ giun gọi là giun tơ, rất đông đúc về các chi ngành, mà phần lớn sống ở biển. Loài rươi mềm như bún ngoi lên mặt nước nhờ phù sa vùng Nam đồng bằng Bắc bộ (và một vài vùng lúa khác nữa) là một chi trong cái họ giun kỳ lạ đó. Thực ra hầu hết người ta chẳng biết rươi từ đâu về, trú ẩn ở đâu trước khi nổi lên và đi đâu sau khi biến mất trong nước đục. Từng có người đào đất ở những ruộng có rươi để tìm “ổ” rươi. Nhưng không thấy mảy may dấu vết nào.
 

Đấy là của trời ban. Người ta đi vớt rươi về bán mấy chục ngàn một lạng chẳng bao giờ lo bị đánh thuế tài nguyên. Trong dân gian gọi rươi là rồng đất. Và mỗi vùng miền có rươi đều có nhiều cách gọi khác, từ chữ nghĩa đến thông tục: Hoà trùng, bách cước, thổ hà, tôm đất, sâu đất, sâu lúa…

Cô rao hàng thì vừa  luôn miệng chào mời khách, tranh thủ quảng cáo những là rươi “tẻ”, “rươi nếp”, vừa thoăn thoắt đếm  tiền. Mua rươi, các bà nội trợ sành sỏi thường thích lựa những con rươi còn tươi sống. Những con rươi tươi sống thì thường ngoi lên mặt trên thúng, có lẽ để hít thở khí trời chăng? Bởi vậy, lớp rươi trên, gọi là “rươi mặt” ấy rất quý. Song không cô hàng rươi nào lại dại dột xúc toàn rươi mặt mà bán cho khách. Dẫu khách có trả hơn tiền đi chăng nữa. Thế còn rươi đáy thúng, bán cho ai?.
 

Người thưởng thức món rươi cũng không phải muốn mua là mua được. Mùa rươi chỉ có ít ngày, ai lỡ nghiện rồi thì phải tranh thủ, tranh thủ để được lắng nghe cả những tiếng rao… Bây giờ, nuôi rươi là nghề mang lại thu nhập khá cho nông dân một số vùng. Công nghệ và điều kiện hiện đại giúp người nội trợ có thể trữ rươi quanh năm. Các món ngon từ rươi được người nội trợ mỗi vùng, miền chế biến và sáng tạo theo những công thức, gia giảm khác nhau. 

Với người Hà Nội, rươi vẫn luôn là đặc sản với cách chế biến riêng. Mớ rươi sắc mầu, tươi rói, qua bàn tay khéo léo, và gu thưởng thức tinh tế sẽ cho những món ăn đậm nét văn hóa ẩm thực Hà thành. Bởi vì rươi thì có đến dăm bẩy món ăn. Nhưng không món nào có thể thiếu được được thứ gia vị quan trọng nhất, ấy là vỏ quýt. Rươi là thức ăn rất giàu đạm, nên người ăn dễ bị đầy bụng, khó tiêu. Vỏ quýt có tên thuốc là trần bì, lại có tác dụng tiêu thực, chống đầy bụng. Nhưng mà cũng không chỉ là vỏ quýt. Còn là hành hoa, thìa là, lá gấc non. Nào chả rươi, mắm rươi, rươi xào củ niễng, rươi đúc trứng… Và có lẽ, mắm rươi là món ăn mang nét đặc sắc ẩm thực Hà Nội hơn cả.

“Một bát rươi mười bát thuốc.” 

Liên quan đến “bát thuốc” có lẽ bởi rươi xuất hiện như một hiện tượng của biến đổi thời tiết. Những lúc ấy trời giở nóng giở lạnh, mưa thảng thốt, nắng oi nồng, người già đau lưng nhức chân, người hen xuyễn khó thở, người đau khớp kêu la, nên cũng có câu rằng: “Lại kẻ ăn rươi lại người chịu khổ!”

Nom nắng ngoài kia hanh hao, bỗng lại muốn nghe tiếng rao lảnh lót. Một chút vị thôi cũng đủ để nhớ mùa thu Hà Nội với những khoảnh khắc giao mùa… 
Bài và ảnh: Doãn Ngọc
qq