Thứ năm, 07-10-2021 | 10:33GMT+7

Đặc sản Tây Bắc ngon bởi những gia vị đặc biệt

LNV - Tây Bắc khá rộng lớn gồm có 6 tỉnh miền Bắc đó là Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu. Đến với vùng núi Tây Bắc không chỉ được chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa tươi đẹp của nơi đây mà còn có cơ hội được trải nghiệm văn hóa đặc sắc thông qua phong tục tập quán và ẩm thực phong phú. Mỗi tỉnh đều có những món ăn đặc sản, làm nên những món ăn đặc sắc mang hương vị riêng, và trong đó cái không thể thiếu đó là những loại hạt gia vị đặc biệt như hạt dổi, mắc khén...
Mắc khén

Mắc khén (hay còn được nhiều người gọi là tiêu rừng) là một loại gia vị đặc trưng và rất nổi tiếng của vùng Tây Bắc. Mắc khén thường được người dân tộc miền núi Tây Bắc kết hợp với hạt dổi làm gia vị trong hầu hết các món ăn, đặc biệt khi nướng thịt lợn, thịt gà, cá, làm thịt khô hay pha đồ chấm.
 

Mắc khén thường được người dân tộc miền núi Tây Bắc kết hợp với hạt dổi làm gia vị trong hầu hết các món ăn.  

Cũng như hạt dổi, trước mắc khén được người dân tộc miền núi hái về phơi khô. Mắc khén có mùi thơm dịu chứ không mạnh như hạt tiêu, không cay như ớt, mà tạo ra vị tê rần rần nơi đầu lưỡi khi nếm. Ngoài ướp gia vị chúng được dùng pha đồ chấm. Mắc khén là một loại cây thân gỗ thuộc loại to, cao. Đậu hoa và ra quả vào tháng 11 hàng năm, ra hoa dạng chúm giống như hoa xoan. Khi thu hoạch, người dân bẻ nguyên cả chùm rồi đem về phơi hoặc hong khô trên bếp để dùng cả năm.
 

Mắc mật

Mắc mật hay còn gọi là móc mật, mác mật, hồng bì núi cũng là một loại gia vị núi rừng vô cùng nổi tiếng. Mắc mật cũng thuộc cây thân gỗ, trong đó loại cây này có thể sử dụng cả quả lẫn lá non để làm gia vị. Mắc mật có thể sử dụng cả khi tươi và khô, trong đó mùi thơm tập trung chủ yếu ở lá cây. 

Trên thực tế, mắc mật được sử dụng trong rất nhiều món ăn vùng cao, mà phổ biến nhất là vịt quay và lợn quay Lạng Sơn. Ngoài ra, lá và quả mắc mật cũng được dùng để ngâm măng chua, rất bắt vị. Quả mắc mật hơi giống hồng bì như nhỏ hơn. Khi quả còn tươi có vị hơi chua ngọt, có thể ăn tươi hoặc dùng làm gia vị ướp, nấu hoặc ngâm trong một số món ăn. Hoặc người ta có thể sấy khô rồi nghiền nhỏ làm gia vị.

Lá và quả mắc mật cũng được dùng để ngâm măng chua, rất bắt vị.

Hạt dổi rừng

Trong số những loại gia vị này, đắt giá nhất phải kể đến hạt dổi rừng. Trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến hạt dổi rừng ở vùng Lai Châu. Về dổi tự nhiên thì chỉ có cây dổi lâu năm mới có thể cho quả, cho hạt. Hơn nữa, một cây dổi thường mỗi mùa chỉ có vài cân hạt nên dổi rừng rất đắt, một cân có thể lên tới 4 triệu đồng và thậm chí có tiền chưa chắc đã mua được.

Đây là loại loại hạt gia vị được người dân tộc miền núi phía bắc dùng ướp thịt và làm muối chấm thức ăn. Trước muốn ăn chỉ cần đi nhặt hạt dổi ở rừng mang về đựng vào ống nứa cất trên gác bếp. Nhưng 3-4 năm nay chúng trở nên được ưa chuộng nên cứ đến mùa là người dân nơi đây có thu nhập cao, nhờ đi săn hái hạt dổi. 
 

Hạt dổi có 2 loại là hạt dổi nếp và tẻ. Loại hạt kích cỡ nhỏ có màu vàng và đen, ăn rất thơm là dổi nếp. Loại hạt to là dổi tẻ, có màu đen nhưng không thơm bằng hạt dổi nhỏ. Cây dổi tẻ có lá xanh và to hơn cây dổi nếp. Loại gia vị này có mùi đặc biệt, khá giống mùi xá xị, hợp để ướp cùng thức ăn.

Chẩm chéo

Chẩm chéo là thứ gia vị khá đơn giản gồm các nguyên liệu giã lẫn như:  muối, tỏi ớt, rau thơm và không  thể thiếu mắc khén. Chẩm chéo được dùng để chấm thịt lợn mán luộc, rau măng đắng hoặc chỉ là để chấm hoa quả cóc, xoài.... Thứ gia vị chẩm chéo này bạn chỉ cần ăn một lần sẽ nhớ mãi.

Từ hương vị của bát chẩm chéo cơ bản, người ta có thể chế biến ra nhiều loại chẩm đa dạng, phong phú để phù hợp với từng món ăn khác nhau như: Chéo pà (chẩm chéo cá). Để làm được một bát chéo pà, người ta đem cá nướng lên rồi giã cùng với chéo cơ bản. Chéo pà có vị thơm nồng, kích thích vị giác dùng để chấm măng tre, măng vầu và rau luộc; 
 

Chéo tắp cáy (chéo gan gà): Chéo tắp cáy thơm ngon đúng điệu được làm từ nguyên liệu chính là gan gà hoặc gan vịt. Người ta đem gan nướng chín trên bếp than để khử mùi tanh rồi cho vào cối, bỏ vào đó một ít lá chanh rồi giã cùng với chéo cơ bản. Chéo tắp cáy dùng để chấm với thịt gà luộc, vịt luộc rất ngon.

Chéo nặm xổm (chéo nước chua): Chéo nặm xổm được làm từ nguyên liệu chính là vừng, cá nướng, nước măng chua. Vừng trắng được rang lên cho thơm vàng rồi đem giã thành bột, cá nướng lên cũng giã cho thật cho thật nhỏ mịn. Sau đó, người ta trộn bột vừng và cá nướng với chéo cơ bản và một ít nước chua. Chéo nặm xổm có vị chua ngọt đậm đà dùng để chấm với rau cải non.
 

Chéo pịa: Có ai ngờ thứ nước đăng đắng của ruột con trâu lại được người dân đem đi biến tấu thành món chéo pịa vô cùng độc đáo. Pịa được đem chưng lên với thịt trâu nhỏ cho dậy mùi thơm. Sau đó, đem pịa giã nhỏ, thêm một ít lá chánh rồi trộn với chéo cơ bản. Chéo pịa có vị đăng đắng, bùi bùi, kích thích vị giác dùng để chấm với thịt trâu luộc, hấp hoặc nướng thì ngon "hết sảy"

Chéo Mak có: Chéo này được làm từ một loại quả chua tên Mak có. Mak có được cắt lấy một phần thịt rồi đem giã với chéo cơ bản (không có mắc khén). Chéo này có vị chua, hơi chát, ngọt ngọt nhè nhẹ dùng để chấm với rau má luộc.

Chéo non đíp: Món chéo này được làm từ quả non đíp - một loại ớt chỉ thiên tươi. Điều đặc biệt của chéo non đíp là người ta không nướng ớt mà đem giã trực tiếp với muối, tỏi, bột ngọt. Chỉ vài bước làm đơn giản là đã có ngay một món chéo cay, ngọt, thanh mát dùng để chấm với mần trầu non.

Chéo sắc chaư (chéo củ sả): Sả được xem là linh hồn tạo nên mùi vị của món chéo sắc chaư. Người ta đem sả thái ra rồi giã nhuyễn, thêm một ít lá chanh rồi trộn với chéo cơ bản. Khi nếm thử, bạn sẽ cảm nhận được ngay cái vị cay, thơm và chát hoà quyện trong miệng. Món chéo này được người dân dùng để chấm với lá sắn non, lá vả đồ.

Chéo hòm pẻn (chéo rau mùi): Chéo hòm pẻn được làm từ nguyên liệu chính là rau mùi. Người ta đem chéo cơ bản trộn với rau mùi giã nhuyễn là đã có ngay một bát chéo hòm pẻn dùng để chấm với rau cải đồ và thịt lợn luộc.

Chéo khá (chéo riềng): Chéo riềng được làm từ những lát riềng thái mỏng, thêm chút lá chanh rồi đem giã cùng với chéo cơ bản. Món chéo này mang hương vị đăng đắng, bùi bùi dùng để chấm với măng đắng đồ, nướng hoặc luộc và ăn kèm với một số loại lá như: phăck đứa, phăck chưa khàu, phăck tắp cáy,...

Chéo thúa nâu (chéo đậu tương lên men): Có lẽ trong các loại chéo, chéo thúa nâu là được chế biến một cách cầu kỳ nhất. Để có được bát chéo thúa nâu, người ta đem ngâm hạt đỗ trong nước rồi luộc mềm, đãi cho sạch vỏ. Khi đậu đã ráo nước, họ đem gói vào lá cho lên men. Lúc đậu đã dậy mùi thơm cũng là lúc mang đi trộn cùng với muối, ớt cho hãm bớt mùi hăng lại rồi nặn thành những chiếc bánh, phơi thật khô trên bếp. Để chế biến chéo thúa nâu, người ta chỉ cần nướng bánh trên than cho vàng thơm rồi đem giã cùng với chéo cơ bản là đã có ngay một bát chéo với mùi thơm rất đặc trưng dùng để chấm thịt gà, thịt lợn sữa hoặc măng.
Bài, ảnh: Doãn Ngọc